50.Hỏi Đáp Về Niệm Phật (TT)
-
Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, tác dụng và phương pháp sử dụng của mền Đà-la-ni1?
Đáp: Người ta in kinh chú trên mền Đà-la-ni. Những kinh chú này có công năng tiêu trừ được nghiệp chướng, tăng trưởng phước huệ thậm chí khiến cho mọi người lìa sáu nẻo ba đường.
Phương pháp sử dụng: Nếu thổ táng thì phủ lên thân, rồi đưa vào quan tài, sau đó hạ táng cùng quan tài. Nếu hỏa táng thì nên đặt trên quan tài, đợi hỏa táng xong, đem tro cốt bỏ vào hũ, phủ mền Đà-la-ni lên sau đó đậy nắp lại.
Chúng ta học pháp môn Tịnh Độ không nên dựa vào mền Đà-la-ni. Nếu hàng thân thuộc của chúng ta chết mà không biết tương lai của họ như thế nào, cho nên đắp cho họ mền Đà-la-ni để phòng bất trắc thì có thể được.
Nhưng, nếu có người chết, mền Đà-la-ni đúng nghĩa, chính là nói về pháp môn Tịnh Độ cho họ nghe, giúp họ xưng niệm sáu chữ danh hiệu, nhờ vào công đức của Phật A-di-đà mà thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Chúng ta không có thần thông, không biết được quả báo của họ như thế nào, nhưng cố gắng hết lòng giúp đỡ họ lâm chung.
Người sắp lâm chung, nếu khi họ còn sống có tín-nguyện niệm Phật thì tốt, nếu họ không có tín-nguyện, chẳng phải lúc này là thời điểm then chốt để siêu sanh hoặc đọa lạc đấy sao? Nếu không nắm bắt thời cơ này thì sẽ không có cơ hội. Lòng đại bi thực sự của Phật A -di-đà hiển hiện ngay lúc này. Hiện tại họ phải rơi vào địa ngục, lúc này chỉ có Phật A-di-đà mới có thể cứu được, cho nên lòng đại từ đại bi hiển lộ ngay ở đây.
Nếu không thể hiển lộ ở đây, thì cũng khiến cho chúng sanh này được cứu độ, ‘đại từ đại bi’, nếu không thể gọi ‘đại’ thì có giới hạn. Vì thế, vào lúc này chúng ta nên giảng giải về sự cứu độ của Phật A-di-đà và xưng hiệu danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ cho họ nghe, luôn có hiệu quả không thể nghĩ bàn. Dù cho họ tắt hơi thở đã ba ngày, bốn ngày, một tuần hoặc nửa tháng đi nữa cũng có hiệu quả tốt.
Bởi thế, mền Đà-la-ni tốt nhất chính là niệm Phật.
Thời cổ Ấn Độ, có một vị Tì- kheo chết không biết là do mắc bệnh nặng hay là do nguyên nhân gì mà rất đau đớn. Có một vị Bà-la-môn đi ngang qua cửa nhà lúc vị đó chưa chết, nghe tiếng kêu bi thương đau đớn, vị Bà- la-môn viết một đoạn thần chú trên giấy, rồi đeo trên cổ của vị Tì-kheo
này. Sau đó, vị Tì-kheo chết làm lễ mai táng. Đến địa ngục vì có câu chú Đà-la-ni đeo trên thân, chúng sanh có duyên trong địa ngục, nhờ oai lực chú Đà-la-ni phóng ánh sáng, mà được thoát khỏi địa ngục, vị Tì-kheo trở lại dương gian. Có thể thấy oai thần công đức của câu thần chú rất vi diệu.
Nhưng câu danh hiệu này chính là bản thân của Phật A-di-đà, mà Ngài là vua trong các Đức Phật, sáu chữ danh hiệu này đầy đủ tám mươi bốn nghìn pháp môn, tất cả trăm nghìn Đà-la-ni đều ở trong sáu chữ danh hiệu này. Bởi thế, cổ đức gọi sáu chữ hồng danh là vua của các thần chú.
Như vậy, đeo Đà-la-ni sáu chữ hồng danh trên thân cũng không bằng mang trong tâm chúng ta, mang ở trong A-lại-da thức, nó vĩnh viễn không thể rơi rớt và mất đi, gặp duyên sẽ phóng ánh sáng, tự nhiên độ khắp chúng sanh có duyên.
32. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, con và chồng con đồng tu, nhưng anh ấy còn ăn thịt, như vậy có ảnh hưởng đến sự vãng sanh hay không? Tiện thể con xin hỏi thêm, tại sao gọi là giới u minh?
Đáp: Ăn thịt hay không chẳng phải là điều kiện vãng sanh, vãng sanh không có quy định bạn phải ăn thịt hay ăn chay. Chúng sanh trong mười phương mỗi chúng sanh đều khác nhau về cơ duyên, nếu bạn có thể không ăn thịt, vậy thì không ăn, nếu ăn thịt thì cứ ăn. Nhưng bạn ăn thịt không thể nói: “Ai dà, ngon nhe! Ta có Phật A-di-đà cứu độ, cho nên cứ ăn thỏa thích”, không nên như vậy, phải có tâm hổ thẹn.
Bởi vì, Phật A-di- đà muốn cứu độ chúng sanh trong mười phương, như vậy hiện tại thịt cá bày trên bàn chẳng phải là một trong chúng sanh mười phương mà Đức Phật A- di- đà cứu độ đó sao? Đúng vậy! Nhưng chúng ta lại giết ăn chúng, cho nên chúng ta phải có tâm hổ thẹn. Chúng ta chẳng phải cố ý muốn giết ăn, mà là hoàn cảnh chúng ta không cho phép, nên phải có tâm hổ thẹn. Nếu phải ăn thì nên niệm Phật—‘Chí tâm tin ưa, muốn sanh về nước Tôi’, sau đó là niệm Phật ‘cho đến mười niệm’, nếu không như thế thì làm sao đây?
Phật A-di-đà nói: “Cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”, Đại sư Thiện Đạo cũng nói: “Mỗi niệm xưng danh thường sám hối”, cho nên mỗi niệm xưng danh tự nhiên là sám hối sự bất an trong tâm chúng ta. Khi hiểu được điều này, chúng ta sẽ không lo lắng, bây giờ chúng ta hiểu, hóa ra mỗi niệm xưng danh chính là sám hối, vì thế nên Nhất hướng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà.
Thiện có thiện báo, ác có ác báo, chúng ta ăn thịt thì có quả báo ăn thịt, nếu Phật A-di-đà không đến cứu độ thì chúng ta phải chịu quả báo đó.
Vì lẽ đó, nghĩ đến hạng chúng sanh chúng ta, chẳng biết làm sao, xưa nay đã sát hại vô số chúng sanh, ăn thịt vô số súc vật mà chúng ta mới sống đến bây giờ! Nếu không phải Phật A-di-đà cứu độ thì chúng ta còn phải trả nợ. Nghĩ đến bản thân mình chẳng biết làm sao, nghĩ đến nghiệp chướng sâu nặng của mình, thì càng phải tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà. Nhưng sự cứu độ của Ngài hòa vào tâm chúng sanh, khiến cho các chúng sanh ấy được an lành.
U minh là chỉ cho cõi âm, chúng ta thay người chết thọ năm giới, bởi vì họ đã chết, không thể thọ giới, vậy thì chúng ta thay họ thọ giới, đây gọi là thọ giới u minh.
33. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, con biết sự cứu độ của Phật A-di-đà là không nên làm những việc có lỗi với Phật mà nên làm những việc để báo ân Phật, nhưng đôi khi vô tình gây nên nghiệp thì có bị ảnh hưởng không?
Đáp: Nếu nói về hạng chúng sanh chúng ta thì lúc nào mà không tạo nghiệp? Kinh Địa Tạng nói: “Chúng sanh trong cõi Nam Diêm-phù-đề, cử chỉ động niệm đều là nghiệp, đều là tội cả”. Đặc biệt là, sở dĩ chúng ta có sống là nhờ vào ăn thịt chúng sanh–Ai sanh ra mà không ăn thịt? Bởi thế, chúng ta đều đã tạo nghiệp giết hại chúng sanh, chẳng phải tự mình giết mà là mọi người giết cho chúng ta ăn, khởi tâm động niệm đều là nghiệp, đều là tội cả.
Chúng ta khởi tâm động niệm đều là tham sân si, đều là tự tư tự lợi, coi mình là số một. Hôm nay muốn chụp hình, phải sửa soạn lại dung mạo; khi có ảnh, cái nhìn đầu tiên biết ngay là mình. Bởi thế tự nhiên chúng ta coi mình là số một. Nếu mọi người đối xử tốt với chúng ta, khen ngợi vài tiếng thì trong lòng rất vui vẻ.
