60.Hỏi Đáp Về Niệm Phật
-
-
Hỏi: Xưa nay luôn có những lo lắng: Không ai dám bảo chứng lúc lâm chung chánh niệm mà niệm Phật. Có thể khắc phục sự đau đớn, nếu mơ hồ thì một đời này niệm Phật uổng công, cho nên trong lòng rất lo âu, xin Sư phụ khai thị.
Đáp: Pháp môn Tịnh Độ là hiện tại được Phật A-di-đà cứu độ, lúc sắp mạng chung dù cho đau đớn, niệm không ra tiếng, thậm chí bị hôn mê, nhưng vẫn được Phật A-di-đà cứu độ, được ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ. Một mặt là đã được cứu độ, cho nên lúc lâm chung hôn mê hay không hôn mê, niệm Phật hay không niệm Phật, chẳng có gì phải quan trọng cả, việc vãng sanh đã quyết định rồi! Vì thế, dù cho vừa tắt hơi thở trong tình huống đó, cũng lập tức vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Nói rằng được Phật A-di-đà cứu độ, là sự cứu độ chân thật của Ngài, phá tan sự hoài nghi bất an trong tâm chúng ta, làm cho chúng ta từ lúc bắt đầu tin nhận, liền ở trong ánh sáng của Phật A-di-đà, nhiếp thủ không bỏ, dù hôn mê nhưng vẫn nhiếp thủ không bỏ. Đồng thời, sinh mạng của Phật A-di-đà cũng nằm ngay trong tâm chúng ta, không xa lìa, chúng ta cùng một thể với Phật A-di-đà, cho nên bạn tắt hơi thở lúc nào, nơi nào, tình huống nào cũng đều được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Nếu cho rằng ‘hôn mê không thể niệm thì không được, ắt phải dựa vào lúc lâm chung niệm Phật’, thì đó là ‘tự lực trong tha lực’—Nếu nương vào công phu, công đức của mình niệm Phật để cầu Phật A-di-đà đến đón tiếp mà hồi hướng vãng sanh, thì không phải nội dung của pháp môn Tịnh Độ.
Bởi thế, pháp môn Tịnh Độ là hiện tại quyết định vãng sanh, hiện tại cùng một thể với Phật A-di-đà. Một mặt là sinh mạng của Phật A-di-đà ở trong tâm chúng ta, mặt khác là sinh mạng của chúng ta ở trong tâm Phật A-di-đà. Tâm Phật A-di-đà là ánh sáng! Ánh sáng của Phật A-di-đà ‘chiếu mười phương cõi nước mà không bị chướng ngại’. Vô lượng ánh sáng đó không bị chướng ngại là nhiếp thủ chúng sanh nào? Nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật. Phàm là chúng sanh xưng danh niệm Phật thì vĩnh viễn ở trong ánh sáng nhiếp thủ của Phật A-di-đà. Vì thế, hiện tại chúng sanh ở trong ánh sáng của Ngài, nên vừa tắt hơi thở thì ở cõi Vô lượng quang minh của Ngài.
Chỉ có pháp môn Tịnh Độ mới là pháp môn chúng ta đáng học trong đời này, đồng thời nó là pháp môn cao nhất trong tám mươi bốn nghìn pháp môn. Vì thế, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn Viên đốn. Sáu chữ danh hiệu đầy đủ tất cả công đức, chính là ‘đốn’, cho nên là pháp môn Viên đốn. Hơn nữa, hạ thủ dễ dàng, thành tựu rất cao, vạn người tu vạn người được vãng sanh, chính là pháp môn Tịnh Độ này.Nếu không phải như vậy thì chẳng phải là pháp môn Tịnh Độ.
Bạn là chúng sanh thấp kém ra sao, chúng sanh chẳng có năng lực gì cả, chúng sanh chẳng biết tu tập, đều có thể được sự cứu độ của Phật A-di-đà! Hơn nữa, xưa nay Phật A-di-đà cứu độ, chính là muốn cứu độ chúng sanh không biết tu hành.
Mọi người biết tu hành không? Không biết tu hành. Người tu hành tốt nhất ở đây, phải nói là pháp sư Tịnh An. Sư từng đạt đến tịnh niệm tương tục, công phu thành phiến, thức ngủ niệm Phật cũng như nhau, nhưng đối với việc vãng sanh trong tâm vẫn bất an, mãi cho đến nghe và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì tâm mới an lạc, yên ổn, chân chính là ‘an’. Cho nên, ‘Tịnh An’, lấy hai chữ này làm tên của Sư là tốt nhất.
