Hỏi Đáp Về Niệm Phật (TT)

44.Hỏi Đáp Về Niệm Phật (TT)

26- Hỏi xin hỏi Sư phụ, hiện tại con được tín tâm hoan hỷ, biết mình có thể vãng sanh, thích nghe người khác nói, cũng thích nói cho người khác nghe, nhưng có người nói: Bạn không chịu thọ giới Bồ-tát thì không thể nói cho người khác nghe. Không biết lúc chưa thọ giới Bồ-tát có thể nói cho mọi người nghe không?

Đáp: Bất kể thọ giới Bồ-tát hay không, thậm chí có qui y hay không, chỉ cần hiểu được lòng từ bi của Phật A-di-đà, thì có thể tùy duyên, tùy sức mà nói cho mọi người nghe, đem pháp hỷ của chúng ta cùng thụ hưởng với người khác, khiến cho ánh sáng cứu độ của Phật A-di-đà chiếu khắp thân họ.

Điều cần chú ý là: Chúng ta cũng phải hiểu căn cơ đối phương, biết cách nói như thế nào để đối phương tin nhận, bởi vì mục đích của chúng ta không phải để nói suông, mà để họ có thể tiến vào biển thệ nguyện của Phật A -di-đà, có thể tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà. Như thế, phương tiện thiện xảo là rất quan trọng, nói làm sao mới khiến họ tiếp nhận, đấy là điều chúng ta cần chú ý.

Mục đích của chúng ta là để đối phương tiếp nhận, chứ không phải vì danh lợi. Còn đối phương phê bình như thế nào đi chăng nữa, chúng ta vẫn không bị chi phối.

Hơn nữa, trước hết chúng ta phải hiểu tính cách của đối phương, lúc nói mới không nảy sanh ra tranh luận, nếu không sẽ cãi vã giận dữ rồi đường ai nấy đi, như vậy sẽ không hiệu quả, mà trái lại còn kết thêm duyên xấu, cho nên trước hết phải hiểu rõ đối phương.

27. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, nghe nói Cơ cũng có ba loại: Có hắc cơ, ám cơ, bạch cơ, xin Sư phụ khai thị cụ thể một chút.

Đáp: Hắc cơ’, chỉ cho bản tính mỗi người chúng ta, bất kể tin hay không, bản tính của chúng ta đều là tham sân si, dơ bẩn tối tăm, dù bạn có tẩy rửa như thế nào đi chăng nữa cũng không thể sạch được, chỉ đến thế giới Cực Lạc tự nhiên sẽ hóa giải. Đây là ‘hắc cơ’, ai cũng giống nhau.

‘Ám cơ’, chỉ cho người có tâm hoài nghi sự cứu độ của Phật A-di-đà. Trạng thái này là đen tối, vô minh, vì có hoài nghi. Đây là ‘ám cơ’.

‘Bạch cơ’, chỉ cho người tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà. Bởi vì, họ nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc, tuy còn tối tăm, nhưng chỉ tạm thời, không phải vĩnh viễn, cho nên tâm tin thuận gọi là ‘bạch cơ.

28-Hỏi: Có người căn cứ theo đoạn kinh văn ‘đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện’ trong kinh A-di-đà, khi niệm Phật, trước hết phát nguyện, sau đó hồi hướng, đồng thời còn hồi hướng cho Thiên long bát bộ1 và các nhà lãnh đạo các nước…

Đáp: Thật ra, không cần như vậy, mục đích niệm Phật của chúng ta là để vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đồng thời sáu chữ danh hiệu này đã đầy đủ tín-nguyện-hạnh, ngoài ra không cần dốc sức phát nguyện. Kinh A-di-đà nói: “Nếu có người đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện”. Đây chính là nói rõ nguyên tắc của người nguyện vãng sanh mà xưng danh hiệu thì nhất định được vãng sanh, hoàn toàn chẳng phải yêu cầu bạn hiện tại niệm Phật trước phải phát nguyện, đợi niệm Phật một chút rồi lại phải phát nguyện.