Nếu nói vài câu xấu với chúng ta, hoặc nói sau lưng, thì chúng ta sẽ không vui; bị sỉ nhục, phỉ báng lại càng không vui. Vì thế, tham sân si luôn hiện hữu trong tâm chúng ta, cho đến chết cũng không bỏ được, dù cho chúng ta tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà đi chăng nữa, nó cũng vẫn như thế.
Phật A-di-đà chính là muốn cứu độ những chúng sanh như thế. Điều kiện cứu độ của Phật A-di-đà là, bạn chỉ cần xưng danh niệm Phật thì được rồi.
Câu danh hiệu này, nếu là chiếc thuyền, hoặc chiếc máy bay, bạn xưng niệm câu danh hiệu này thì bạn đã ở trong chiếc thuyền hoặc ngồi trên máy bay này rồi, bạn hiểu được như vậy thì tự nhiên sẽ xưng danh niệm Phật suốt cả cuộc đời. Chúng sanh như chúng ta đây, chỉ lấy Phật A-di-đà làm bổn tôn của chúng ta, là vị cứu chủ của chúng ta, là sinh mạng của chúng ta, chứ không có vị bổn tôn thứ hai, không có vị cứu chủ thứ hai mà để chúng ta nương tựa, vì thế, Phật đường của chúng ta chỉ cần an trí một tôn tượng Phật A-di-đà, nhiều nhất là ba vị Tây phương Tam thánh là được rồi.
Trong Quán kinh tứ thiếp sớ, Đại sư Thiện Đạo nói:
Nếu chúng ta xưng danh thì Nhất tâm chuyên xưng danh hiệu‘Nam-mô A-di-đà Phật’; nếu lễ bái thì nhất tâm chuyên lễ Phật A-di-đà; quán tưởng (cách quán tưởng này chẳng phải mười ba pháp quán về Định thiện trong Quán kinh, mà tưởng tượng quê hương tốt đẹp mà tương lai chúng ta sẽ đến), cũng là tưởng tượng quê hương của chúng ta, chứ không tưởng tượng cõi nước chư Phật trong mười phương khác; cúng dường khen ngợi, chỉ cúng dường tán thán Đức Phật A-di-đà.
Tâm trước sau phải chuyên nhất, cũng như lên đường cao tốc thì chỉ thẳng tiến, không thể chạy lui, khi dừng lại thì đến đích, không có ngả rẽ, cho nên khiến cho chúng ta không còn trở lại sáu nẻo luân hồi. Không lên đường thì thôi, một khi lên đường thì nhất định đến thế giới Cực Lạc.
Chúng sanh tạo tội tạo nghiệp như chúng ta đây, tiếp nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, xưng niệm câu danh hiệu này, có nên cao ngạo, dương dương tự đắc không?
Không nên như thế, trái lại, nên thông cảm người khác, bởi vì Phật A-di-đà thông cảm chúng ta, trước đã phát nguyện cho chúng ta, trước đã tu hành cho chúng ta, nguyện và hạnh của Ngài đã phát nguyện cho chúng ta. Ngài đem hạnh nguyện đã tu, ban tặng cho chúng ta, mà không cần chúng ta báo đáp, mục đích của Ngài là: ‘Bạn chỉ cần đến thế giới Cực Lạc, bạn chỉ cần tùy thuận sự cứu độ của Tôi’.
Thí như người mẹ dốc sức lo cho con cái mà không cầu báo đáp, con cái sanh ra thì họ đã có tâm: ‘Mẹ muốn dùng sinh mạng của mẹ để bảo hộ con’. Đây là thiên tánh. Khổng Tử nói: “Chưa học nuôi dưỡng con mà đi lấy chồng”. Không có ai nói: “Tôi muốn lấy chồng, trước hết phải học phương pháp và tâm nuôi con cái”, không có, cũng không cần thiết, bởi vì chỉ cần sanh con ra thì tự nhiên sẽ thương yêu và nuôi nấng con.
Phật A-di-đà cứu độ chúng ta cũng là thiên tánh. Thiên tánh của Ngài, sự tồn tại của Ngài chính là cứu độ chúng sanh mang tội nghiệp.Thí như có người giàu mà lại từ bi, anh ta mang tiền cho người nghèo dùng, nếu đối phương có tiền, anh ta sẽ không cho. Anh ta có tâm thương yêu, vả lại giàu có, dù anh ta cho rất nhiều tiền, nhưng đối với anh ta mà nói, chẳng có tổn thất gì cả, bởi vì anh rất giàu có. Anh ta cho tiền, không phải cho người giàu có, mà cho người nghèo khó và người cần tiền.
