354.Van Dap Tinh Do 42

Cau 61 Vang Sanh về Tịnh Độ Đâu Suất, và khi nào
Đức Phật Di Lạc ra đời?
Bạch Thầy, bạn con khuyen con nên cầu vãng sanh về Tịnh Độ Đâu Suất cho nó gần, dễ sanh hơn. Cực
Lạc quá xa chắc gì về tới. Về Đâu Suất sau này theo Ngài Di Lặc trở về Ta Bà độ sanh, vậy kính xin Thầy từ bi cho con biết:
1. Lời khuyên trên có đúng không?
2. Bao giờ Đức Di Lặc ra đời?
Đáp:
1– cuc Lạc xa, đó chỉ là Lời khuyên trên hoàn toàn không đúng. Người cho rằng Đâu Suất gần, Cự dùng mắt thịt và tâm lượng phàm phu mà nói thôi. Thực ra ba cõi Ta Bà, Đâu Suất, Cực Lạc đều ở trong tâm ta, thì làm gì có xa với gần, sanh khó hay dễ hơn chứ? Hãy đọc câu đáp 34, 35 Phần giải nghi, sách Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp.
2– Theo Phật giáo, Đức Thích Ca ra đời lúc nhơn thọ (mức sống) còn 100 tuổi. Qua mỗi trăm năm thọ số con người bớt xuống 1 tuổi, giảm dần đến khi nhơn thọ còn 10 tuổi rồi lại tăng lần đến lúc 84. 000 tuổi là mãn tiểu kiếp thứ chín của trụ kiếp.
Sang tiểu kiếp thứ mười, lúc nhơn thọ từ 84.000 tuổi giảm còn 80.000 tuổi đức Di Lặc mới ra đời.
Từ khi Đức Thích Ca niết bàn đến nay đã được 2558 năm.
Ta tạm tính chẳn là 2.500 năm, nhơn thọ con người hiện
thời 75 tuổi là thượng thọ. Lấy mức nhơn thọ 75 tuổi kể
theo số niên kiếp tăng giảm, thì từ đây đến lúc Đức Di Lặc
ra đời còn 8.805.500 năm nữa
Câu hỏi 62: Niệm Phật Vô Tướng
Bạn con nói hiện có Pháp Niệm Phật Vô tướng dễ tu mau chứng, vãng sanh phẩm vị cao. Vậy kính xin Thầy từ bi cho con biết pháp ấy là gì, tu cách nào và chứng đắc ra làm sao?
Dap
1 Xuat xu
Phap Niem Phat Vo tuong do cu si Tieu Binh That nguoi Hoa,bat dau xien duong tu nam 1989
2 Dinh nghia
Niệm Phật Vô tướng là:Niệm Phật Khong tuong.Niem Phap Than Phat (Ikhong tuong)
Niệm Phật Viên Thông của Đại Thế Chí Bồ Tát;
o tu Thiền định;
Không phải pháp tu trì danh.
3- Thực hành:
Pháp này lấy hạnh Niệm Phật vô tướng làm cốt yếu (khởi
đầu):
Trước tiên chọn một vị Phật có thể là Thích Ca, Di Đà,
Dược sư… hoặc một vị Bồ Tát như Quán Âm, Thế Chí…
làm đối tượng.
Thời gian sau chọn từ 3 đến 6 vị làm đối tượng để lạy.
Lạy thật chậm khoảng 1 phút 1 lạy.
Trong khi lạy Phật, tâm chỉ nhớ đối tượng được chọn (có
thể là Quán Thế Âm Bồ Tát), nhớ suông, nhớ khơi khơi
như con ở Việt Nam nhớ cha mẹ ở Mỹ.
Không duoc nghĩ, tưởng hay nhớ âm thanh, ngôn ngữ, văn tự, hình tướng hay biểu tượng của bất cứ ai, vật gì… Điển hình là không được trì danh hiệu Phật hay Bồ Tát nào cả (âm thanh), không được nhớ 4 chữ A Di Đà Phật (văn tự), không được nhớ hình, tượng Phật A Di Đà (hình tướng), không được nhớ nghĩ đến hoa sen (biểu tượng)…
Mỗi ngày lễ Phật 2 lần sáng, tối mỗi lần 10-20 phút.