Đương nhiên, đối với mỗi người mà nói thì cái tên này đều rất thích hợp, bởi vì Phật A-di-đà trước hết muốn chúng ta được đại an tâm, Ngài nói:
-
Tôi thệ thành Phật
Hành khắp nguyện này
Tất cả sợ hãi
Làm cho được an.
Khiến Tôi ở đời
Mau thành Chánh giác
Nhổ gốc sanh tử
Căn bản khổ não.
‘Tôi muốn mau thành Phật, mau diệt trừ căn bản khổ não sanh tử của chúng sanh trong mười phương’.
Chúng sanh chúng ta sợ nhất là gì? Chính là sợ vô thường. Vô thường vừa đến thì phải rơi vào địa ngục—Trên thế gian này có gì sợ hơn việc này đâu? Nhưng, Phật A -di-đà đã cho chúng ta ‘an’ rồi, muốn tiêu trừ sự sợ hãi của chúng ta. Vì thế, đối với tất cả sự sợ hãi mà nói, chỉ có pháp môn Tịnh Độ mới làm cho chúng ta an tâm.
43. Hỏi: Xin hỏi Sư phụ, người có tín tâm không thay đổi, thì đã được ánh sáng của Phật A-di-đà nhiếp thủ không bỏ, và lập tức quyết định thân phận vãng sanh, không cần phải đợi đến lúc lâm chung, cũng không cần xem tướng thiện, tướng ác, chết ra sao trong lúc lâm chung, người như vậy lâm chung có cần trợ niệm không? Có phải dặn dò người nhà những việc lâm chung không?
Đáp: Đương nhiên, người tín-nguyện niệm Phật vãng sanh đã được quyết định rồi, không cần phải đợi người đến trợ niệm, không cần nương vào trợ niệm nữa.
Người niệm Phật chúng ta thường gần gũi Sư phụ, liên hữu, lúc lâm chung phải có nhiều người đến hộ niệm, không thể chỉ có một người. Lúc đó liên hữu hẹn nhau, đến từ biệt nhau lần cuối, lúc này người lâm chung nhất định cũng cảm nhận rằng: Được sự cứu độ của Phật A-di-đà, ân đức này rất to lớn, cho nên khi nhục thân còn tồn tại chỉ trong từng giây từng phút, nên niệm thêm vài câu danh hiệu Phật nữa để báo đáp ân Phật.
Lúc lâm chung, nếu liên hữu đồng thanh niệm Phật, đây là việc rất thù thắng. Hơn nữa, thường thường người sắp lâm chung sẽ hiện ra điềm lành không thể nghĩ bàn. Lúc đó, nếu có rất nhiều liên hữu tụ tập ở bên, chúc mừng sự vãng sanh của anh ta, trong tướng lành đó dễ khiến cho những người không tin pháp môn tha lực mà phát khởi tín tâm. Chỉ cần tướng lành này có hiệu quả thì hơn mấy năm giảng kinh thuyết pháp, giảng kinh mấy năm chưa chắc khiến người ta tin, tướng lành hiện ra thì không thể không tin.
44. Hỏi: Công án Sư phụ nói, chính là một vị Ba-là-môn và vợ của ông cùng niệm Phật, tại sao ông ta niệm Phật mà vẫn vào địa ngục? Xin Sư phụ khai thị.
Đáp: Việc này có lẽ tuy xưng niệm, nhưng lại niệm một cách miễn cưỡng, niệm một cách đối phó.
Tuy ông ta đọa vào địa ngục, nhưng rốt cuộc ông ta niệm danh hiệu Phật, câu danh hiệu này trong cơ duyên nào đó phát huy công năng, cho nên công năng đó hiển lộ ra, tuy không lập tức vãng sanh về thế giới Cực Lạc, nhưng công năng đã hiển lộ ra.
Có lẽ đây cũng là sự sắp đặt của Phật A-di-đà, khiến cho ông ta đến địa ngục, nhờ câu danh hiệu này để độ càng nhiều chúng sanh hơn, đồng thời lại để ông ta trở về dương gian, kể lại câu chuyện này cho người thế gian, làm cho người nghe đến đều cảm động, đều xưng danh, sau đó lại truyền bá khắp nơi.
Sự tích của ông ta chỉ trình bày ngắn gọn như vậy mà thôi, đến như nhân trước quả sau, hoàn toàn không nói rõ, cho nên chúng ta chỉ có thể suy luận như vậy.
Chúng ta biết, câu danh hiệu này có thể làm cho người xưng niệm vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Vị Bà-la-môn này không thể vãng sanh, vậy thì có nhiều nguyên nhân.
