Home | Tâm thư Tịnh Độ | 68. Nhẫn nhục

68. Nhẫn nhục

Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

Nhẫn nhục

Phật Tử hỏi :

Nam mô A Di Đà Phật

Kính thưa Thầy,

Con nghe quý Thầy nói người tu, hạnh trọng yếu phải tu đó là hạnh nhẫn nhục, nhưng chúng con chưa rõ ý nghĩa và lợi ích của hạnh này.

Vậy kính xin Thầy hoan hỉ giải thích cho chúng con rõ.

Thành kính tri ân Thầy.

Nam mô A Di Đà Phật

 

Đáp :

A Di Đà Phật

Tôi sẽ lần lược góp ý như sau :

1- Định nghĩa :

Nhẫn là nhường nhịn, chịu đựng mà không hờn giận oán trách;
Nhục không có nghĩa là mình bị nhục như nhiều người lầm tưởng, mà là chấp nhận sự nhục.

2- Sau đây tôi sẽ trích dẫn lời Đức Thế Tôn, chư Thầy, Tổ và Cổ Đức dạy :

  • Kinh Hoa nghiêm : Bồ Tát nhẫn chịu tất cả điều ác, đem tâm bình đẳng hướng đến chúng sanh. Như mặt đất bằng phẳng không giao động.

  • Kinh Trung A Hàm : Nếu lấy sự tranh cãi, để chấm dứt tranh cãi, thì trọn chẳng thể chấm dứt được. Chỉ có nhẫn mới dứt được sự tranh cãi. Pháp nhẫn này mới là tôn thượng.

  • Kinh Chư Pháp Tập Yếu : Như có người bạo ác, phi lý hủy báng nhau. Người trí dùng lời nói chân thành, an nhẫn có thể trừ đó.

  • Kinh Nhẫn nhục : Đức Thế Tôn nói rằng :
        Thà lấy kiếm bén đâm xuyên bụng, cắt thịt xương, nhảy vào lửa.
        Thà đội núi Tu Di, chịu bức hủy thân mạng mình, nhảy vào trong biển cả để cho cá rùa nhai nuốt,
        hãy cẩn thận chớ làm điều ác.

  • Kinh Tỳ Kheo Tỵ Nữ Nhơn Ác Danh :
        Khinh thị chúng sanh không thành pháp hạnh xuất gia.
        Người nhơn đức phải nhẫn chịu tiếng ác thượng trung hạ, giữ lòng kiên cố, đó là pháp xuất gia.
        Chỉ do người khác nói thì không thể làm ông trở thành kẻ giặc.
        Lại do người khác khen tặng cũng không thể khiến cho ông trở thành A La Hán.
        Nếu ông tự biết lấy, các Trời vẫn biết ông.
  • Luận Trí Độ :
        Bồ Tát trong trăm ngàn vạn kiếp chịu điều mắng nhiếc, cũng chẳng sanh lòng giận.
        Lại cũng trăm ngàn kiếp được xưng tán cũng không vui mừng.
        Đấy là hiểu rõ lời nói của người.
        Tiếng là sanh diệt, như mộng như âm hưởng.

  • Kinh Bảo Tích : Nhẫn có mười việc :
  1. Một là quán tướng ngã và tướng những vật mình có.
  2. Hai là nghĩ đến giống người của mình.
  3. Ba là phá trừ kiêu mạn.
  4. Bốn là không báo thù điều ác.
  5. Năm là quán tưởng vô thường.
  6. Sáu là tu từ bi.
  7. Bảy là tâm không buông lung.
  8. Tám là xả bỏ những việc đói khát khổ vui.
  9. Chín là đoạn trừ sân hận.
  10. Mười là tu tập trí huệ.

             Nếu người nào thành tựu được mười việc trên đây, nên biết rằng người đó hay tu được pháp nhẫn.

  • Kinh Hoa nghiêm : Bồ Tát thường hay tu pháp nhẫn nại, khiêm tốn, cung kính, hòa nhã, không làm hại mình, không làm hại người, không đề cao mình, không đề cao người, không tán thán mình, không tán thán người. Bồ Tát chỉ khởi niệm này, ta phải thường thuyết pháp, lìa tất cả ác, khiến đoạn trừ tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, loạn tâm, keo kiệt, đố kỵ, dèm pha, dua nịnh. Lấy pháp nhẫn lớn để an lập.
    Bố Tát thành tựu Pháp nhẫn thanh tịnh. Giả sử có chúng sanh nào dùng lời thô ác mắng nhiếc, mạ lỵ, khinh chê, tay cầm dao gậy đánh đập hủy hoại, Bồ Tát không giận hờn, nên khởi niệm như vầy : Tôi nếu vì khổ mà sanh lòng giận hờn, thế là mình tự không điều phục, không thủ hộ, không hiểu rõ, không tịch tịnh, không chơn thật. Làm thế nào được tâm hoan hỷ, khiến được giải thóat. Quán sát như thế, gọi là Bồ Tát thực hành hạnh không oán hận.

  • Kinh Bát Nhã : Không hủy nhục tất cả chúng sanh gọi đó là nhẫn nhục Ba La Mật. Thân mình bị phá hoại cũng không sân, gọi đó là thân cận Ba La Mật. Thuyết pháp khiến phát Tâm Bồ Đề, gọi đó là chân thật Ba La Mật. Thành tựu được ba thứ này, gọi đó là Nhẫn nhục (Sàn Đề) Ba La Mật.