Thời gian sau mỗi ngày tĩnh tọa 1 tiếng đồng hồ.
4- Thành quả
Có người chỉ tu 6 tuần lễ thành tựu Niệm Phật Vô tướng,
đắc định, ngang hàng Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Nếu vãng
sanh thì ở hàng Thượng Phẩm. Tu Thiền thì đủ khả năng
khán thoại đầu hoặc tham công án. Tu Tịnh độ thì tiếp tục
tu lên Lý Nhất Tâm Bất Loạn.
5- Chư Tổ nói trì danh là pháp dễ tu dễ chứng nhất, là
đường tắt trong đường tắt, vậy thì không có pháp nào tốt
hơn đâu.
6- Muốn biết thêm chi tiết, liên hữu có thể đọc online sách
Niệm Phật Vô Tướng, tác giả: Cư sỹ Tiêu Bình Thật.
Người dịch ra Việt văn: Cư sỹ Hạnh Cơ.
Câu hỏi 63 Đoạn ác tu thiện thuộc Thiện Nghiệp hay
Tịnh Nghiệp?
Đoạn ác tu thiện thuộc thiện nghiệp hay tịnh nghiệp và kết
quả ra sao?
Đáp:
1- Đoạn ác tu thiện thuộc thiện nghiệp hay tịnh nghiệp là
do Tâm định đoạt.
Cùng làm một sự việc mà làm với Tâm ô nhiểm thì là thiện
nghiệp, bằng như làm với Tâm thanh tịnh thì là tịnh nghiệp.
Thế nào là làm với Tâm ô nhiểm?
Làm mà so đo, tính toán, chấp trước dính mắc, khoe
khoang khoác loác, khư khư nhớ mãi để kể công (vì danh
vì lợi), ví như:
Xuất mấy chục triệu đồng tiền VN de cuu nạn lụt miền
Trung để được lên truyền hình, truyền thanh, báo chí, được
danh thơm tiếng tốt, mọi người biết ơn, kính trọng v, v..
Xvuất mấy ngàn đô cúng dường sửa chùa, cất chùa để
được Thầy trụ trì kính nể, tán thán, ăn trên ngồi trước, nở
mặt nở mày ới bạn đạo, lãnh Bằng Công đức về treo ở
phòng khách, v. v…
Thế nào là làm với Tâm thanh tịnh?
Làm mà KHÔNG so đo, tính toán, khoe khoang khoác
loác, kể công (không vì danh vì lợi), không chấp trước
không dính mắc, mà BUÔNG XẢ rốt ráo (làm mà không
làm, về sự thì vẫn làm nhưng tâm không tiêm nhiễm), làm
với lòng từ bi, hạnh Bồ Tát, ba thể đều không (Tam luân
không tịch, không người bố thí, không vật được thí, không
người thọ thí, – kinh Bát Nhã).
2- Kết quả:
Thiện nghiệp là một trong những nhân sanh lên cõi
TRỜI.
Phụ chú: Có những kẻ góp chút ít công lao với chùa rồi tự
cho là “Đệ Nhất công thần” sanh cống cao, ngã mạn, lên
mặt tự do tác oai, tác quái với bạn đạo, lại coi thường khinh
rẻ, chê bai, chỉ trích phỉ báng tăng chúng của chùa.
Trong việc điều hành chùa, thầy trụ trì xử sự hay có quyết định gì
trái ý nghịch lòng đương sự liền có lời nặng nhẹ, xúc phạm
thầy trụ trì. Như vậy trước mắt là sa Địa ngục thôi.
