Home | Tâm thư Tịnh Độ | 65. Tâm là gì ?

65. Tâm là gì ?

Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

Tâm là gì ?

Phật Tử hỏi :

Nam mô A Di Đà Phật

Bạch Thầy con thường nghe quý Thầy nói tu Phật là tu tâm, mà con không biết tâm là gì, ở đâu ? Thế nào là vọng tâm, chơn tâm ? Tu sao gọi là tu tâm ?

Kính xin Thầy từ bi giãi thích cho chúng con rõ.

Thành kính tri ân Thầy,

Nam mô A Di Đà Phật

 

Đáp :

A Di Đà Phật

Cám ơn đạo hữu có câu hỏi rất hay. Tuy ngắn ghọn nhưng rất khó trả lời, vì tâm là "cái" trừu tượng, không hình, không tướng làm sao giải thích "nó" là gì, và chỉ "nó" ở đâu. Đạo hữu hỏi là tôi phải trả lời. Tôi sẽ cố gắng trả lời ngắn ghọn (vì nói nhiều quá đăm ra điên cái đầu). Ở đây chúng ta khảo sát lực dụng (hiện tượng) để biết bản thể (bản chất). Ví như chúng ta nhờ thấy sự cháy của bóng đèn, hay sự chạy của quạt máy mà biết rằng có giòng điện chạy vào, chứ chúng ta đâu thấy giòng điện, phải không ? Vì điện không có hình tướng thì làm sao mà thấy, tâm cũng vậy. Kính xin đạo hữu cũng phải cố gắng kiên trì, động não để hiểu nhé !

1- Tâm là gì ?

  • Hằng ngày chúng ta suy nghĩ, phán đoán, quyết định, thương ghét, vui buồn v.v.. Tất cả những gì thuộc về tinh thần, nhận thức đều gọi là tâm, nhà Phật gọi đó là vọng tâm.
  • Tâm chủ động, chỉ huy tất cả hành vi tạo tác suốt cả đời người, và làm cho cuộc đời trở nên hạnh phúc hay đau khổ.

Đó là nói tổng quát, sau đây sẽ phân tích kỹ hơn :

Giáo lý của nhà Phật rộng sâu như rừng, biển, pháp môn nhiều đến vạn thiên nhưng tất cả đều quy về tâm. Chỉ thuyết minh về tâm thôi mà hình thành một Tông phái gọi là Duy - Thức - Tông hay còn gọi là Pháp - Tướng - Tông. Với những bộ kinh Đại thừa như Bát Nhã, Thủ Lăng Nghiêm, Lăng Già, Kim Cang... đều luận giảng về tâm.

Theo Duy thức học, Tâm có  8 tâm vương và 51 loại tâm sở.

Tám tâm vương như sau :

  1. Nhãn thức hiểu biết bằng con mắt.
  2. Nhĩ thức hiểu biết bằng lỗ tai.
  3. Tỷ thức hiểu biết bằng lỗ mũi.
  4. Thiệt thức hiểu biết bằng miệng lưỡi.
  5. Thân thức hiểu biết bằng toàn bộ phận thân thể.
  6. Ý thức hiểu biết bằng ý căn.
  7. Mạt Na thức hiểu biết qua sự so đo chấp trước.
  8. Tạng thức ( Alaya thức) hiểu biết qua sự tàng trử, bảo trì và xây  dựng.

51 loại tâm sở, phân là 6 nhóm như sau :

  1. Biến hành tâm sở gồm có.......................5 loại
  2. Biệt cảnh  tâm sở gồm có.......................5 loại
  3. Thiện tâm  sở gồm có.............................11 loại
  4. Căn bản phiền não tâm sở gồm có.......6 loại
  5. Tùy phiền não tâm sở gồm có..............20 loại
  6. Bất định tâm sở gồm có...........................4 loại
    (xin đọc chi tiết ở sác Duy thức học)

Tâm chỉ huy suốt cả đời sống con người. Thăng trầm, vinh nhục đều do tâm. Biết nhân định chánh tà, chân ngụy (giả) đều do tâm.

  • Vọng tâm là phần hiểu biết của phàm phu.
  • Chơn tâm là hiểu biết của Phật.

Phàm phu sống theo vọng tâm tham lam, sân hận, si mê, ích kỷ, đắm đuối với danh lợi, ái ân, trần cảnh, ngũ dục (sắc, tài, danh, thực, thùy) của thế gian. Được, còn cảnh thạnh thì vui.  Mất, suy cảnh tàn thì buồn. Buồn vui theo cảnh, bị động theo duyên trần là vọng tâm.   

