Tông Chỉ Tông Tịnh Độ (TT)

_(Chú Ý: Góc dưới bên trái bài viết có 2 dấu hiệu + – để điều chỉnh cở (size) chữ. Nếu cần, kính xin quý vị hãy bấm vào đấy, cở chữ sẽ to, nhỏ theo ý quý vị muốn. Thành kính cám ơn quý vị, A Di Đà Phật)

Phật A-di-đà nói:

Ta là Phật đến cứu bạn, Ta thành Phật là vì muốn cứu độ bạn, bạn hãy tin vào sự cứu độ của Ta. Bạn tin nhận sự cứu độ của Ta, bạn sẽ có an lạc, bạn sẽ được an ủi’.

       Ta thệ thành Phật để thực hiện nguyện này
       Tất cả những người đang lo âu, sợ hãi, đều được an lạc.

Đây là nói về Đức Phật A-di-đà phát nguyện.

Nguyện thứ mười tám là niệm Phật vãng sanh nguyện. Người cần được cứu là tất cả những người đang lo âu, sợ hãi, Đức Phật khiến cho chúng ta được an lạc, đó là ‘chúng sanh an lạc, Ta an lạc’.
       Nói ‘chí tâm tin mộ’ có phải là đặt điều kiện đối với chúng ta? ‘Ta cứu bạn, bạn hãy tin Ta’, không thể nói đây là điều kiện.

‘Muốn sanh về cõi nước của Ta’ nghĩa là ‘bạn muốn sanh về Tịnh độ của Ta’. Vì sao? ‘Thế giới Ta-bà là nơi tụ tập người ác, nghiệp ác, phiền não ác, ở đây thì mãi mãi phải chịu khổ, chịu nạn; Ta muốn cứu bạn đến tịnh độ của Ta’. Vì thế, trong tông chỉ nói:

Nguyện sanh Di-đà Tịnh độ.

Câu ‘muốn sanh về cõi nước của Ta’ là lời của Phật A-di-đà kêu gọi chúng ta, chẳng phải là điều kiện. Đức Phật A-di-đà chủ động kêu gọi: “Bạn hãy đến tịnh độ của Ta”.

Chúng ta ở đây nói: “Tôi muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc ở phương tây, tôi muốn vãng sanh, lúc Phật A-di-đà đến, có thật sự là đến cứu tôi chăng?”, dường như là chúng ta chủ động cầu xin Phật cứu.

Kỳ thật, so với chúng ta, thì Phật còn ân cần tha thiết hơn, Ngài từ kiếp lâu xa bất tư nghị đã kêu gọi chúng ta:

“Mười phương chúng sanh, các bạn hãy đến sanh về Tịnh độ của Ta”. Vậy thì ‘muốn sanh về cõi nước của Ta’ có thể coi là điều kiện sao?

Vậy thì, chúng ta nên nguyện sanh về cõi nước của Ngài.

Chúng ta nguyện vãng sanh, câu ‘muốn sanh về cõi nước của Ta’ này là lời của Phật A-di-đà nói, không coi như điều kiện, mà chỉ cần chúng ta muốn là được.

Tiếp theo có bốn chữ ‘cho đến mười niệm’, ‘cho đến mười niệm’ tức là niệm danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật. Đây cũng chẳng phải là điều kiện. Vì sao? Vì sáu chữ danh hiệu này là thể của công đức, chúng ta muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc ở phương tây, chúng ta không có công đức nên tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện: ‘Chỉ cần bạn tin sự cứu độ của Ta, chỉ cần bạn nguyện sanh về Tịnh độ của Ta…’.

Tuy chúng ta nguyện vãng sanh, nhưng chúng ta không có công đức thì chúng ta làm sao đến cõi nước trang nghiêm của Ngài được. Phật nói: “Không sao đâu! Chỉ cần bạn muốn vãng sanh, Ta sẽ cấp cho bạn công đức, đó là sáu chữ danh hiệu”.

Vì sao cấp cho chúng ta? Nếu khó khăn lắm chúng ta mới đến được Tịnh độ của Ngài thì đó cũng chẳng phải là cứu chúng ta. Điều này giống như chúng ta là kẻ đói sắp chết, đem thức ăn đến cho chúng ta.

Nếu khó khăn mới có được thì giống như đem thức ăn để trên lầu cao, bảo chúng ta lên lấy ăn, chúng ta đói sắp chết, muốn bò lên bò cũng không nổi, muốn đứng dậy đứng cũng không nổi, chúng ta không lấy được. Nếu chủ động đến đưa thức ăn vào miệng chúng ta, đút cho chúng ta ăn, chúng ta chỉ cần nhai nuốt, đây mới là tốt.

Vì thế, Phật A-di-đà đem sáu chữ danh hiệu cấp cho chúng ta và nói: “Ta ở trong vô lượng kiếp, nếu chẳng làm đại thí chủ cứu giúp khắp các người nghèo khổ thì Ta thệ chẳng thành Chánh giác”. Ngài muốn cứu độ chúng ta, Ngài nói: “Vì chúng sanh mà mở kho công đức, bố thí của báu công đức”.