Tịnh nghiệp là một trong những nhân sanh (trợ nhân) về
TỊNH ĐỘ (Cực Lạc
Hồi hướng công đức này làm trợ nhân vãng sanh Cực
Lạc
Câu hỏi 64: Nhẫn nhục và ích lợi của hạnh nhẫn.
Con nghe quý Thầy nói người tu, hạnh trọng yếu phải tu đó
là hạnh nhẫn nhục, nhưng chúng con chưa rõ ý nghĩa và lợi
ích của hạnh này.
Đáp:
1- Định nghĩa:
Nhẫn là nhường nhịn, chịu đựng mà không hờn giận oán
trách;
Nhục không có nghĩa là mình bị nhục như nhiều người lầm
tưởng, mà là chấp nhận sự nhục.
2– Sau đây tôi sẽ trích dẫn lời Đức Thế Tôn, chư Thầy,
Tổ và Cổ Đức dạy:
Kinh Hoa nghiêm: Bồ Tát nhẫn chịu tất cả điều ác, đem
tâm bình đẳng hướng đến chúng sanh. Như mặt đất bằng
phẳng không giao động.
Kinh Trung A Hàm: Nếu lấy sự tranh cãi, để chấm dứt
tranh cãi, thì trọn chẳng thể chấm dứt được. Chỉ có nhẫn
mới dứt tđược sự tranh cãi. Pháp nhẫn này mới là tôn
thượng
Kinh Chư Pháp Tập Yếu: Như có người bạo ác, phi lý
hủy báng nhau. Người trí dùng lời nói chân thành, an nhẫn
có thể trừ đó.
Kinh Nhẫn nhục: Đức Thế Ton noi rang :
Thà lấy kiếm bén đâm xuyên bung , cắt thịt xương, nhảy
vào lửa.
Thà đội núi Tu Di, chịu bức hủy thân mạng mình, nhảy
vào trong biển cả để cho cá rùa nhai nuốt,
Hãy cẩn thận chớ làm điều ác.
Kinh Tỳ Kheo Tỵ Nữ Nhơn Ác Danh:
Khinh thị chúng sanh không thành pháp hạnh xuất gia
Người nhơn đức phải nhẫn chịu tiếng ác thượng trung
hạ, giữ lòng kiên cố, đó là pháp xuất gia
Chỉ do người khác nói thì không thể làm ông trở thành
kẻ giặc.
Lại do người khác khen tặng cũng không thể khiến cho
ông trở thành A La Hán
ông tự biết lấy, các Trời vẫn biết ông.
Luận Trí Độ:
Bồ Tát trong trăm ngàn vạn kiếp chịu điều mắng nhiếc,
cũng chẳngh sanh long gian. Lai cung tram ngan kiếp được xưng tán cũng không vui mừng.
Đấy là hiểu rõ lời nói của người. sanh lòng giận.
Lại cũng trăm ngàn Tiếng là sanh diệt, như mộng như âm hưởng.
Kinh Bảo Tích: Nhẫn có mười việc:
1. Một là quán tướng ngã và tướng những vật mình có.
2. Hai là nghĩ đến giống người của mình.
3. Ba là phá trừ kiêu mạn.
4. Bốn là không báo thù điều ác.
5. Năm là quán tưởng vô thường.
6. Sáu là tu từ bi.
7. Bảy là tâm không buông lung.
8. Tám là xả bỏ những việc đói khát khổ vui.
9. Chín là đoạn trừ sân hận.
10. Mười là tu tập trí huệ.
Neu nguoi nao thanh tuu duoc muoi viec tren day, nen biet rang
người đo hay tu được pháp nhẫn.
Kinh Hoa nghiêm: Bồ Tát thường hay tu pháp nhẫn nại,
khiêm tốn, cung kính, hòa nhã, không làm hại mình, không
làm hại người, không đề cao mình, không đề cao người,
không tán thán mình, không tán thán người
Bo tat chi khoi niem nay, ta phai thuong thuyet phap, lia tat ca ac,
khien doan tru thamn lam, san han, si me. kieu man, loạn
tâm, keo kiệt, đố kỵ, dèm pha, dua nịnh. Lấy pháp nhẫn lớn
để an lập.