Phát nguyện hồi hướng, thì có người nói theo phương diện Phật, có người nói theo phương diện chúng ta.

Nói theo phương diện Phật: Lúc chúng ta không hay không biết, thậm chí tạo tội tạo nghiệp, không biết luân hồi về đâu thì Phật A-di-đà đã chủ động phát nguyện cho chúng ta, thành tựu thế giới Cực Lạc cho chúng ta, ban tặng thế giới Cực Lạc cho chúng ta.

Cũng như cha mẹ ở thế gian phát nguyện, muốn hoàn thành việc gì đó cho con cái. Bởi thế, Phật A-di -đà phát 48 nguyện và hoàn thành thế giới Cực Lạc cho chúng ta, đồng thời đem tất cả công đức đúc kết trong sáu chữ danh hiệu, sau đó đem câu danh hiệu này hồi hướng cho chúng ta, trở thành công đức của chúng ta. Chữ ‘hồi hướng’ này có nghĩa là ban ân, ban cho.

Chúng ta chẳng có việc thiện, chẳng tu tập, cũng chẳng có công đức, Phật A-di-đà đem công đức sáu chữ danh hiệu hồi hướng cho chúng ta, khiến chúng ta có được công đức này, tự nhiên có đại thiện, đại tu hành, đại công đức, cho nên nói theo phương diện Phật A-di-đà thì Phật A-di-đà đem sáu chữ danh hiệu phát nguyện hồi hướng cho chúng ta.

Về phần chúng ta: Chúng ta được sự cứu độ của Phật A-di-đà, tùy thuận Ngài, nguyện sanh về Cực Lạc. Đây là trạng thái tùy thuận nguyện sanh. Đối với chúng ta thì sự hồi hướng phát nguyện của chúng ta đã có đủ trong sáu chữ hồng danh.

Hồi hướng phát nguyện của Phật A-di-đà và hồi hướng phát nguyện của chúng ta đều đầy đủ trong sáu chữ danh hiệu, cho nên tín-nguyện-hạnh đều đủ bên trong, bởi thế chúng ta không cần hồi hướng nữa.

Cho dù hồi hướng phát nguyện cũng không giống với hồi hướng phát nguyện của người bình thường. Hồi hướng phát nguyện của người bình thường là: Tự mình niệm Phật, tích lũy số lượng công phu niệm Phật mà hồi hướng cho Phật A-di-đà, hoặc tích lũy thiện hạnh và công đức khác đều hồi hướng đến thế giới Cực Lạc.

Nếu như vậy chính là tự lực, không hiểu nguyên lý của câu danh hiệu này, không hiểu lòng từ bi của Phật A-di-đà, cũng giống như cầm dao đâm vào ngực của Phật A-di-đà, làm Ngài đau lòng.

Bạn làm như vậy mà muốn vãng sanh thì rất khó khăn, phải hồi hướng mới có thể vãng sanh. Hơn nữa, không hiểu được lòng từ bi của Phật A-di-đà mà niệm danh hiệu, sẽ không cảm thông với Ngài. Như vậy, chúng ta vẫn niệm ‘kệ Hồi hướng’? Vẫn niệm ‘kệ Hồi hướng’. Vào thời công phu sáng tối, sau cùng niệm:

Nguyện đem công đức này
Bình đẳng thí tất cả
Cùng phát tâm bồ-đề
Vãng sanh nước An Lạc.

Bài kệ này là do Đại sư Thiện Đạo làm, ý nghĩa là truyền bá sự hồi hướng của Phật A-di-đà.

29-Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, tâm phàm và tâm Phật của người niệm Phật trở thành một thể, liền được vãng sanh, vậy thì chúng ta tồn tại thân nhục thể có gọi Đới nghiệp vãng sanh1 không? Có phải trước lúc lâm chung, thân trung ấm không có? Còn có nỗi khổ về cái chết không?