Công đức của sáu chữ danh hiệu, Ngài bố thí cho chúng ta; nếu như yêu cầu chúng ta nhất định phải đạt đến nhất tâm thiền định thì công đức của sáu chữ danh hiệu mới thuộc về chúng ta, nếu như yêu cầu chúng ta nhất định phải đạt đến khai phát trí huệ thì công đức của sáu chữ danh hiệu mới thuộc về chúng ta. Nếu như yêu cầu như thế thì chúng ta không thể nào có được công đức của sáu chữ danh hiệu.

Chẳng cần nói chi đến chuyện cao xa, nếu đòi hỏi nhất định phải ăn chay trường thì mới cấp cho bạn công đức của sáu chữ danh hiệu, thì ở thế gian này nhiều người không được công đức của sáu chữ danh hiệu, vì họ không thể ăn chay trường, họ ăn chay trường không nổi.

Nếu nói có người không có thời gian niệm mười tiếng, mà chỉ có thời gian niệm năm tiếng, người ấy có được cứu độ hay không? Cũng được cứu độ! Do vì giống như vừa mới nói, người ấy một khi được cứu thì người ấy mong muốn mãi mãi cùng đấng cứu độ (Phật A-di-đà) ở chung một chỗ, người ấy chính là ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’.

Kinh nói ‘khiến cho tiếng niệm Phật không dứt’, Đại sư Thiện Đạo giải thích là ‘tương tục xưng danh’. Tương tục xưng danh là gì? Một người sắp chết cần có người đến cứu, tự nhiên tâm niệm luôn luôn nhớ nghĩ không quên, không muốn rời bỏ hoàn cảnh an lạc này, không muốn trở lại cảnh giới thống khổ đáng sợ.

Vì thế, ‘cho đến mười niệm’ không phải là điều kiện đối với người niệm Phật, như Đại sư Thiện Đạo giải thích, không có một điều kiện nào cả. Ngài nói ‘Trên thì niệm Phật suốt đời, dưới thì niệm Phật mười tiếng’, ‘nhất hướng chuyên xưng’, ‘chúng sanh xưng niệm ắt được vãng sanh’. Chỉ cần chúng ta nhất hướng chuyên xưng; ‘nhất hướng chuyên xưng’ cũng chẳng phải là điều kiện.

Đức Phật A-di-đà muốn bảo hộ chúng ta, Ngài đem danh hiệu cấp cho chúng ta và nói: “Bạn ngồi lên thuyền đại nguyện, Ta cứu hộ bạn, bạn không ra khỏi thuyền, Ta có thể bảo hộ bạn”. Chúng ta là kẻ đang bị rơi trong biển khổ sanh tử, được Phật A-di-đà cứu vớt lên thuyền đại nguyện.

Nếu chúng ta còn muốn quay lại biển khổ sanh tử thì có khác nào trò đùa của trẻ con, chẳng ý thức được nỗi khổ luân hồi. Một khi chúng ta hiểu được nỗi khổ luân hồi, biết được mình là phàm phu tạo nghiệp đọa lạc thì mới có thể niệm Phật tương tục.

Vì thế, ‘cho đến mười niệm’, từ góc độ Di-đà mà nói thì Ngài cứu độ chúng ta vô điều kiện, từ bên chúng ta mà nói thì chúng ta được Phật A-di-đà cứu độ, đây gọi là cứu độ vô điều kiện.
Về sau, nếu có người giải thích mà xa rời thệ nguyện Di-đà thì cũng là xa rời ý chỉ giải thích của Đại sư Thiện Đạo.

Mọi người đều biết có câu nói: “Miệng niệm Di-đà mà tâm tán loạn thì dù cho hét to đến bể cổ họng cũng uổng công vô ích”. Nếu như thế là có điều kiện. Điều kiện gì? Đó là ‘bạn niệm danh hiệu Phật phải đạt đến thiền định, nếu tâm bạn không có thiền định, tâm bạn tán loạn thì dù cho bạn hét bể cổ họng cũng không được cứu’, đây chẳng gọi là ‘cho đến mười niệm’ mà gọi là ‘thiền định mười niệm’.

Lời giải thích này chẳng phải là yêu cầu của Phật A-di-đà đối với chúng ta. Phật A-di-đà chỉ nói: “Cho đến mười niệm, nếu chẳng được vãng sanh thì Ta không ở ngôi Chánh giác”. ‘Chỉ cần bạn tin nhận sự cứu độ của Ta, nguyện sanh về Tịnh độ của Ta, bạn chỉ cần niệm Phật như thế, bạn chẳng vãng sanh, Ta chịu trách nhiệm!’.

Ngài không nói chúng ta cần phải có tâm thanh tịnh, tâm thiền định. Vì thế, đây chẳng phải là yêu cầu của Phật A-di-đà, cũng chẳng phải là sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo.

Câu nói trên là kết luận đứng trên lập trường thiền định. Người tu thiền thường cho rằng: “Niệm Phật nếu không có công phu thiền định, thì dù cho bạn tu trì như thế nào đi nữa cũng không thể thành tựu”. Vì thế, họ nói: “Bạn niệm danh hiệu Phật, bạn cần phải có thiền định, nếu bạn không có thiền định thì dù cho bạn hét bể cổ họng cũng uổng công vô ích”.

