-
55. Hỏi Đáp Về Niệm Phật (TT) - 36-Hỏi: Vừa mới nghe Triệu cư sĩ giảng, một là liền được vãng sanh, hai là lúc lâm chung vãng sanh. Con cho rằng đây là hai vấn đề. Một là, sau khi anh ta tin nhận sự cứu độ của Phật thì quyết định vãng sanh; hai là, lúc lâm chung gặp được vị thiện tri thức, có lẽ là anh ta vãng sanh lúc lâm chung, xin Sư phụ giảng đôi chút về vấn đề lâm chung vãng sanh?Đáp: Được! Đây giống như hai loại căn cơ. Nguyện thứ 18 nói ‘cho đến mười niệm’, Tổ sư Đàm Loan nói:Kinh nói mười niệm là nói sự nghiệp đã thành tựu.
Chính là: ‘Mười niệm’ của ‘cho đến mười niệm’ được nói trong kinh, xác định nghiệp vãng sanh của chúng sanh đã thành tựu. Nghiệp vãng sanh đã thành tựu ngay chỗ ‘cho đến mười niệm’, không cần đợi đến lúc lâm chung mới nói ‘ta có thể vãng sanh’, không cần lúc lâm chung phải giữ được chánh niệm hiện tiền, thấy Phật và Bồ-tát đến tiếp đón, lúc này mới chứng minh ‘sự vãng sanh của ta đã thành tựu rồi’, chẳng phải lúc đó mà là lúc ‘cho đến mười niệm’.
Như vậy, căn cơ ‘cho đến mười niệm’ của nguyện thứ 18, hoàn toàn không nói nhất định phải lúc bình sanh, hoặc nói nhất định phải lúc lâm chung. Đã là ‘cho đến’ thì đã bao hàm căn cơ lúc bình sanh, cũng bao hàm căn cơ lúc lâm chung, ý nói: Lúc bình sanh bạn gặp được duyên cứu độ của Phật A-di-đà, mà phát tâm suốt đời tín-nguyện niệm Phật, thì lúc đó được gọi là Bình sanh nghiệp thành.
Nếu người nào suốt đời không có duyên với Phật, vừa không học pháp môn khác, cũng không tiếp nhận pháp môn Tịnh Độ, thậm chí không những suốt đời không có duyên với Phật, mà ngược lại tạo rất nhiều tội nghiệp, thậm chí điều ác nào cũng làm cả, đến lúc lâm chung sắp tắt thở, mới gặp được thiện tri thức nói về pháp môn này cho họ nghe; hoặc bởi suốt đời tạo ác, nên lúc lâm chung bị lửa địa ngục thiêu đốt, họ mới sợ hãi, lúc này gặp được vị thiện tri thức khai thị sự cứu độ của Phật A-di-đà, họ liền tin nhận sự cứu độ của Phật, sẽ được vãng sanh—đấy chính là căn cơ lúc lâm chung.
‘Nghiệp thành’ có căn cơ bình sanh, có căn cơ lúc lâm chung. Đương nhiên, nếu lúc Bình sanh nghiệp thành, nó sẽ xuyên suốt đến lúc lâm chung, đã là Bình sanh nghiệp thành thì đương nhiên cũng là Lâm chung nghiệp thành, bởi vì sự vãng sanh không phải lúc lâm chung mới quyết định, mà ngay lúc bình sanh đã tin thuận sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu Ngài đã quyết định rồi. Vì thế, chẳng phải đợi đến lúc lâm chung mới quyết định vãng sanh, họ niệm Phật, mỗi câu danh hiệu Phật đều quyết định vãng sanh, mỗi niệm đều quyết định vãng sanh.
37. Hỏi: Vừa mới nghe ngài khai thị nhiều như vậy, con thật sự tin sâu lúc lâm chung sẽ được Phật gia hộ vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Là người phàm phu, một là phải tin sâu niệm Phật vãng sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc; hai là đối diện với vấn đề hoằng pháp, như cá nhân con, rất ngu ngốc, khả năng diễn đạt cũng rất kém, các phương diện tu hành thì chẳng ra gì, nhưng con nghĩ: Tự mình càng phải tu hành thêm nữa, có phương pháp nào để tăng thêm trí huệ, có phải là mâu thuẫn không? Xin Sư phụ khai thị.