Đạt được lý sắc không, chẳng tham đắm cảnh trần mộng huyễn, tự tại trước cuộc đời thịnh suy, tan hợp thì đó là chơn tâm, tức là tâm Phật. Tâm Phật thì giác ngộ không đắm nhiễm, mê chấp Tâm Phật thì từ bi, hỷ xả, lợi tha, bình đẳng, tự tại, giải thoát, an nhiên trước cảnh còn mất.

Nhận định rõ tâm biết đâu là chơn, là vọng. Thật sống với chơn tâm là người đã đạt đạo, chứng quả. Tâm địa một khi không còn phân biệt đắm nhiễm duyên trần, mà thể nhập với pháp tánh bao la hòa đồng với vũ trụ, không còn hạn hẹp trong giả tướng còn mất, thịnh suy ấy là chơn tâm.

Chơn  tâm thì tự tại vô ngại, không còn chấp trước phân biệt nhân ngã, đây kia, mất còn, tốt xấu, thương ghét,.. đây  chính là tâm Phật.

Kinh Hoa nghiêm nói : "Tâm, Phật, Chúng sanh tam vô sai biệt. Mê thị chúng sanh, ngộ tức Phật". Nghĩa là tâm ta, tâm Phật và tâm chúng sanh cả ba đều không sai khác. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật.

Tâm mê là tâm vọng động. Tâm ngộ là tâm thanh tịnh. Đủ biết phàm phu tục tử khổ lụy, đọa đày đều do tâm. Thánh nhân từ bi giải thoát tự tại cũng đều do tâm.

  • Kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói : "Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh". Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Nhưng chúng sanh không thắng nổi dục vọng (lòng ham muốn hư dối, không có thật tánh), không khắc phục được loạn động của phàm tâm, nên tâm bị lu mờ, không hiện bày. Chẳng khác nào nước biển vốn im lặng, bi gió thổi, chao động mà thành sóng. Chúng sanh, tâm vốn thanh tịnh mà bị nhiễm ngũ dục thế gian  (sắc, tài, danh, thực, thùy) mà sanh phiền não buộc ràng.

  • Tâm Phật như trăng sáng, trăng mờ bị mây. Tâm Phật như gương sáng, gương lu bởi bụi trần. Gió thổi mây bay, trăng trở lại sáng, Lau sạch bụi thì gương trong. Mây, bụi có đến đi, còn mất, tánh sáng của trăng, gương muôn đời vẫn sáng. Không vì mây, bụi mà bản chất sáng của trăng, gương hoen ố. Cũng vậy, Phật tâm muôn đời sáng suốt giác ngộ, vẫn tồn tại nơi chúng sanh. Nhưng chúng sanh mê chấp, lại giong ruổi theo dục tình (buồn giận, thương ghét...), trần cảnh (thạnh suy, còn mất, ...) mà quên đi Phật tâm nơi mình, giong ruổi truy cầu, không trở về sống lại với bản tâm, Phật tánh thường tại nơi mình. Như đứa con nghe lời dụ dỗ cùa bạn ác (dục tình, trần cảnh) bỏ cha mẹ ra đi sống lang thang thành kẻ cùng tử. Như đứa trẻ được cha mẹ dấu ngọc (chơn tâm Phật tánh) trong vạt áo mà không biết, lại đi ăn xin đầu đường xó chợ. Cũng vậy, mỗi chúng sanh đều có chơn tâm Phật tánh nơi mình, nhưng không chịu sống với Phật tâm chơn tánh, để được tự tại giải thoát an vui, mà lại đắm đuối chạy theo vọng thức, bị ngũ dục ái ân, danh lợi, tình đời cuốn lôi nhận chìm, trầm luân khổ hải muôn kiếp không dứt.

  • Đức Phật thương xót kiếp trầm luân của muôn loài, nên Ngài thốt ra lời tâm nguyện trong kinh Pháp Hoa : "Ta ra đời vì một đại sự nhân duyên lớn. Đó là khai mở chỉ bày cho chúng sanh thấy rõ Phật tánh, chơn tâm để ngộ nhập tri kiến Phật của chính mình". Nên Đức Phật đã dành suốt 49 năm cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, thức tĩnh người đời giác ngộ, để quay về chơn tâm Phật tánh của chính mỗi người.

Chúng sanh vì đắm mê ngũ dục, sống theo vọng thức, tham lấy cái giả, mà đành xa lìa chơn tâm, bỏ đi cái thường lạc tự tại, nên phải vùi sâu kiếp kiếp trầm luân.