Nhưng giải thích như vậy thì chẳng phải là pháp môn Tịnh Độ thuần chánh, chẳng phải là tông chỉ của tông Tịnh Độ, cũng chẳng được gọi là cứu độ vô điều kiện. Sự cứu độ của Phật A-di-đà là vô điều kiện, Ngài không nói: “Bạn nhất định phải đạt đến tâm thiền định”, cũng chẳng nói: “Bạn nhất định phải xuất gia”. Nếu nói nhất định phải xuất gia thì mọi người đâu thể làm được. Ngài cũng không nói: “Bạn nhất định phải đọc kinh này, trì chú kia”. Ở đây Ngài không đặt ra yêu cầu, đây gọi là cứu độ vô điều kiện.

       Sự phân công giữa Phật A-di-đà và chúng ta

Chúng ta ôn lại văn của điều nguyện thứ mười tám. Văn của điều nguyện này rất gọn gàng, sáng sủa, dứt khoát. Trong điều nguyện thứ mười tám, giữa Phật A-di-đà và chúng ta có một sự phân công: Ba câu là do chúng ta làm, các câu còn lại là do Phật làm.

Câu ‘nếu Ta thành Phật’ là tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện, chẳng cần chúng ta phát nguyện. Câu này là Phật làm, chẳng phải chúng ta làm.

Câu ‘mười phương chúng sanh’ bao gồm cả chúng ta trong đó, cũng là đối tượng được Phật A-di-đà cứu độ.

Chúng ta chỉ cần biết chúng ta là một thành phần trong ‘mười phương chúng sanh’ là tốt rồi!

Ba câu sau đây là do chúng ta làm:

Câu thứ nhất ‘chí tâm tin mộ’ là muốn chúng ta thật sự tin vào sự cứu độ của Phật A-di-đà. Nếu chúng ta tin thì chúng ta làm được câu này, thật sự tin thì chẳng cần hoài nghi. Sao gọi là hoài nghi? ‘Kẻ nhiều phiền não như tôi, Phật A-di-đà có cứu được tôi hay không?’, nghĩ như vậy là chẳng thật sự tin, nghĩ như vậy thì không vui, đâm ra lo âu. ‘Tội nghiệp của tôi nặng như thế, Phật A-di-đà cứu được tôi hay không?’, còn có những nghi vấn như thế thì chẳng phải là ‘chí tâm tin mộ’

. ‘Chí tâm tin mộ’ là nói: “Tôi là kẻ nhiều phiền não, nghiệp chướng sâu nặng, tuy tôi niệm Phật nhưng không thanh tịnh, tuy tôi muốn thanh tịnh trì giới nhưng không làm nổi, tôi tuy muốn không có vọng tưởng tạp niệm, không khởi tham sân si nhưng hằng ngày chúng vẫn khởi, kẻ niệm Phật như tôi, Phật A-di-đà nhất định có thể cứu tôi!”. Đây gọi là ‘chí tâm tin mộ’, câu này là do chúng ta làm.
Câu thứ hai ‘muốn sanh về cõi nước của Ta’ là lời của tỳ-kheo Pháp Tạng kêu gọi chúng ta. Chúng ta tin mình không có sức mạnh tự giải thoát sanh tử luân hồi, cho nên chúng ta muốn được vãng sanh, đó là chúng ta đã làm câu thứ hai này.

Câu thứ ba ‘cho đến mười niệm’, Đại sư Thiện Đạo giải thích: ‘Trên thì suốt đời niệm Phật, dưới thì cho đến niệm Phật mười tiếng’. Tùy theo bạn bận rộn hay rảnh rang, tâm bạn thanh tịnh thì thanh tịnh niệm, tâm bạn không thanh tịnh cũng không hề gì; bạn có thời gian thì niệm ba vạn câu, bạn không có thời gian thì niệm hai vạn câu; bạn tinh tấn dũng mãnh thì niệm ba vạn câu, bạn không đủ tinh tấn thì niệm một vạn câu, hoặc niệm năm nghìn, tám nghìn câu đều được.

Chỉ cần bạn tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về Tịnh độ của Phật A-di-đà là được rồi! Đây gọi là ‘cho đến mười niệm’. Chúng ta đều có thể làm được, có ai mà làm không được? Ngồi đây niệm Phật ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật, không thể khởi vọng tưởng tạp niệm! Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật, không thể khởi vọng tưởng tạp niệm! Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’. Bạn bảo niệm Phật cần phải không khởi vọng tưởng tạp niệm, nhưng vọng tưởng tạp niệm vẫn cứ khởi, bạn cho rằng Phật cứu không nổi.

Được rồi! Bạn hãy bỏ ý nghĩ ấy đi, chỉ cần bạn niệm Nam-mô A-di-đà Phật, miệng bạn xưng danh hiệu: ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’, trong tâm bạn nghĩ đông cũng được, nghĩ tây cũng được, đều không quan hệ (Tôi đương nhiên không cổ vũ mọi người vọng tưởng, chúng ta hy vọng tâm được thanh tịnh chút nào hay chút nấy).