Bồ Tát thành tựu Pháp nhẫn thanh tịnh. Gia su co chung
sanh nào dùng lời thô ác mắng nhiếc, mạ lỵ, khinh chê, tay
cầm dao gậy đánh đập hủy hoại, Bồ Tát không giận hờn,
nên khởi niệm như sau: Tôi nếu vì khổ mà sanh lòng gian hờn, thế là mình tự không điều phục, không thủ hộ hiểu rõ, khônh tịnh, không chơn thật. Làm thế nào được tâm hoan hỷ, khiến được giải thoát. Quán sát như thế, gọi là Bồ Tát thực hành hạnh không oán hận.
Kinh Bát Nhã: Không hủy nhục tất cả chúng sanh gọi đó
là nhẫn nhục Ba La Mật. Thân mình bị phá hoại cũng
không sân, gọi đó là thân cận Ba La Mật. Thuyết pháp
khiến phát Tâm Bồ Đề, gọi đó là chân thật Ba La Mật.
Thành tựu được ba thứ này, gọi đó là Nhẫn nhục (Sàn Đề)
Ba La Mật.
Kinh Hoa Thủ: Sau khi Đức Như Lai diệt độ, nếu có
người hủy báng Phật, Pháp, Tăng, các đệ tử của ta chớ nên
buồn não, sân hận, mà nên khởi niệm:
Chúng ta nếu sanh tâm sân hận, thì chẳng phải là bậc sa môn, chẳng phải là
pháp sa môn, chẳng thuận theo đạo giác ngộ.
Kinh Pháp Cú: Tự chế được giận tức, như làm ngừng
được chiếc xe đứt thắng đang chạy, đó là hay khéo chế ngự,
bỏ tối vào sáng.
Kinh Pháp Cú: Phẫn nộ không thấy Pháp. Phẫn nộ
không thấy Đạo. Nếu hay trừ phẫn nộ, phước lành thường
thuận thân.
Luận Nhiếp Đại Thừa: Nhẫn có thể sanh được hòa bình
giữa mình và người. Tự thân không bị lỗi lầm sân hận làm
nhiễm, tức là tự thân hòa bình. Đã không uất hận, không
làm người khác buồn khổ, tức là người khác được hòa bình.
Đai Tap Nguoi nhan chieu cam duoc phuoc bau thu thang. Nguoi nhan la dang buoc tren duong thien. Nhan duoc truong tho Nhan dat thanh bo thi, tri gioi, tinh tan ,thien dinh, tri tue
Nguyệt Đăng Tam Muội: Phật dạy rằng: Nếu Bồ Tát trụ ở pháp hạnh từ nhẫn thì có được mười món lợi ích.
Những gì là mười:
1. Một là lửa không thể cháy.
2. Hai là dao không thể cắt.
3. Ba là độc không thể trúng.
4. Bốn là nước không thể trôi.
5. Năm là quỷ thần hộ vệ.
6. Sáu là được thân tướng trang nghiêm.
7. Bảy là đóng các đường ác.
8. Tám là tùy theo ưa thích mà sanh về cõi Trời Phạm
Thiên.
9. Chín là ngày đêm thường an lành.
10. Mười là thân không lìa an vui.
Kinh Di Giáo: Nhẫn là đức, trì giới khổ hạnh chẳng sánh
bằng. Người thực hành hạnh nhẫn nhục được gọi là người
có sức mạnh của bậc đại nhân.
Kinh Nhẫn Nhục: Nhẫn là:
Sáng hơn cả mặt trời mặt trăng.
Sức của rồng voi, tuy gọi là hùng mạnh, so với sức
mạnh của nhẫn, vạn lần không bằng một.
Sắc lóng lánh của bày báu, kẻ phàm tục quý chuộng,
nhưng lòng ưu tư, gây nên tai hoạn.
Cái quý báu thủy chung an lành.