Đáp:  Phật A-di-đà đã phát nguyện, đức hạnh Bồ-tát được tích lũy từ nhiều kiếp nằm ở đâu? Chính là ở đây, công đức của Ngài, là muốn trả món nợ tội nghiệp của chúng ta. Nếu Ngài không thể trả món nợ mà chúng ta mắc nợ người ta, chúng ta làm sao có thể thoát khỏi cõi Ta-bà này? Bởi thế trước đây, Phật A-di-đà trước hết phải trả nợ cho chúng ta, lúc chúng ta tín nguyện xưng danh thì tội nghiệp nhiều đời nhiều kiếp được Phật A-di-đà trả thay.Nếu nhục thể còn tồn tại thì tự nhiên có tham sân si, vẫn sẽ tạo nghiệp khác nữa. Nhưng các nghiệp này không làm chướng ngại đến sự vãng sanh.Chẳng hạn như, tuyết rơi xuống đất, càng rơi càng dày, nhưng nếu rơi xuống biển sẽ tan biến, pháp môn Tịnh Độ chính là như thế.

Như thế rốt cuộc là tiêu nghiệp hay mang nghiệp? Chúng ta nói mang nghiệp cũng được, tiêu nghiệp cũng được, đây là cách nói theo lí luận sơ cấp, đến thế giới Cực Lạc tự nhiên sẽ biết. Nhưng nói một cách triệt để, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn tiêu nghiệp, nếu không tiêu nghiệp thì bạn làm sao thoát khỏi luân hồi? Ví dụ nói bạn giết người, giết người phải đền mạng, mắc nợ phải trả tiền, bạn không trả mạng, tiền cũng không trả, làm sao lìa luân hồi? Vì thế, trước hết phải trả nợ, theo tình huống trả nợ này, đấy là tiêu nghiệp.

Vậy chúng ta còn có nghiệp không? Vẫn còn, bởi vì chúng ta chưa đoạn trừ tham sân si, có lúc tính khí bộc phát, khởi tâm vô minh với người ta, sau chuyện đó, dù có hối hận như thế nào thì cũng đã kết oán với người ta, nhưng không chướng ngại mà vẫn vãng sanh.

Đồng thời, chúng ta được ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ, nó có tác dụng khiến cho chúng ta lúc lâm chung, oán nghiệp mà ta gây ra cho mọi người không đến làm chướng ngại, cho nên nhiều đoạn trong Ấn Quang pháp sư văn sao

đều nói Đới nghiệp vãng sanh, nhưng chẳng phải ý của Đại sư Ấn Quang, có đoạn Đại sư nói: “Ở cõi này nói là đới nghiệp, đến Cực Lạc thì không có nghiệp nữa”. Đến Cực Lạc nghiệp sẽ đi đâu? Chúng đều được Phật A-di-đà làm tiêu mất.

Trước lúc lâm chung, có phải thân trung ấm đã vãng sanh không? Không phải, chúng ta còn sống thì không thể nói là thân trung ấm. Trước đây đã nói rồi, chúng ta đã chuyển sanh làm người, nhục thể sinh mạng gọi là hiện ấm; sát-na chết gọi là tử ấm; như thế thời gian từ chết đến chuyển thai gọi là trung ấm; nếu đi chuyển sanh gọi là sanh ấm. Quá trình thể sinh mạng của chúng ta phân làm bốn giai đoạn: Hiện ấm, tử ấm, trung ấm, sanh ấm.

Một người hiện đời tin Phật niệm Phật, sẽ không trải qua thân trung ấm, vừa tắt thở liền đến thế giới Cực lạc.

Người bình thường sau khi chết, A-lại-da thức lìa khỏi thân thể, lìa khỏi tử ấm này, vẫn chưa chuyển sanh, gọi là thân trung ấm. Thân trung ấm có thể vãng sanh không? Cũng có thể vãng sanh! Bởi vì thân trung ấm cũng là ‘chúng sanh trong mười phương’. ‘Chúng sanh trong mười phương’ bất cứ chúng sanh nào cũng đều bao hàm trong câu danh hiệu, thân trung ấm cũng là chúng sanh, nhưng họ là chúng sanh ở trung ấm.