Chúng ta nên biết việc khởi vọng tưởng tạp niệm này không có quan hệ gì với việc vãng sanh. Vì sao nói như thế? Ví dụ như đi máy bay, chúng ta tin tưởng và chịu bước lên máy bay thì dù chúng ta ngồi trên đó có nghĩ đông nghĩ tây gì thì máy bay cũng đưa chúng ta đến nơi.

Máy bay ở thế gian là như thế, máy bay sáu chữ danh hiệu cũng như thế, sáu chữ danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật là một chiếc máy bay từ thế giới Ta-bà bay qua quãng đường mười muôn ức cõi nước Phật rất là xa, bay đến thế giới Cực Lạc ở phương tây. Chúng ta muốn đến Cực Lạc thì phải nhờ sáu chữ danh hiệu này.

Có người chẳng dám đi máy bay, ngồi trên máy bay chẳng dám ngủ gật, như cha tôi lần đầu tiên đi máy bay, ông nói: “Khối sắt này làm sao bay được, lỡ nó rơi xuống đất thì sao?”. Tôi đưa ông ra phi trường chỉ máy bay đang bay cho ông thấy thì ông mới hết lo âu, sau đó ông mới chịu lên máy bay.

Nếu bây giờ, bạn đến một bộ lạc ở trong rừng sâu tìm gặp một người tù trưởng có trí huệ, mời ông ta đi máy bay, ông ta không tin khối sắt có thể chở ông ta bay lên trời một cách an toàn. Ông ta nói: “Chở tôi bay lên trời à? Nếu rơi xuống thì sao?”.

Trước tiên, ông ta cần phải có lòng tin, có lòng tin mới chịu ngồi lên máy bay. Cũng vậy, chúng ta muốn đến thế

giới Cực Lạc ở phương tây, muốn vượt qua mười muôn ức cõi nước Phật, người ở Ta-bà tự chẳng thể đến được, phải nhờ sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật mới đến được!

Chúng ta rất có duyên với Phật A-di-đà. Trước khi xuất gia, tôi công tác ở công ty hàng không quốc gia, bây giờ tôi công tác cho công ty hàng không của Phật A-di-đà. Phật A-di-đà là Tổng giám đốc của công ty hàng không khắp mười phương pháp giới, Ngài phái phi cơ sáu chữ danh hiệu, mở tuyến đường bay phổ biến, từ thế giới Ta-bà đến Cực Lạc.

Ở thế tục thì phải mua vé, còn ở đây thì khác, không cần mua vé, phát vé miễn phí, và kêu gọi mọi người: “Hoan nghinh mọi người lên máy bay sáu chữ danh hiệu của chúng tôi”.

Chúng ta nhiều phiền não, nghiệp chướng sâu nặng như thế, chỉ cần chúng ta xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật, văn kinh nói: “Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật không bỏ”. ‘Nhiếp thủ không bỏ’ chính là cứu độ chúng ta, bảo hộ chúng ta, không rời bỏ chúng ta.

Chúng ta xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật tức là bước lên máy bay sáu chữ danh hiệu, cửa khoang máy bay một khi đóng lại, chúng ta được chở đi, đây gọi là ‘nhiếp thủ chẳng bỏ’. Chúng ta ngồi trên máy bay sáu chữ danh hiệu, niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật……’, tuy có lúc tán loạn, nghĩ đến chuyện này chuyện nọ; tuy có lúc nghĩ đến thức ăn ở nhà bếp, nhưng chúng ta vẫn không rời chiếc máy bay sáu chữ danh hiệu.

Chúng ta ngồi trên chiếc máy bay sáu chữ danh hiệu, dù có khởi tạp niệm cũng không bị rơi tõm xuống. Nếu bị rơi tõm xuống thì ai dám niệm? Do vì chúng ta không làm đến mức chẳng khởi tạp niệm, vì thế mọi người chẳng cần phải lo âu, sự cứu độ của Phật A-di-đà vô cùng ổn đáng, là chủ động cứu độ, là bình đẳng cứu độ, và sự cứu độ này không có điều kiện.

Giả sử chúng ta niệm Phật mà thường khởi tạp niệm, nghĩ đông nghĩ tây, nhưng chỉ cần tâm chúng ta tin nhận vào sự cứu độ của Phật A-di-đà, chỉ cần chúng ta nguyện sanh về Tịnh độ của Phật A-di-đà thì không có chướng ngại.
Chúng ta ngồi trên máy bay, tức là đem bản thân mình giao cho cơ trưởng. Chỉ cần giao phó cho ông ta, ông ta mang trách nhiệm đưa chúng ta đến nơi. Chỉ cần chúng ta tin tưởng, ngồi lên máy bay, thì không có vấn đề.

Đương nhiên, máy bay ở thế gian vẫn có xuất hiện sự cố gây chướng ngại, còn máy bay của Phật A-di-đà không có sự cố gây chướng ngại. Phật A-di-đà là cơ trưởng, sáu chữ danh hiệu là máy bay, chỉ cần chúng ta giao sinh mạng mình cho Ngài, tức là chúng ta tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, tin Phật A-di-đà cứu chúng ta, chúng ta cứ để cho Ngài cứu. Vì sao để cho Ngài cứu? Vì sao bước lên chiếc máy bay này? ‘Chúng ta niệm Nam-mô A-di-đà Phật, chuyên niệm không thay đổi’ là được rồi!