Bố thí mười phương, tuy có phước lớn, nhưng phước
ấy không bằng nhẫn.
Ôm nhớ điều nhẫn, làm việc nhân từ, đời đời khong
oán, trong lòng an vui, trọn không độc hại.
o Đời không nơi nương tựa, thì chỉ có nhẫn là có thể
cậy nương.
o Thuyền lớn có vượt nạn.
Thuoc hay hay cuu mang nguoi
Lam an vui nhà cửa, tai ương quái đản không sanh.
o Áo thần bằng đồng dầy, chúng binh không xâm
nhập.
o Y chi không nguyện nào chẳng được.
Kinh Bồ Tát Sanh Địa: Hạnh của Bồ Tát, nhẫn nại là
gốc. Nhẫn nại có bon
1,.Một là chịu đựng người mắng nhiếc, im lặng không báo thu
2 Hai là bị đánh đập không han
3.Ba là người làm mình giận tức, lấy từ bi mà
nghinh.
4. Bốn là bị người khinh chê hủy báng không nghĩ đó là
xấu ác.
Cổ Đức nói: Nhịn một câu, sóng yên, biển lặng. Nhường
một bước biển rộng, trời cao.
Im lặng là để khỏi sinh trùng trùng
Thien su noi:
Im lặng không phải là câm
Im lặng là để quán tâm của mình
Im lặng không phải bất bình
Tm lang la de khi sinh trung trung
Im lặng là để sống đại hùng
Thắng mình hơn thắng ngàn quân bên ngoài
Im lặng chẳng hơn thua ai
Im lặng là để tâm này thênh thang
Con quyết tu chi chi cũn Nhịn
nhịn hoài nhịn mãi con ơi
chẳng phải là nhịn ba lần thôi
Mà nhịn mãi đến thành Chánh Giác.
3-T0m lai
Khong noi, nghi, lam dieu ac
Pha trừ sân hận, oán thu, kieu man
Tu tam tu bi
Tam khong buong lung
Có sức mạnh của bậc đại nhân
Tu tâm từ bi.
Chịu đựng, vượt qua mọi trần canh vinh nhuc kho vui
Lợi ích của hạnh nhẫn:
Đạt thành Lục độ (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí huệ).
Chiêu cảm phước báo thù thắng.
Dong các đường ác.
Tùy theo ưa thích mà sanh về cõi Trời Phạm Thiên.
Thân tướng trang nghiêm.
Trường thọ.
c, lửa, gươm đao, thuốc độc không thể làm hại.
Quỷ thần hộ vệ.
Ngày đêm tó chí sắt đá, không nguyện nào chẳng thành.
Hồi hướng công đức này làm trợ nhân vãng sanh Cuc Lac
Câu hỏi 65:Co vi Thay noi Phat tu tử tại gia trước tiên phải tu phước. Có
đủ phước sau đó tu uệ mới thành tựu như ý. Có phải vậy
không thưa Thầy và chúng con phải tu sao để được giải
thoát sanh tử?
Đáp:
Nhà Phật dạy các pháp bất định nghĩa là không có pháp nào
cố định cả. Nên không thể cố chấp, khẳng định là trước
phải tu phước rồi sau đó tu huệ mới thành tựu. Tôi xin lần
lược góp ý:
1- Tu phước:
a) Phần đông Phật tử mình thích tu phước vì dễ tu: Cuối
tuần, Thứ bảy, Chủ nhật đến chùa công quả như nấu ăn,
làm vệ sinh v.v… mà không hề lên chánh điện nghe giảng
pháp, tụng kinh hay niệm Phat
Thử hỏi tu phước như vậy đến bao giờ mới gọi là đủ, bất
chợt vô thường đến thì sao? Những vị này có chút ít phước
nhưng thiếu trí huệ (si). Phước quá ít không đủ để tái sanh
về cõi Trời, mà si thì sinh làm súc sanh (thú).