Người có thể vãng sanh, đương nhiên suốt đời chuyên xưng danh hiệu Phật, suốt đời chuyên xưng danh hiệu Phật thì nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Sở dĩ anh ta chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, đương nhiên có động cơ và mục đích. Động cơ và mục đích của anh ta là chán lìa Ta-bà, nguyện sanh về Cực Lạc, sau đó mới xưng niệm câu danh hiệu này. Khi nói anh ta có động cơ này mà xưng niệm câu danh hiệu, anh ta có hiểu rõ sự cứu độ của Phật A-di-đà hay không, cũng không quan trọng gì, vãng sanh là chắc chắn, bởi vì anh ta hợp với điều kiện vãng sanh—chán lìa Ta-bà, nguyện sanh Cực lạc, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.
Nếu chẳng phải như thế, thường bỏ dở nửa chừng, cũng như có người bảo anh ta câu danh hiệu này rất tốt, chỉ cần xưng niệm có thể tiêu trừ được nghiệp chướng, tăng thêm phước huệ, nhưng tâm sanh tử của anh ta không tha thiết, vừa bị bệnh hoạn, nghịch cảnh thì không niệm nữa. Nếu không niệm nữa, có lẽ duyên này sẽ mất, hoặc giảm đi.
Kinh A-di-đà nói:
Nếu có người nào đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện, thì các thiện nam tử hay thiện nữ nhân ấy, đều được bất thoái chuyển nơi A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam bồ-đề, ở cõi nước kia, hoặc đã sanh, hoặc nay sanh, hoặc sẽ sanh.
Ý nói, hiện tại có nguyện chân chính, hiện tại sẽ quyết định vãng sanh. Nếu không có quyết định, là bởi nhân duyên không đủ. Hiện tại không vãng sanh, tương lai phát nguyện sẽ vãng sanh. Vì thế, kinh văn nói: “Những người ấy, hoặc đã sanh, hoặc nay sanh, hoặc sẽ sanh”, đã phát nguyện, đã vãng sanh, nếu không phải như thế thì hiện tại phát nguyện vãng sanh, bất kể sáng hay tối, đều sẽ vãng sanh; cho nên nói: “Đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện”, thì “hoặc đã sanh, hoặc nay sanh, hoặc sẽ sanh”. Không sợ không vãng sanh mà chỉ sợ không có nguyện này; chán lìa Ta-bà, nguyện sanh Cực Lạc, thì tự nhiên sẽ xưng danh.
Lúc lâm chung bệnh đau đớn, niệm Phật không nổi, có thể vãng sanh không? Vãng sanh như thường! Tổ sư Đàm Loan đã từng nói:
Nếu người chỉ nghe cõi nước kia thanh tịnh an lạc, khắc niệm nguyện sanh cũng được vãng sanh, liền nhập vào chánh định tụ.
Ý Tổ sư Đàm Loan nói: Nếu như có người ‘chỉ nghe cõi nước kia’, nhưng chỉ nghe đến cõi nước thế giới Cực Lạc là một cõi nước thanh tịnh an lạc, ‘Ồ, có nơi tốt đẹp như thế, tôi phải đến’—
‘Khắc niệm vãng sanh’, ‘khắc niệm’ là thực sự có tâm nguyện sanh; ‘khắc niệm nguyện sanh, cũng được vãng sanh’, hạng chúng sanh này cũng có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Đồng thời, ‘liền nhập vào chánh định tụ’, đã quyết định thân phận thành Phật, gọi là ‘chánh định tụ’. Vì thế, loại nguyện sanh này đã bao gồm cả tín bên trong, bởi vì anh ta tin tưởng có Đức Phật A-di-đà ở thế giới Cực Lạc.
Có tín-nguyện-hạnh cũng nằm ở trong câu danh hiệu, bởi vì hạnh là công đức của Phật A-di-đà đã tích lũy từ nhiều kiếp lâu xa, muốn ban cho chúng sanh bản nguyện này để vãng sanh. Chúng sanh nguyện vãng sanh, nói theo nguyện thứ 18 là, chúng sanh nhận được sự kêu gọi của Phật A-di-đà!
Hạng chúng sanh vừa mới nói, tự nhiên cũng nhận được lời kêu gọi của Phật A-di-đà, tại sao vậy? Vì lời kêu gọi của Phật A-di-đà tùy lúc, tùy nơi đang kêu gọi chúng ta, loài hữu tình hay vô tình đều thuyết pháp cho chúng ta nghe, Ngài dùng sự thanh tịnh trang nghiêm của thế giới Cực Lạc để hấp dẫn chúng ta, chỉ cần có thể dẫn tâm nguyện vãng sanh của chúng ta, thì mục đích kêu gọi Phật A-di-đà đã thành tựu.
Nam-mô A-di-đà Phật!
Trích Đại Ý Ba Kinh Một Luận Tịnh Độ
Thích Minh Tuệ
l