Đó là chúng ta giao sinh mạng mình cho Phật A-di-đà, trừ niệm Phật ra, các pháp môn khác chúng ta tu không nổi. Chúng ta tuy không có cách nào làm cho vọng tưởng tạp niệm không khởi, nhưng như thế có ảnh hưởng gì đến sự cứu độ hay không? Mọi việc ta đều giao cho Phật A-di-đà! Điều này mọi người nên biết rõ. Giống như chúng ta ngồi trên máy bay, giao hết sinh mạng cho cơ trưởng, dù cho chúng ta có nghĩ đến việc gì khác cũng không chướng ngại.

       Thí dụ cứu người bị nạn động đất: Chủ động, bình đẳng, vô điều kiện.

Trước đây, vào ngày 12 tháng 5 năm 2008 động đất ở Vấn Châu, trong khoảng chớp mắt, đất động núi rung, nhà cửa sụp đổ, nhiều người bị chôn vùi trong đống đổ nát. Lúc đó rất cần sự cứu độ. Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, Thủ tướng đến ngay hiện trường, những người thân của kẻ bị tai nạn rất cảm động.

Nếu Thủ tướng ngồi yên trên ghế bành ở trong dinh thự của mình tại thủ đô, bỏ mặc cho người dân bị nạn kêu gào: “Cứu mạng, xin ngài đến cứu chúng tôi”, năm ngày sau mới đến thì vị ấy có phải vị Thủ tướng tốt của nhân dân hay không? Vị ấy có thể giúp được gì cho nhân dân? Vị ấy không có lòng thương dân.

Phật A-di-đà cũng giống như thế; thế giới Ta-bà của chúng ta là khu vực đang bị tai nạn trầm trọng, chúng ta đang bị chôn vùi trong đám nghiệp chướng phiền não tham sân si. Phật A-di-đà thấy thế giới Ta-bà của chúng ta là nơi đang bị tai nạn trầm trọng, Ngài chủ động đến cứu chúng ta,

Ngài chẳng đợi ở đây chúng ta khóc lóc kêu gào: “A-di-đà Phật! Xin Ngài đến cứu chúng tôi, chúng tôi kêu Ngài mấy năm rồi, chúng tôi kêu Ngài mấy chục năm rồi, Ngài không đến cứu sao?”. Không có việc đó đâu! Chúng ta ở đây không kêu cứu, Phật A-di-đà cũng chủ động đến cứu chúng ta, đem sáu chữ danh hiệu lưu truyền tại thế gian này. Đây là chủ động

Chúng ta đến khu bị tai nạn, cứu độ người đang bị chôn vùi trong đống đổ nát, chúng ta có bình đẳng cứu độ hay không? Sau khi máy ủi đến xúc đống đổ nát, phát hiện ‘người này là đại gia, là giám đốc công ty’ thì cứu, ‘kẻ kia

nghèo rớt mồng tơi, cứu hắn cũng vô dụng’ nên không cứu, như vậy có được hay không? Không! Hoặc giả ‘Anh là đảng viên thì tôi cứu anh’, ‘anh là người thường dân thì tôi không cứu anh’, có được như vậy hay không? Không!

Hoặc giả ‘anh là nhà khoa học, cứu anh ra để anh có cống hiến cho xã hội’, ‘anh là kẻ ăn xin, người tầm thường, cứu anh ra, anh cũng không có cống hiến gì cho xã hội’, cho nên không cứu, có được hay không? Không! ‘Người này có đạo đức, phẩm cách tốt, nên cứu người này’, ‘kẻ kia vốn là tên trộm, sau khi được cứu, anh ta sẽ đi trộm đồ vật của người khác, dứt khoát không cứu người đó’, có nên làm như vậy hay không? Không!

Lúc đó chỉ có một mệnh lệnh là ở chỗ nào có dấu hiệu nghi là có sinh mạng thì mau mau tìm kiếm, chẳng nói đó là người nào, dù cho đó là một con chó cũng cứu nó. Sự cứu độ lúc đó là không có điều kiện nào hết.

Phật A-di-đà cứu chúng ta, nếu nói ‘bạn chỉ niệm sáu chữ danh hiệu mà bạn không thuộc lòng bốn mươi tám nguyện của Ta thì Ta không cứu bạn’, Ngài có bắt buộc như thế hay không? Không! “Nếu bạn không thuộc lòng kinh A-di-đà, chỉ niệm sáu chữ danh hiệu thì Ta không cứu bạn’, có như thế hay không? Không! ‘Bạn phải nói lời cảm tạ thì Ta mới cứu bạn’, Phật cứu bạn, có cần lời cảm tạ hay không? Không!

Lúc đó dù là kẻ trộm, kẻ tội phạm, chỉ cần họ là người còn sống, chúng ta đều phải cứu họ. Nếu chẳng cứu thì chúng ta làm không hết trách nhiệm của mình. Chúng ta cứu họ, nhưng không bảo chứng rằng, anh ta không trộm cắp nữa. Phật A-di-đà muốn đem chúng sanh tham sân si cứu đến thế giới Cực Lạc ở phương tây, vĩnh viễn giải trừ tham sân si.