Đáp: Đây chính là ‘tự tin và dạy người tin’ mà Đại sư Thiện Đạo đã nói.
Lãnh thọ sự cứu độ của Phật A-di-đà, bỗng nhiên có thể tự tin và dạy người tin, lúc đó mới cảm thấy sự thiếu sót của mình, thế thì phải làm sao đây? Cần phải xem nhiều sách thuộc hệ tư tưởng Tịnh Độ của Đại sư Đàm Loan, Đạo Xước và Thiện Đạo, đồng thời nghe những băng giảng về những tư tưởng này, có thể gia tâm suy ngẫm. Sau khi hiểu rõ đạo lý cứu độ của Phật A-di-đà, giảng lại cho người khác nghe sẽ có nội dung sâu sắc hơn.
Mặt khác, cần phải quán sát căn tính của đối phương, khả năng tiếp nhận của anh ta được bao nhiêu? Nếu cảm thấy đối phương hoàn toàn không thể tiếp nhận, thậm chí sẽ phỉ báng, như vậy chúng ta phải cân nhắc. Nếu thấy đối phương có thể tiếp nhận, ta dùng phương thức nào mới có thể khiến cho đối phương tiếp nhận? Mục đích của chúng ta là làm cho anh ta tiếp nhận, cho nên lúc này cần có những phương tiện khéo léo.
Nói tóm lại, phải làm phong phú bản thân, chỉ có người biết bơi lội mới có thể cứu người đuối nước. Nếu mình không biết bơi thì đừng nói chi đến việc cứu người đuối nước, ngược lại, phải cần người khác đến cứu. Cho nên, bản thân chúng ta phải được lợi ích trước, sau khi được lợi ích, có khi không cần phải cố ý cũng sẽ tự nhiên ảnh hưởng đến người khác.
‘Tự lợi lợi tha’, chỉ có tự lợi mới có thể lợi tha được. Chỉ có sau khi mình tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, mới có thể dạy người tin nhận. Nếu quá trình tin nhận của bản thân rất hạn hẹp, muốn khiến người ta tin nhận, đương nhiên là không được. Cho nên, tất cả mọi việc trước hết phải tự mình làm.
38. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ! Nếu có người nào sau khi vãng sanh, họ không muốn hồi nhập Ta-bà, muốn trụ lại thế giới Cực Lạc, đấy là người Tiểu thừa đúng không? Người này có thể thấy Phật A-di-đà không?
Đáp: Bất kể người nào vãng sanh đều thấy được Phật A-di-đà, bởi vì thế giới Cực Lạc là pháp môn Đại thừa, không vãng sanh thì thôi, một khi vãng sanh thì sẽ thay đổi căn tính của Tiểu thừa, tự nhiên sẽ phát nguyện độ khắp chúng sanh.
Cũng giống như nước trên mặt đất rất khác nhau, có chỗ sạch, có chỗ dơ, có nước trong ly, cũng có nước sông Hoàng Hà, nước sông Trường Giang, đều không giống nhau, nhưng một khi chảy vào biển cả thì có cùng một vị mặn. Thế giới Cực Lạc có thể chuyển hóa tâm lượng của Tiểu thừa thành tâm lượng của Đại thừa, cho nên chúng ta cứ vãng sanh, đến đó có Phật giúp chúng ta chuyển hóa.
39. Hỏi: Người không vào cửa Phật, niệm Phật có vãng sanh không?
Đáp: Người không vào cửa Phật, người không quy y Tam bảo, nếu suốt đời anh ta đều niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, cũng nhất định vãng sanh, so với người có quy y mà không niệm Phật, không có công đức lợi ích của sự vãng sanh, thì càng to lớn không thể nghĩ bàn. Bởi vì, suốt đời anh ta niệm Phật, dù không biết nhưng anh ta đã ở trong thuyền đại nguyện của Phật A-di-đà, nên vẫn được vãng sanh. Chỉ sợ là: Tuy anh ta niệm Phật, nhưng không hiểu được nguyên lý cứu độ của Phật A-di-đà, sau đó anh ta lại khởi tâm muốn sanh lên cõi trời hoặc nhân gian, như thế thì không được vãng sanh.