Chúng ta ở nhân gian là chúng sanh ở nhân gian; ở cõi trời thì chúng sanh ở cõi trời; ở địa ngục thì chúng sanh địa ngục, đều là ‘chúng sanh trong mười phương’.

Nếu một người chết, chúng ta biết, lúc còn sống họ không học Phật niệm Phật, họ chết đã mấy tiếng đồng hồ, thậm chí đến hai ngày, cũng phải nắm lấy cơ hội nơi thân trung ấm này, ở bên họ khai thị pháp môn niệm Phật cho họ nghe, sau đó mọi người cùng niệm Phật, bởi vì không tận dụng lúc này, sẽ phải đến địa ngục thôi, hiện tại nhân duyên hòa hợp cũng có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Mấy ngày trước cũng đã giảng, pháp sư Tín Nguyện thường thường trợ niệm cho mọi người ở Trung bộ Đài Loan, trong đó có một người đã chết tám tiếng đồng hồ, diện mạo đã đen sì khó coi, khai thị ánh sáng của Phật A-di-đà cho người đó. Lúc đang khai thị đến loại thứ ba ‘Vô ngại quang’, trong khoảnh khắc, tướng mạo của người chết bỗng nhiên trở nên hồng hào, tươi tắn. Pháp sư nói sự chuyển biến này không phải từ từ mà ngay lập tức. Thông thường chúng ta trợ niệm cho mọi người, tướng mạo sẽ thay đổi, nhưng thay đổi dần dần, nhưng người này đột nhiên thay đổi một cách rất mau.

Pháp sư còn nói: Có người, sau khi chết mắt mở to, miệng mở to, mặt và thân thể đen sì, chết nửa tháng rồi mới đi mời pháp sư; người trong nhà không có học Phật, mà còn đốt giấy tiền vàng bạc nữa, cả phòng khói đen dày đặc. Pháp sư Tín Nguyện đứng bên khai thị niệm Phật, dần dần mắt, miệng người chết đều khép lại, mặt mày cũng trở nên hồng hào tươi tắn, thời gian hơn một tiếng rưỡi. Con gái của bà ta về hỏi một câu: “Đó là ai vậy? Có phải là mẹ con không?”. Bạn xem, mười lăm ngày rồi mà còn thay đổi, giống như thần thức của bà vẫn đang nghe pháp, thật không thể nghĩ bàn! Đương nhiên đây là trường hợp khá thù thắng.

30-Hỏi: Xin Sư phụ khai thị vấn đề phóng sanh.

Đáp: Hành vi phóng sanh, động cơ rất tốt, bởi vì họ phát tâm từ bi, không nỡ ỷ mạnh hiếp yếu, không nỡ thấy sinh mạng đang sống mà bị giết hại. Nhưng vận dụng lòng từ bi cần có trí huệ. Phải làm sao mới gọi là phóng sanh đúng nghĩa. Điều này khá quan trọng, cho nên cần phải suy nghĩ về phương pháp.Trước khi phóng sanh, tốt nhất chúng ta phải phát nguyện ăn chay, ngày nào chúng ta không ăn chay thì ngày ấy có người sát sanh vì chúng ta, cho nên ăn chay chân chính mới là phóng sanh chân chính. Sát có hai loại: Trực tiếp giết, gián tiếp giết.

Dù không thể ăn chay nhưng cũng nên dùng tam tịnh nhục1, bởi vì chúng ta đều là đệ tử học Phật.

Thông thường các tự viện đều có phóng sanh định kỳ, vì phóng sanh mà phóng sanh. Mọi người biết họ là người phóng sanh định kỳ, cho nên bắt sẵn trước (phóng sanh không định kỳ tốt hơn, vì người ta sẽ không đi bắt sẵn, phóng sanh định kỳ thì người ta sẽ đi bắt sẵn), vốn dĩ những sanh vật này đang sống tốt đẹp, vì bạn muốn phóng sanh cho nên chúng bị bắt.