  • Kinh Hoa Thủ : Sau khi Đức Như Lai diệt độ, nếu có người hủy báng Phật, Pháp, Tăng, các đệ tử của ta chớ nên buồn não, sân hận, mà nên khởi niệm này : Chúng ta nếu sanh tâm sân hận, thì chẳng phải là bậc sa môn, chẳng phải là pháp sa môn, chẳng thuận theo đạo giác ngộ.

  • Kinh Pháp Cú : Tự chế được giận tức, như làm ngừng được chiếc xe đứt thắng đang chạy, đó là hay khéo chế ngự, bỏ tối vào sáng.

  • Kinh Pháp Cú : Phẩn nộ không thấy Pháp. Phẩn nộ không thấy Đạo. Nếu hay trừ phẩn nộ, phước lành thường thuận thân.

  • Luận Nhiếp Đại Thừa: Nhẫn có thể sanh được hòa bình giữa mình và người. Tự thân không bị lỗi lầm sân hận làm nhiễm, tức là tự thân hòa bình. Đã không uất hận, không làm người khác buồn khổ, tức là người khác được hòa bình.

  • Kinh Đại Tập : Người nhẫn chiêu cảm được phước báu thù thắng. Người nhẫn là đang bước trên đường thiện. Nhẫn được trường thọ. Nhẫn đạt thành, bố thí, trì giới, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.

  • Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội : Phật dạy rằng : Nếu Bồ Tát trụ ở pháp hạnh từ nhẫn thì có được mười món lợi ích. Những gì là mười :
  1. Một là lửa không thể cháy.
  2. Hai là dao không thể cắt.
  3. Ba là độc không thể trúng.
  4. Bốn là nước không thể trôi.
  5. Năm là quỷ thần hộ vệ.
  6. Sáu là  được thân tướng trang nghiêm.
  7. Bảy là đóng các đường ác.
  8. Tám là tùy theo ưa thích mà sanh về cõi Trời Phạm Thiên.
  9. Chín là ngày đêm thường an lành.
  10. Mười là thân không lìa an vui.
  • Kinh Di Giáo : Nhẫn là đức, trì giới khổ hạnh chẳng sánh bằng. Người thực hành hạnh nhẫn nhục được gọi là người có sức mạnh của bậc đại nhân.

  • Kinh Nhẫn Nhục : Nhẫn là :
    • sáng hơn cả mặt trời mặt trăng,
    • sức của rồng voi, tuy gọi là hùng mạnh, so với sức mạnh của nhẫn, vạn lần không bằng một.
    • sắc lóng lánh của bày báu, kẻ phàm tục quý chuộng, nhưng lòng ưu tư, gây nên tai hoạn.
    • cái quý báu thỉ chung an lành.
    • bố thí mười phương, tuy có phước lớn, nhưng phước ấy không bằng nhẫn.
    • ôm nhớ điều nhẫn, làm việc nhân từ, đời đời không oán, trong lòng an vui, trọn không độc hại.
    • đời không nơi nương tựa, thì chỉ có nhẫn là có thể cậy nương.
    • làm an vui nhà cửa, tai ương quái đản không sanh.
    • áo thần bằng đồng dầy, chúng binh không xâm nhập.
    • thuyền lớn có vượt nạn.
    • thuốc hay, hay cứu mạng người.
    • ý chí, không nguyện nào chẳng được.
  • Kinh Bồ Tát Sanh Địa : Hảnh của Bồ Tát, nhẫn nại là gốc. Nhẫn nại có bốn :
  1. Một là chịu đựng người mắng nhiếc, im lặng không báo thù.
  2. Hai là bị đánh đập không hận.
  3. Ba là người làm mình giận tức, lấy từ bi mà hoan nghinh.
  4. Bốn là bị người khinh chê hủy báng không nghĩ đó là xấu ác.
  • Cổ Đức nói : Nhịn một câu, sóng yên, biển lặng. Nhường một bước biển rộng, trời cao.

  • Thiền sư nói :
    Im lặng không phải là câm
    Im lặng là để quán tâm của mình
    Im lặng không phải bất bình
    Im lặng là để khỏi sinh trùng trùng
    Im lặng là để sống đại hùng
    Thắng mình hơn thắng ngàn quân bên ngoài
    Im lặng chẳng hơn thua ai
    Im lặng là để tâm này thênh thang

  • Cổ Đức dạy :
    Con quyết tu chi chi cũng nhịn
    Nhịn nhịn hoài nhịn mãi con ơi !
    Chẳng phải là nhịn ba lần thôi
    Mà nhịn mãi đến thành Chánh Giác.  

3- Tóm lại :

  • Nhẫn là :
    • không nói, nghĩ, làm điều ác.
    • phá trừ sân hận, oán thù, kiêu mạn.
    • tu tâm từ bi.
    • tâm không buông lung.
    • chịu đựng, vượt qua mọi trần cảnh vinh nhục, khổ vui...
  • Lợi ích của hạnh nhẫn :
    • Đạt thành Lục độ (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ).
    • Chiêu cảm phước báo thù thắng.
    • Có sức mạnh của bậc đại nhân.
    • Đóng các đường ác.
    • Tùy theo ưa thích mà sanh về cõi Trời Phạm Thiên.
    • Thân tướng trang nghiêm.
    • Trường thọ.
    • Quỷ thần hộ vệ.
    • Ngày đêm thường an lành.
    • Nước,lửa, gươm đao, thuốc độc không thể làm hại.
    • Có ý chí sắt đá, không nguyện nào chẳng thành.

A Di Đà Phật

Thích Minh Tuệ

Thêm tin, bài này vào Mạng xã hội của quý vị: Add to your del.icio.us del.icio.us | Digg this story Digg



  • email Email quý vị giới thiệu bài này
  • print Bản dành để in ra
  • Plain text Text