Chúng ta đến Cực Lạc thì không còn là phàm phu, mà chính là thành Phật, Phật A-di-đà làm sao mà không cứu chúng ta? Nếu Ngài đặt điều kiện ‘tâm bạn chẳng thanh tịnh, dù bạn niệm sáu chữ danh hiệu, Ta cũng không cứu bạn’, có như thế hay không? Không!

Vì thế, mọi người cần phải hiểu, thế gian cứu người lâm nạn còn chủ động, bình đẳng, vô điều kiện. Lúc cứu người thì chẳng giống như lúc bình thường. Nếu bình thường thì cho một cái bánh bao, một chai nước khoáng, đây cũng là cho tiền, một chai nước khoáng hai đồng rưỡi, một cái bánh bao ba đồng, đều là tiền cả.

Lúc cứu người đang bị tai nạn động đất, hao tốn nhiều sức lực, tiền của; đây đều là nghĩa vụ; máy xúc, máy ủi cũng không tính tiền sử dụng; đem người đến cấp cứu tại bệnh viện, bệnh viện cũng không tính tiền, tất cả đều miễn phí, vì lúc đó là cần phải cứu người.

Phật A-di-đà cứu chúng ta còn hơn thế nữa, qua thí dụ kể trên, chúng ta có thể hiểu được sự cứu độ của Phật A-di-đà là chủ động, bình đẳng, vô điều kiện. Kỳ thật, cái thí dụ này cũng không đủ để hình dung sự cứu độ của Phật A-di-đà.
Chúng ta niệm Phật, Phật A-di-đà cứu chúng ta, nếu Ngài đặt điều kiện thì chúng ta đâu được cứu độ. Chỉ có một số ít người mới có thể được cứu độ, tuyệt đại đa số không được cứu độ.

Trong tâm chúng ta có rất nhiều quan niệm. Tỷ như cho rằng phải đạt đến một trình độ nào đó, đạt đến công phu nào đó, Phật A-di-đà mới chịu cứu độ.

Tôi mong mỏi bắt đầu từ bây giờ, mọi người hãy từ bỏ quan niệm ấy đi! Phật A-di-đà cứu độ là chủ động, bình đẳng, vô điều kiện. Do vì đây là pháp môn cứu độ, pháp

môn cứu độ tức là pháp môn vô điều kiện, có điều kiện thì chẳng được gọi là cứu độ.

Tông chỉ thứ hai: Chuyên xưng Di-đà Phật danh

Vừa giảng xong Phật A-di-đà cứu độ chúng ta như thế nào? Dùng danh hiệu của Ngài cứu độ chúng ta. Chúng ta làm gì để được Phật A-di-đà cứu độ?

Câu thứ hai: Chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.

Chỉ cần chuyên niệm, chuyên xưng. Xưng nghĩa là miệng chuyên xưng Nam-mô A-di-đà Phật, chuyên xưng danh hiệu này thì được Phật cứu độ. Đây là pháp môn rất đơn giản, rất dễ dàng, có năng lực cứu khắp tất cả chúng sanh. Phật A-di-đà dùng sáu chữ danh hiệu này, dùng ‘miệng xưng danh hiệu, nguyện sanh về cõi nước của Ta’ thì Phật A-di-đà cứu độ chúng ta, không có đòi hỏi cao, không có yêu cầu khắt khe. Vì thế, ‘chuyên xưng Di-đà Phật danh’ là phương pháp Phật A-di-đà cứu độ chúng ta, cũng là phương pháp chúng ta được cứu độ. Chỉ cần chúng ta chuyên xưng Nam-mô A-di-đà Phật thì chúng ta được Phật A-di-đà cứu độ, không còn có tiêu chuẩn nào khác.

Chúng ta được Phật A-di-đà cứu độ, chúng ta nhất định, quyết định được vãng sanh không có sơ suất. Phút lâm chung, chết như thế nào, đây là trạng huống lúc phàm phu ở thế giới Ta-bà này chết, hoặc bị xuất huyết não, hoặc bị tai nạn giao thông, hoặc bị bệnh di truyền; hoặc lúc chết tâm ý sáng suốt, hoặc lúc chết khiến cho người khác thấy dường như là hôn mê bất tỉnh.

Những trạng huống này không ảnh hưởng gì đến sự cứu độ của Phật A-di-đà, do vì hiện tại chúng ta đã được Phật cứu rồi, chẳng phải đến phút lâm chung Phật mới đến cứu chúng ta. Chỉ cần chúng ta chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà là được Phật đến cứu. Chúng ta lâm chung dù gặp tình huống nào cũng đều chẳng ảnh hưởng đến sự cứu độ của Phật A-di-đà

.
Giống như vừa rồi tôi đã nói, chúng ta chỉ cần bước lên thuyền. Ở trên thuyền rồi thì chúng ta nhất thể với thuyền, giả sử ở trên thuyền mà có ngủ gật, ngủ mê cũng đều chẳng ảnh hưởng gì!