Phật A-di-đà duỗi tay sắc vàng đợi chúng ta đã mười kiếp, đối tượng mà Ngài muốn tiếp dẫn và kêu gọi, không phải là thánh nhân mà là hạng phàm phu. Chúng ta không cảm thấy mình biết tu hành, mình rất an lạc, mà là cảm thấy mình không biết tu hành, mình đang khổ đau, đang lo sợ luân hồi sanh tử của bản thân, hạng người như chúng ta đây chính là đối tượng mà Phật A-di-đà kêu gọi.
Chúng ta đã thể ngộ được tâm Phật, chúng ta sao có thể nói: “Ai dà! Bạn xem tôi đã được cứu rồi, còn bạn, bạn phải xuống địa ngục”—không thể như vậy, trái lại, sẽ thông cảm người khác, hơn nữa nói: Ta có liên quan gì với Đức Phật A-di-đà không? Không có đâu! Phật A-di-đà cuối cùng xem chúng ta thành người thân của Ngài, thành chính bản thân Ngài, phát nguyện tu hành cho chúng ta, thậm chí đem pháp môn niệm Phật vãng sanh dạy chúng ta, xem chúng ta như cha mẹ của Ngài mà hiếu thuận cung kính, mục đích chính là để ta thể ngộ được sự cứu độ của Ngài, sau đó thoát khỏi sự thống khổ của mình, đây thuần túy là tâm đại bi của Ngài.
Sau khi tiếp nhận tâm đại bi của Phật A- di-đà, chúng ta sẽ phát khởi bi tâm này để tha thứ người khác, bao dung và bỏ qua cho người khác. Chúng ta lãnh thọ nhiều thứ của Phật A-di- đà ban cho chúng ta, chúng ta sẽ đem cho người khác.
Điều mà Phật A-di-đà cho chúng ta là sự chết đi sống lại. Chúng ta sống lại không những được sinh mạng, mà còn được sinh mạng thành Phật.
Phật A-di-đà cho chúng ta chẳng phải tiền bạc vật báu, mà là thế giới Cực Lạc, châu báu ở thế giới Cực Lạc, trên mặt đất đều là vàng ròng. Phòng này của chúng ta là một đống gạch xếp thành, còn đống gạch ở thế giới Cực Lạc toàn là vàng ròng; cái phong phú nhất ban cho chúng ta là Vô lượng thọ và Vô lượng quang, cho chúng ta 48 đại nguyện giống Phật A-di-đà—-đây là những thứ Phật A-di-đà cho chúng ta!
Lúc đó, chúng ta sẽ cảm nhận được: “Ta rất giàu có, không mong muốn mà lại có nhiều thứ như vậy”. Hôm nay, chúng ta cầm chút ít đồ cho mọi người, có còn keo kiệt nữa
không? Hôm nay mọi người thiếu chúng ta chút ít, chúng ta nhất định phải khổ công đòi lại, có như vậy không? Không, đã không tính toán những thứ này rồi. Tâm sẽ chuyển hóa.
Bởi thế, pháp môn Tịnh Độ tuy không nhấn mạnh về lục độ vạn hạnh, chỉ nhấn mạnh Nhất hướng xưng danh, nhưng lục độ vạn hạnh sẽ tự nhiên lưu xuất từ nội tâm của người hiểu được Nhất hướng xưng danh.
Người tu hành tự lực, trước đây chưa bố thí thì phải nhấn mạnh bố thí, hơn nữa lúc bố thí sẽ so đo trong lòng: ‘Ta bố thí nhiều hay ít, công đức nhiều hay ít’, thậm chí tính toán: “Hiện tại ta muốn bố thí, ta phải cầm ra bao nhiêu tiền, số tiền đó sẽ không ảnh hưởng đến cuộc sống, hoàn cảnh của gia đình, không ảnh hưởng đến sự nghiệp. Nếu như có ảnh hưởng, thì phải cân nhắc”. Nhẫn nhục cũng như thế, hôm nay chịu sự phê bình và lăng mạ của mọi người, tâm sẽ nghĩ: “Phải nhẫn, phải nhẫn, phải có tu hành”.