40. Hỏi: Công án của Sư phụ giảng, là chúng sanh địa ngục nghe đến sáu chữ danh hiệu của Phật A-di-đà thì liền được vãng sanh. Chúng sanh nhân gian nghe danh hiệu có được vãng sanh hay không. Xin Sư phụ khai thị.
Đáp: Chúng sanh địa ngục vãng sanh về thế giới Cực Lạc, là một vị Bà-la-môn đó tận mắt thấy, thấy họ lìa địa ngục ngồi hoa sen mà đi. Như vậy, chúng sanh nhân gian nghe danh hiệu có được vãng sanh hay không? Đương nhiên có. Nếu có, phải là lúc lâm chung. Suốt đời anh ta có học Phật hay không là chuyện khác, nhưng lúc lâm chung nghe câu danh hiệu này liền được vãng sanh, bởi vì công năng của danh hiệu khiến cho người nghe tin đều vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Bây giờ nêu ra vài thí dụ:
Ở trấn Sa Trần, huyện Đài Trung, Đài Loan có một bệnh nhân bị bệnh ung thư, không biết Phật pháp, nhập viện, ở phòng chăm sóc đặc biệt (bệnh rất nặng, phải có y sĩ chăm sóc 24/24h). Anh ta bị bệnh ung thư giai đoạn cuối rất đau đớn. Người trong gia đình anh ta mới thỉnh pháp sư Tâm Quán đến thăm.
Pháp sư Tâm Quán mang đến cái máy niệm Phật, đồng thời giới thiệu về sự trang nghiêm của thế giới Cực Lạc và lòng từ bi của Phật A-di-đà cho anh ta hiểu. Nói xong, đặt máy niệm Phật ở chỗ anh ta nằm, mở danh hiệu Phật cho anh ta lắng nghe. Người bệnh tuy thân tâm đau đớn, niệm Phật không ra tiếng, nhưng vừa nghe đến danh hiệu Phật thì không còn đau đớn nữa, nên được an tĩnh, trải qua một ngày một đêm anh ta tắt hơi thở rất an lành.
Đương nhiên chúng ta không có thần thông, không biết anh ta vừa tắt hơi thở là vãng sanh hay đến nơi đâu. Chẳng qua, từ việc này, chúng ta có thể biết chỉ nghe tiếng danh hiệu Phật, có thể giải trừ sự đau đớn của thân tâm, mà không cần kéo dài thời gian, đi rất nhanh.
Một câu chuyện khác: Cuối năm 1995, tôi có người thân nằm viện ở Đài Nam. Vào một ngày buổi chiều, tôi đi thăm người này, lúc đi vào phòng bệnh, có nữ bệnh nhân nằm phòng phía sau, khoảng 40 tuổi, nhưng nhìn giống như 50-60 tuổi, quanh mắt đen sì, tướng mạo rất tiều tụy, nói không ra lời, đi chậm chạp, rất yếu ớt. Cô ấy đi đến, mọi người mang ghế cho cô ấy ngồi. Cô ấy nói với tôi, cả tuần nay không ngủ được, bởi vì không thể ngủ, cho nên cảm thấy rất đau đớn.
Tôi nói với cô ấy: “Bạn phải niệm Phật, bạn niệm Phật thì có thể ngủ được”.
Cô ấy nói: “Giống như tôi đây, có thể niệm Phật được không?”.
Tôi nói với cô ấy: “Bạn không niệm Phật cũng không sao, đợi một chút tôi đi thỉnh một cái máy niệm Phật, bạn nghe tiếng niệm Phật thì có thể ngủ được”.
Tôi liền đi thỉnh máy niệm Phật, dặn cô ta nằm trên giường mở máy niệm Phật, sau đó tôi về.