       Quán kinh nói: “Quang minh biến chiếu thập phương thế giới, niệm Phật chúng sanh nhiếp thọ bất xả” (Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật, không rời bỏ). Đại sư Thiện Đạo giải thích đoạn văn này, có ý nghĩa khải phát rất đặc biệt đối với chúng ta. Hiển thị ‘nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật, không rời bỏ’ như thế nào? Niệm Phật đại biểu cho cái gì? ‘Nhiếp thủ bất xả’ có ý gì? ‘Nhiếp thủ’ tức là cứu độ; ‘bất xả’ nghĩa là cứu độ chúng ta, không rời bỏ chúng ta, bảo hộ chúng ta. Chúng sanh niệm Phật, Đại sư Thiện Đạo giải thích: Chỉ cần chúng ta là người chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà thì được Phật A-di-đà cứu độ, Phật A-di-đà chẳng rời bỏ chúng ta.

Đại sư Thiện Đạo nói: “Đản hữu chuyên niệm A-di-đà Phật chúng sanh” nghĩa là chỉ cần chúng ta chuyên niệm Phật A-di-đà, các hạnh khác đều chẳng đề cập đến.

‘Bỉ Phật tâm quang thường chiếu thị nhân’ nghĩa là ánh sáng của tâm Phật A-di-đà thường chiếu đến người niệm Phật.

‘Nhiếp hộ bất xả’: ‘Nhiếp’ nghĩa là nhiếp thủ, cứu độ; ‘hộ’ nghĩa là bảo hộ. Bạn chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì ánh sáng của Phật chiếu đến bạn; chiếu đến bạn là cứu đến bạn; cứu đến bạn là bảo hộ bạn, bảo hộ bạn là chẳng rời bỏ bạn, suốt ngày suốt đêm, năm này năm khác, hiện tại đến lâm chung, vĩnh viễn nhiếp hộ chẳng rời bỏ. Đây là nói chỉ cần niệm Phật thì được Phật cứu hộ.

‘Tổng bất luận chiếu nhiếp dư tạp nghiệp hành giả’: Tất cả những người tạp hạnh tạp tu, ánh sáng của Phật A-di-đà không chiếu đến, không cứu đến, không bảo hộ đến. ‘Dư tạp nghiệp hành giả’ không xác định được vãng sanh, vì thế nói: Người tạp hạnh tạp tu vãng sanh bất định, trong một trăm người khó được một hai người, trong một nghìn người khó được năm ba người. Vì sao? Vì những người ấy cậy vào sức của chính mình (tự lực), không dựa vào sự cứu độ của Phật A-di-đà (tha lực), nên người ấy không được Phật A-di-đà cứu đến.

‘Miệng xưng danh hiệu Phật’: ‘Xưng’ là miệng xưng, từ cửa miệng phát ra tiếng.

Niệm Phật có bốn cách: Đại thanh niệm, tiểu thanh niệm, kim cang niệm, mặc niệm.
Đại thanh niệm thì âm thanh rất lớn. Tiểu thanh niệm thì âm thanh nhỏ. Kim cang niệm thì tự mình niệm tự mình lắng nghe, động môi lưỡi, nhưng không phát ra tiếng. Ba trường hợp kể trên đều gọi là ‘xưng’.

Mặc niệm là niệm thầm trong tâm. Niệm thầm trong tâm đòi hỏi phải có trình độ khá cao, tâm chúng ta phải đạt đến mức an định và an tĩnh.

Có người nói: “Niệm Phật cần phải đạt đến không khởi vọng tưởng tạp niệm, cần phải đạt đến công phu thành phiến v.v.”. Tiêu chuẩn này quá cao! Nếu chúng ta chỉ cần miệng niệm thì ai nấy cũng đều làm được. Vậy xin hãy chắp tay niệm Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật.

Niệm Phật như thế là được rồi, niệm Phật như thế là đạt đến tiêu chuẩn rồi, là đạt yêu cầu rồi. Thậm chí cũng chẳng cần phải niệm lớn tiếng, thậm chí niệm bốn chữ A-di-đà Phật cũng được, thậm chí niệm nhanh một chút, niệm chậm một chút cũng đều được. Đây gọi là miệng xưng danh hiệu Phật; đây gọi là ‘xưng’.

Điều này căn cứ vào đâu? Căn cứ vào văn Hạ hạ phẩm trong Quán kinh: Một người trong tâm không có cách gì niệm Phật, tư tưởng ý thức không thể nào tập trung được, người ấy phải chết, tứ đại phân ly, cả đời người ấy tạo tội nặng ngũ nghịch, quỷ sứ của Diêm vương muốn đến bắt người ấy, lửa địa ngục sắp đến chân.