Nếu công quả suốt đời được phước ở mức tương đối thì có thể san voi của vua hay làm chó của nhà giàu, để hưởng phước là
cuộc sống tương đối sung túc, tốt đẹp hơn đồng loại, như
ăn no, mặc ấm, đeo đồ trang sức,…
Dù sung sướng hơn đồng loại, nhưng vẫn là súc sanh si mê, không biết tu thì bao giờ, đời đời kiếp kiếp nào mới thoát kiếp thú.
- Điển hình, khi quán sát bầy kiến ở vườn ông Cấp Cô
Độc, Ngài Xá Lợi Phất nói: Bầy kiến này trải qua bảy Đức
Phật ra đời mà vẫn còn mang thân kiến.
- Đức Phật dạy: “Thân người khó được”, ví như:
Con rùa mù ở dưới đáy biển, trăm năm trồi lên mặt
biển một lần để chui vào bọng cây. Bọng cây nổi trên
mặt biển, bị sóng gió, ba đào đẩy đi một trăm năm, nó
trôi dạt không biết đến phương trời nào? Giả sử rùa mù
gặp được bọng cay vi mu khong thay duong lam sao ma chui vao bong cay
Người ngồi trên đỉnh núi thòng sợi chỉ xuống xỏ vào
lỗ cây kim để ở chân núi. Đỉnh núi cao ít nhất năm bảy
trăm hay ngàn mét, cao xa như vậy, sợi chỉ nhẹ, gió thổi
liên tục, sợi chỉ không thế nào xuống đến chân núi.
Dù cho xuống đến chân núi đi nữa, người ấy không thấy cây
kim ở đâu, làm sao thấy lỗ cây kim để xỏ vào. Giả sử
thấy được lỗ cây kim, khoảng cách xa, sợi chỉ nhẹ sẽ bị
gió thổi bay đi tứ phía làm sao mà xỏ vào lỗ được?ho
Hai thí dụ trên thật quá khó thực hiện, thiên nan vạn nan,
như vậy mà Đức Phật nói còn dễ hơn được lại thân người.
Đất dính ở đầu ngón tay (được thân người) so với đất
ngoài đại địa (mất thân người), như vậy mất thân người
nhiều gấp trăm ngàn vạn ức ức… lần so với được thân
người.
Thân người khó được như thế, hiện được thân này, chúng
ta phải trân quý nó. Trân quý ở đây không có nghĩa là yêu
thương chiều chuộng, mà là tận dụng nó trong việc tu hành,
đừng để luống qua một đời rồi hối tiếc, không biết bao giờ
mới có được thân như ngày hôm nay, Cổ Đức nói:
Thân này chẳng tính đời nay độ
Còn đợi bao giờ mới độ thân?
b) Quý vị làm công quả (bòn phước) cộng thêm vào phước
tu thập thiện bậc thượng, xả báo thân này quý vị sẽ được
sanh về cõi Trời để hưởng phước. Ở đây sống rất lâu ngàn
vạn năm, sung sướng quá quý vị chỉ lo hưởng thụ chớ
không tu.
Hưởng hết phước sẽ rơi vào ngũ đạo (địa ngục,\ ngạ quỷ, súc sanh, A tu la, người). Lúc bấy giờ Phật pháp không còn (Phật pháp chỉ tồn tại hơn 8.000 năm nữa). Phật Di Lặc chưa giáng thế, dù may mắn được làm người cũng đâu có phật pháp để mà tu.
Mãn kiếp người bị đọa vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là cầm chắc.
c) Quý vị làm công quả (bòn phước) cộng thêm vào phước
tu thập thiện bậc trung, khi thân hoại mạng chung quý vị sẽ
được tái sanh làm người tôn quý như vua, quan, triệu phú…
Lúc bấy giờ quyền cao chức trọng, giàu sang phú quý, quý
vị hưởng thụ dục lạc thế gian, tạo nhiều ác nghiệp chớ đâu
chịu khó tu.