Chiều hôm sau, tôi lại đến người thân của tôi, vừa bước vào cửa, người bệnh nằm cách phòng đã ngồi ở đó rồi, vừa nói vừa cười với mọi người, sắc mặt cũng không giống ngày hôm qua, rất tươi tắn, có tinh thần. Cô ta cảm ơn tôi, nói với tôi rằng ngày hôm qua, cô ta nằm ở phòng, vì sợ làm ồn đến người khác nên nhét dây phone của máy niệm Phật vào lỗ tai, bỗng nhiên ngủ được, ngủ rất lâu, tỉnh lại tinh thần rất tốt.
Bạn xem, bảy ngày không thể ngủ, vừa nghe danh hiệu Phật thì ngủ được.
Từ đó, mỗi ngày cô ta nằm trên giường bệnh nghe danh hiệu Phật, ngủ cũng nghe danh hiệu Phật, cho nên tự nhiên bệnh tình của cô ta chuyển biến rất tốt.
Chúng ta có thể thảo luận: Nếu người bệnh này liền tắt hơi thở, rất có thể cũng nhờ vào công năng của câu danh hiệu này mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Bởi vì, thân nghiệp báo của cô ta vẫn chưa hết, cho nên khiến cho cô ta ngủ được, hơn nữa bệnh tình chuyển biến tốt, tiếp tục sống những ngày còn lại. Nếu mạng chung lúc đang ngủ, chẳng phải là có thể giải thoát đó sao? Bởi vì, công năng của danh hiệu vốn là như thế.
Thân thể này của chúng ta là thân nghiệp báo, nghiệp báo là nghiệp quá khứ. Vì thế, cuộc đời chúng ta sanh ra nơi nào, thân cao bao nhiêu, có trí huệ hay không, tương lai sẽ đi học ở trường nào, thậm chí sự nghiệp đang làm, tiền lương lãnh được bao nhiêu, kết hôn với ai, sanh bao nhiêu đứa con, mạnh khỏe hay không, đều hoàn toàn có liên quan đến quá khứ, kéo dài từ đời quá khứ đến bây giờ.
Ví như chúng ta gửi sổ tiết kiệm vào ngân hàng, đã đến kì hạn, muốn đổi sổ mới, ngày tháng của sổ tiết kiệm mới này, sẽ kéo dài từ sổ tiết kiệm cũ. Thân thể hiện nay của chúng ta giống như sổ tiết kiệm mới, kéo dài từ sổ tiết kiệm đời trước cho đến bây giờ.
Sở dĩ người bệnh có bệnh, là bởi không ngủ được, là nghiệp quá khứ, thậm chí oan gia trái chủ trong quá khứ quấy nhiễu cô ta, làm cho ta không ngủ được. Như vậy, vừa nghe danh hiệu của Phật tự nhiên những nghiệp chướng ấy đều được tiêu trừ, thậm chí nếu có oan gia trái chủ bên cạnh, cũng sẽ hóa giải nghiệp của oan gia trái chủ.
Nghe và niệm thật sự giống nhau. Lúc chúng ta niệm, tuy miệng niệm nhưng phải phát ra từ ý nghiệp, dù không chí thành lưu xuất từ nội tâm, nhưng chúng ta chỉ cần niệm, ít nhất sẽ gieo hạt giống vào A-lại-da thức thứ tám. Niệm là khẩu nghiệp, là thiệt căn, nghe là nhĩ căn, đều là một trong sáu căn. Sáu căn từ đâu đến? Từ A-lại-da thức căn bản của chúng ta, cho nên những gì chúng ta nghe được nhất định sẽ vào trong A-lại-da thức của chúng ta; nếu nói lời thiện, lời ác, tốt và xấu, các loại ngôn ngữ cũng sẽ trở thành hạt giống ở trong A-lại-da thức của chúng ta.