Vì vậy, phóng sanh định kỳ, nếu nội dung tinh thần không thể bảo đảm được thì chỉ chạy theo hình thức.

Còn có, nơi bạn phóng sanh nếu không thích hợp thì phóng sanh cũng như không, chẳng bao lâu chúng sẽ chết, vả lại còn làm ô nhiễm môi trường. Vì thế, cần suy nghĩ về phương pháp phóng sanh. Nếu từ động cơ phóng sanh là muốn thấy nó sống, không nỡ thấy nó chết, thật sự đó là tâm của Phật và Bồ-tát, nhưng cần suy nghĩ về phương pháp.

Đồng thời, nếu thực sự muốn phóng sanh thì có thể phóng sanh định kỳ, nhưng phải làm lặng lẽ, tốt nhất đến chợ hoặc chỗ sát sanh, mà mua chúng sanh sắp bị giết. Nếu để người ta biết trước, họ sẽ cố ý đi bắt. Vì thế, phóng sanh vốn rất tốt, nhưng trong khi thực hiện phải suy nghĩ.

Vậy thì có nên thúc đẩy việc phóng sanh hay không? Nó có giá trị thúc đẩy. Bởi vì, một chúng sanh bị giết, tưởng tượng xem nó rất đau đớn, nó còn sống mà bị bỏ vào chảo nước sôi. Nếu như chúng ta, thì có chịu nổi không? Đầu ngón tay bị kim đâm hoặc bị giọt nước sôi bắn trúng, thì đã khổ rồi, huống gì toàn thân? Thật sự khổ không thốt nên lời, cho nên phóng sanh là việc phải đề xướng, nhưng phải cố gắng không gây ra tác dụng phụ, giảm thiểu đến mức thấp nhất tác dụng phụ.

Chúng ta phóng sanh chúng sanh, khiến cho sinh mạng vốn bị giết, chết non, có thể kéo dài mạng sống. Đức Phật A-di-đà cứu độ chúng ta, cũng như đem chúng ta phóng sanh đến thế giới Cực Lạc, không chỉ lìa sáu đường, mà còn thành Vô lượng thọ.

Chúng ta phóng sanh, đương nhiên không giống với nghi thức phóng sanh thông thường, chúng ta khai thị nguyên lí cứu độ của Phật A-di-đà và sau đó niệm Phật cho nó.

Thời xưa, có một con ngựa, sau khi chết nó báo mộng cho người chủ, trong mộng con ngựa hiện thân người xuất gia, nói với người chủ rằng: “Bởi vì, lúc tôi còn sống, nhận được sự chỉ dạy của ông mà tiếp nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, xưng niệm danh hiệu Ngài, hiện tại đã vãng sanh về thế giới Cực Lạc, nay tôi đến cảm ơn ông”. Con ngựa cũng có thể nghe hiểu được tiếng người, có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Bởi vậy, nếu chúng ta phóng sanh, nên nói về lòng từ bi cứu độ của Phật A-di-đà cho chúng nghe, rồi sau niệm Phật, làm cho chúng nghe lọt vào tai mãi trở thành hạt giống đạo nghiệp.

Cái quý trọng nhất trên thế gian này là sinh mạng, cái bi thảm nhất trên thế gian này là bị giết hại, có một câu nói rất hay: “Phải quý trọng hạt gạo, bởi vì đấy là gốc của phước”. Cũng giống như vậy, “phải trân quý sinh vật nhỏ, bởi vì đấy là gốc của trường thọ”.

Đương nhiên, ngoài Phật A-di-đà ra, chúng ta không cầu phước cầu thọ, vì phước và thọ đều nằm trong nguyện của Phật A-di-đà.

(Còn tiép)

Trích Đại Ý 3 Kinh

Thích Minh Tuệ

 

 

Viết một bình luận