Mãn kiếp người tránh sao khỏi bị đọa vào ba dường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bởi thế, Cổ Đức dạy: “Tu phước đời này là họa hoạn cho đời thứ ba” là vậy. Chọn pháp để tu hệ trọng như vậy, chúng ta phải hết
sức thận trọng!
2- Tu huệ:
Không hẳn là phải tu phước trước, có đủ phước rồi tu huệ
mới thành tựu, mà đơn phương tu huệ vẫn thành tựu nhưng
chưa vẹn toàn. Thời Đức Phật tại thế, có một vị Tỳ kheo đã
đắc quả A La Hán nhưng đi khất thực về bữa nào bình bát
cũng trống không. Ngài bị đói triền miên. Có vị Tỳ kheo
khác hỏi tại sao thế? Đức Phật đáp: Vì vị này thiếu phước.
3- Phước huệ song tu:
a) Như trên đã trình bày đơn độc tu phước không hay tu
huệ không vẫn thành tựu nhưng không viên mãn. Vậy
thì phước huệ phải song tu. Phước huệ như đôi cánh của
con chim. Thiếu một chim bay không được (không viên
mãn).
b) Kinh A Di Đà dạy: Không thể lấy chút ít thiện căn,
phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi kia (Cực Lạc),
rồi Ngài lại dạy tiếp: Nếu có thiện nam tử hay thiện nữ
nhân nào nghe danh hiệu Phật A Di Đà sanh tâm hoan hỉ
niệm Thánh hiệu này một ngày, hai ngày,… đến bảy ngày
đạt Nhất Tâm Bất Loạn, khi lâm chung tâm không điên
đảo, Phật (A Di Đà) và thánh chúng sẽ đến tiếp dẫn vãng
sanh (Cực Lạc).
Như vậy rõ ràng là niệm Phật sẽ có được nhiều thiện căn, phước đức nhân duyên. Bởi vậy nên Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư nói: Niệm một câu A Di Đà Phật diệt được trọng tội sanh tử trong tám mươi ức kiếp và được tám
mươi ức kiếp công đức vi diệu. Thế thì, niệm Phật là phước huệ song tu rồi phải không, thưa quý vị?
– Kinh Đại Tập nói: Đời mạt pháp, ức ức người tu hành
hiếm có người đắc đạo, duy nh
4- Chọn phápờ niệm Phật mà được giải
thoát sanh tử.
– Tượng Pháp Quyết Nghi Kinh nói: Sau khi Phật diệt độ là
thời Chánh pháp, trong năm trăm năm trì giới kiên cố. Thời
Tượng pháp một ngàn năm kế tiếp thiền định kiên cố. Thời
Mạt pháp một muôn năm niệm Phật kiên cố. Kiên cố có
nghĩa là thành tựu.
– Kinh Nguyệt Đăng Tam Muội nói: Tất cả chư Phật trong
mười phương ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) đều học pháp
niệm Phật, mau chóng chứng đắc đạo giải thoát. Thế nên
biết chư Phật trong mười phương ba đời (kể cả Phật Thích
Ca) điều do niệm Phật mà thành Phật.
Tóm lại chúng ta đã đi sâu vào thời Mạt pháp hơn một ngàn
năm rồi, càng đi sâu vào thời Mạt pháp căn cơ chúng sanh
càng hạ liệt. Thực tại mà nói, hiện giờ chỉ có Pháp môn
Tịnh độ (niệm Phật) là khế lý khế cơ mà thôi.
Chư Phật điều do niệm Phật mà thành Phật, phàm phu bạt
địa chúng ta muốn giải thoát sanh tử không có cách nào
khác hơn là niệm Phật.
Y cứ vào ba kinh nói trên, mọi người chúng ta hãy mau
mau gấp rút hạ thủ công phu, dõng mãnh tinh tấn niệm Phật
cầu vãng sanh Cực Lạc, nếu còn chần chờ chọn lựa gì khác,
sau này sẽ hối hận không kịp nữa!
Trich Sach La Thu Cuc Lac
Thich Minh Tue