Như vậy, câu danh hiệu này là chủ thể của Niết-bàn, công đức của tất cả điều thiện đều nằm trong câu danh hiệu này, Đức Phật A-di-đà tu tập tích lũy từng li từng tí công đức từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, đều dung nạp trong câu danh hiệu này. Tất cả công đức trong vũ trụ đều bao hàm trong câu danh hiệu này. Vì thế, câu danh hiệu này có công năng và sức mạnh rất lớn. Sức mạnh và công đức to lớn của câu danh hiệu này đều chảy vào A-lại-da thức, có thể chuyển nghiệp của chúng ta. Bởi vì, cái thể của nghiệp ở đâu? Ở trong A -lại-da thức. Bản thân của nghiệp thật ra là hư giả, huyễn hóa, nhưng công đức của câu danh hiệu này lại là chân thật. Dù hư giả có nhiều đến mấy cũng chẳng bằng một chút chân thật. Cho nên, danh hiệu vừa vào tai, vừa vào A-lại-da thức thì lập tức sẽ tiêu trừ nghiệp chướng hư giả được chứa trong A-lại-da thức.
Có một câu chuyện nữa, được kể trong Ấn Quang pháp sư văn sao. Ngài nói: Gần đây ở Vô Tích niệm Phật rất hưng thạnh, có một người đầu bếp làm thức ăn chay, mỗi lần tự viện tổ chức pháp hội hoặc Phật thất, mọi người đều mời anh ta làm bếp trưởng. Anh ta lo việc bếp núc, không đến Đại hùng bảo điện để đả Phật thất cùng với mọi người. Nhưng anh ta có thể nghe tiếng niệm Phật của mọi người trong tự viện. Anh ta vừa làm việc ở nhà bếp vừa nghe niệm Phật.
Có một hôm, đứa con của người đầu bếp sắp chết, trước khi chết nói với anh ta: ‘Ba ơi, ba ơi! Hiện tại con sắp lìa thế gian này rồi, nhưng con không thể đến nơi tốt đẹp. Ba có rất nhiều Phật, nếu Phật của ba cho con thì con sẽ đi đến nơi tốt đẹp’.
Người cha nói: “Ba không niệm Phật thì làm gì ba có Phật?”.
Đứa con nói: “Có ạ, Phật của ba rất nhiều! Chỉ cần ba cho con thì con sẽ đến nơi tốt đẹp”.
Người cha nói: “Con muốn bao nhiêu cứ việc lấy đi”.
Vừa nói câu này, con anh ta tắt thở rất an lành.
Sau đó anh ta thỉnh giáo người ta rằng: “Con tôi nói tôi có nhiều Phật, tôi bình thường rất ít niệm Phật, Phật từ nơi nào đến vậy?”.
Người hiểu chân chính thì bảo anh ta rằng: “Bạn giúp mọi người lặt rau, ở đấy nghe danh hiệu Phật bảy ngày, từng tiếng từng tiếng chảy vào tai, đều là tiếng của bạn, đều nằm trong kho A -lại-da thức của bạn. Danh hiệu của Phật A-di-đà vốn là bản thể của Phật A-di-đà, Ngài từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay tích lũy lục độ vạn hạnh đều nằm trong câu danh hiệu này, đương nhiên công đức rất lớn. Bạn không cố ý nghe, nếu có tâm lắng nghe thì công đức càng nhiều!”.
Sự lợi ích của danh hiệu Phật rất lớn, là bởi bản thân sáu chữ hồng danh này là kết tinh của tất cả công đức.
‘Công đức tụ’ (chỗ tất cả công đức tụ tập gọi là công đức tụ), cũng chính là ngọc báu ma-ni, có thể tuôn ra các loại vật báu, câu danh hiệu này cũng giống như vậy. Không giống với kinh văn, kinh văn phía sau không giống với kinh văn phía trước, dù cho bạn chuyên tâm nghe mọi người tụng kinh cũng không biết tụng đến chỗ nào, và đều không biết nội dung nói gì. Câu danh hiệu này, trăm câu, nghìn câu đều là ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’, bạn có vô tâm nghe được đi nữa, hay nghe rõ ràng đây là ‘Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật’, cho nên danh hiệu đơn giản dễ dàng, mà công đức lại rất nhiều.
(Còn tiếp)
Trích Đại Ý 3 Kinh
Thích Minh Tuệ