Tóm lại, nói một cách ngắn ghọn là: Tất cả sự nhận thức phân biệt hàng ngày của ta là hình bóng của tâm hay là vọng tâm. Chừng nào đối với ngũ dục lạc (sắc, tài, danh, thực, thùy) không sanh tâm đắm nhiễm, không vui buồn phiền khổ theo sự thạnh suy, mất còn, vinh nhục...(trần cảnh), ấy là chơn tâm. Hay nói cách khác không mê chấp là chơn tâm.

2- Tâm ở đâu ?

  • Trong kinh Lăng Nghiêm, A Nan Tôn Giả đã bao phen bối rối khi Đức Phật hỏi tâm ở đâu ? Đủ thấy tâm mật ảo vi diệu đến là dường nào.
  • Chân tâm không hình, không tướng nhưng rộng khắp hư không, trùm khắp pháp giới.
  • Vì không hình, không tướng nên không thấy Tâm ở đâu. Vì rộng khắp hư không, trùm khắp pháp giới nên chỗ nào cũng có Tâm (tâm ở khắp mọi nơi).
  • Chư Tổ nói : Ta Bà ở trong tâm ta. Cực Lạc cách đây mười vạn ức cõi Phật vẫn ở trong tâm ta. Tuy thân sống ở Ta Bà mà tâm hiện có mặt ở Cực Lạc (duy tâm Tịnh độ), do vậy vãng sanh không khó, trong nháy mắt là đến Cực Lạc.

3- Tu sao gọi là tu tâm ?

Tu là sửa. Tu tâm là sửa (chuyển hóa) vọng tâm trở về chơn tâm, hầu mau giác ngộ giải thoát.

Mỗi Tông phái có cách tu khác nhau. Tịnh độ tông thì tu như sau :

  • Chư Tổ dạy miệng niệm Phật tâm phải có Phật, nghĩa là tiếng ở đâu tâm phải ở đó, tâm tiếng khắn nhau.
  • Kinh Lăng Nghiêm dạy : "Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, đắc Tam Ma Địa (Nhất Tâm Bất Loạn) Đây là bậc nhứt".
  • Kinh Di Giáo dạy : "Tâm là chủ năm căn. Thế cho nên các ông phải khéo chế ngự tâm .Tâm thật đáng sợ, đáng sợ hơn cả rắn độc, thú dữ, giặc cướp, lửa to".
  • Nhiếp trọn sáu căn là mắt tai mũi lưỡi thân ý không dính mắc sáu trần là sắc thinh hương vi xúc pháp, nhờ vậy mà sáu căn không bị nhiễm ô, đây là chế ngự tâm, nên tâm được thanh tịnh.
  • Gìn giữ tâm ý một ngày phước đức vô lượng như kinh Mạ-Ý dạy : "Làm trăm ngôi chùa Phật không bằng làm sống một người. Làm sống người trong mười phương thiên hạ không bằng gìn giữ tâm ý một ngày".
  • Tịnh niệm nối tiếp thì vọng niệm, vọng tưởng không khởi lên được, thế là tâm được thanh tịnh.
  • Như trên đã nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh nhưng bị dục vọng và loạn động che mờ, nên Phật tánh chơn tâm không thể hiện bày. Niệm Phật, một lần xưng danh hiệu Phật là một lần đánh thức Ông Phật tự tánh của chính mình và nhờ công đức oai thần của Thánh hiệu giúp cho thân tâm hành giả dần dần thanh tịnh (Kinh Niệm Phật Ba La Mật).

Tổ thứ chín Ngẫu Ích đại sư dạy, hành giả niệm Phật là tu Tam vô lậu học (Giới Định Huệ) và tu Lục độ (Bồ Tát hạnh) như sau :

 Người chơn niệm Phật :

  1.  buông bỏ cả thân tâm thế giới là đại bố thí;
  2. không còn khởi tâm giận mê là đại trì giới;
  3. không so đo phải quấy hơn thua là đại nhẫn nhục;
  4. không gián đoạn xen tạp là đại tinh tấn;
  5. không để vọng tưởng buông lung là đại thiền định;
  6. không bị đường lối khác làm  mê hoặc là đại trí huệ.

Đây cũng là pháp tu giúp tâm được thanh tịnh. Mà Tâm thanh tịnh thì chơn tâm Phật  tánh hiển lộ, vãng sanh Thượng Phẩm.

A Di Đà Phật

Thêm tin, bài này vào Mạng xã hội của quý vị: Add to your del.icio.us del.icio.us | Digg this story Digg



  • email Email quý vị giới thiệu bài này
  • print Bản dành để in ra
  • Plain text Text