Lúc đó làm sao người ấy đạt đến công phu thành phiến? Người ấy chỉ có ‘sợ hãi thành phiến’, ‘hoảng loạn thành phiến’, đâu có công phu gì? Trong tình huống ấy, thiện tri thức bảo người ấy: “Bạn hãy niệm Nam-mô A-di-đà Phật theo tôi!”. Thiện tri thức niệm một câu Nam-mô A-di-đà Phật, người ấy niệm theo một câu Nam-mô A-di-đà Phật; người ấy niệm theo thiện tri thức mười câu thì người ấy liền thấy hoa sen vàng to như vầng mặt trời đến đón rước người ấy, trong khoảnh khắc được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Nếu luận về người lâm chung đã từng tạo tội nặng ngũ nghịch thì người ấy có công phu gì chăng? Người ấy có cảnh giới gì chăng? Người ấy có thiền định gì chăng? Giới luật, tam phước, người ấy đều không có, người ấy niệm Phật cũng không có công phu, người ấy chỉ niệm theo người khác ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật……’, như vậy mà vẫn được Phật A-di-đà cứu độ, đây gọi là ‘xưng danh’, quả thật rất là đơn giản, Phật A-di-đà quá từ bi, sự cứu độ của Phật A-di-đà không thể nghĩ bàn!

Nếu Phật A-di-đà dùng sáu chữ danh hiệu cứu độ chúng ta, mà còn nói với chúng ta ‘miệng xưng Di-đà, tâm tán loạn, xưng danh đến bể cổ họng cũng uổng công, vô ích’, vậy thì chẳng từ bi rồi. Huống chi chúng ta xưng danh chưa đến mức bể cổ họng, vậy thì chúng ta có phải càng uổng công vô ích hơn chăng? Nếu đúng như lời này thì Phật A-di-đà chẳng từ bi, pháp môn này chẳng thù thắng, chúng ta không thể được cứu độ.

Vì thế ở đây nói ‘xưng’, chữ ‘xưng’ của xưng danh, có ý nghĩa đặc biệt. Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Chúng sanh xưng niệm chắc chắn được vãng sanh”.

Xưng niệm đã là miệng xưng, bất luận tâm chúng ta tán loạn hay không tán loạn, cũng bất luận tâm chúng ta thanh tịnh hay chẳng thanh tịnh, cũng bất luận tâm chúng ta thiền định hay chẳng thiền định, những thứ này đều chẳng cần phải luận đến, chỉ cần chúng ta miệng xưng danh hiệu, tin nhận Di-đà cứu độ, nguyện sanh về Tịnh độ của Phật A-di-đà là được rồi; đây gọi là ‘xưng’.

Thế nên, lời giải thích của Đại sư Thiện Đạo, một chữ cũng không thể thay đổi được, vì lời giải thích này đều có ý nghĩa và nội dung xác định đặc biệt, đây mới là Tổ sư, đây mới là hóa thân Phật A-di-đà.

Vậy mà, các lời giải thích sau này thường ly khai chữ ‘xưng’, như là bảo: “Bạn niệm Phật cần phải không khởi vọng tưởng tạp niệm…”. Nếu nói như thế thì đối với việc vãng sanh, hễ tâm có khởi vọng tưởng tạp niệm, thì phải hàng phục vọng tưởng tạp niệm.

Đại sư Thiện Đạo giải thích, niệm Phật lấy khẩu nghiệp làm chủ yếu, miệng xưng danh hiệu Phật A-di-đà là được rồi, vì sao? Vì đây là nương vào nguyện lực của Phật. Nguyện lực của Phật, bản thân danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật vốn tự đầy đủ, đã được thiết định ở trong bản nguyện của Phật A-di-đà. Phật A-di-đà thiết định phương pháp cứu độ chúng ta rất giản đơn, rất thuận tiện, rất dễ dàng, tức là chúng sanh chúng ta miệng xưng danh hiệu Phật thì được Phật cứu độ.

Còn người câm thì sao? Người câm chỉ cần miệng động môi lưỡi thì cũng được cứu. Tôi đã gặp người câm niệm Phật, tuy người ấy niệm không rõ ràng, nhưng người ấy cũng được cứu. Giống như chúng ta ở trong chiêm bao nói năng không rõ ràng, nếu trong chiêm bao chúng ta niệm Phật thì khẳng định là cũng được cứu.

Có một lần, mười người câm đến quy y, họ niệm Phật không rõ ràng, chỉ cần họ chắp tay, cũng biểu lộ là họ đang niệm Phật, đây cũng là được cứu độ.

Vì thế, miệng xưng danh hiệu Phật A-di-đà rất giản đơn, rất dễ dàng được cứu độ. Em bé hai ba tuổi vừa biết nói, nếu bạn bảo nó: “Này bé ngoan, bé nên niệm Phật, nhưng bé chỉ niệm trong tâm, miệng không niệm”. Nếu các bà dạy con, dạy cháu niệm Phật như thế thì nó có làm được chăng? Nó chẳng biết bà bảo nó làm cái gì? Nhưng nếu bà niệm ‘A’ thì nó niệm theo ‘A’, ‘A-di-đà Phật’ thì nó niệm được.

Miệng niệm Phật thì các đứa bé hai ba tuổi cũng niệm được. Chúng ta còn phiền não, còn đau khổ thì phải làm thế nào? Như trong Quán kinh nói, người hạ hạ phẩm cũng được vãng sanh, đây chính là nói, miệng xưng danh hiệu Phật thì dễ dàng.

(Còn tiếp)

Trích Bản Nguyện Niệm Phật

Thích Minh Tuệ

 

Viết một bình luận