Nhưng, lãnh thọ sự cứu độ của Phật A -di-đà thì khác, đối phương chân chính yêu cầu, thậm chí không suy nghĩ về mình, bởi vì chúng ta nhận được quá nhiều; bị người khác lăng mạ và sỉ nhục, trước đây là nhẫn nhục, nhưng hiện tại lại yêu cầu họ tha thứ chúng ta. Chẳng phải chúng ta mắc nợ người đó sao?
Người đó chẳng phải đã bị chúng ta lăng mạ, sỉ nhục đó sao? (Nếu không phải như vậy, chúng ta dễ giải thoát, chẳng phải là người ‘không có duyên ra khỏi sanh tử’) Có thể hiểu được điều này, tâm chúng ta tự nhiên trở nên mềm dịu, đó gọi là ‘chạm ánh sáng mát dịu’ (tức xưng niệm câu danh hiệu này, sẽ chạm đến ánh sáng của Phật A-di-đà, thân tâm sẽ trở nên dịu dàng).
Nhưng, xưng danh thì có tự lực xưng danh và tha lực xưng danh, mà tha lực xưng danh cần phải hiểu rõ nguyên lý và nghĩa chân chánh của sáu chữ danh hiệu. Thế thì, hôm nay điều chúng tôi muốn nói, là nguyên lý sáu chữ danh hiệu, hiểu rõ nghĩa chân chánh của sáu chữ danh hiệu, là tự nhiên đang tiếp nhận sự bảo hộ của ánh sáng Đức Phật A-di-đà, tiếp xúc ánh sáng thì sẽ thay đổi.
34. Hỏi: Điều mà Pháp sư vừa mới giảng, là Đức Thế Tôn phó chúc cho ngài A -nan, cố gắng xưng niệm câu danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ này. Con hiểu lời nói của Pháp sư là: Lãnh thọ sức oai thần công đức lợi ích của câu danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật này, có phải là giống như ngài nói, con hiện nay xưng niệm ‘cho đến mười niệm’, là hoa rụng sen thành? Như thế, con hiện nay đã được cứu độ rồi phải không?
Đáp: Phải, nguyện sanh xưng danh, hiện tại nhận lãnh, hiện tại được cứu, lúc nào cũng là lúc được cứu độ, nơi nào cũng là nơi được cứu độ.
35. Hỏi: Vừa nghe Sư phụ giảng, nếu hiện tại xưng niệm câu danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, sẽ được Phật Vô Lượng Thọ nhiếp thủ không bỏ,hiện tại nhất định vãng sanh, như vậy có khác với người lâm chung vãng sanh không?
Đáp: Chúng sanh hiện tại tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà rồi vĩnh viễn không thay đổi, Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Ngài, sự vãng sanh của người đó đã được quyết định lúc người đó tiếp nhận, chẳng phải đợi đến lúc lâm chung đó mới quyết định. Lúc lâm chung, dù nằm trên giường bệnh thân tâm đau đớn, không thể niệm Phật cũng vẫn vãng sanh, hơn nữa nội tâm cũng an ổn, không vì không thể niệm Phật được mà sợ hãi, lo lắng, bất an. Nếu không như thế, cho thấy những gì nghe ban đầu là nghe chưa đủ, tin cũng chưa đủ.
Bởi thế, tu pháp môn Tịnh Độ phải hiểu rõ nguyên lý cứu độ của Phật A-di-đà.
Nhưng, có người hiểu rõ nguyên lý nhưng tâm vẫn bất an, dù như thế, Đức Phật A-di-đà cũng luôn luôn gia hộ, giải trừ chướng ngại của chúng ta, khiến cho tâm chúng ta được an ổn. Cho nên, chúng ta chỉ cần Nhất hướng xưng danh, tự nhiên có sự gia hộ của Ngài, không nên lo ngại gì cả.
Nhận Định: Đấy gọi là “Bình Sanh Nghiệp Thành” có nghĩa là ngay sau khi niệm Nam Mô A Di Đà Phật tức thì tịnh nghiệp vãng sanh thành tựu (tiếp nhận sự vãng sanh, sự cứu độ) chứ chẳng phải đợi đến lúc lâm chung mới quyết định. Bởi vậy lúc lâm chung, đang ngủ, bị hôn mê bất tỉnh, bị á khẩu, bị tai nạn hốt hoảng, bị bịnh dau đớn v.v.. không thể niệm Phật, cũng vẫn vãng sanh như thường lệ
Nam Mô A Di Đà Phật
Còn tiếp
Trích Đại Ý Ba kinh
Thích Minh Tuệ


