Vấn Đáp 1

Liên Tông Lục Tổ Vĩnh Minh đại sư  giải đáp

83.Vấn Đáp1

1-Hỏi:Tổ sư (Bồ Đề Đạt Ma) nói: “Chẳng suy tư thiện ác, tự nhiên được vào tâm thể”.
Kinh Niết Bàn nói: Các hành vô thường, là pháp sanh diệt”.
Tại sao lại khuyên tu hành, cố ý làm trái lời dạy của Tổ sư?Đáp:Ý của Tổ sư là y cứ vào tông chỉ nhà Thiền, còn lời dạy trong kinh điển là để phá trừ chấp trước.

Nếu nói về Đốn giáo của Thiền Tông thì dẹp trừ mọi tướng, rời khỏi các duyên, Có và Không đều không, Thể-Dụng lặng lẽ. Nếu từ nơi ý chỉ viên dung của Hoa Nghiêm thì cho rằng tất cả các công đức đồng thời đầy đủ, Lý và Hạnh đều hiển bày, Bi và Trí đều hỗ trợ lẫn nhau.

Do đó Bồ Tát Văn Thù dùng Lý để ấn chứng Hạnh nên nghĩa Sai biệt chẳng tổn

hại. Bồ Tát Phổ Hiền dùng Hạnh trang nghiêm Lý nên môn Căn bản chẳng phế bỏ.

Gốc ngọn một mé, phàm thánh đồng nguồn, chẳng phá hoại Tục mà nêu Chân, cũng không rời Chân mà thiết lập Tục.Đầy đủ mắt trí tuệ nên không chìm đắm trong sanh tử; vận dụng tâm từ bi nên

chẳng ngưng trệ nơi Niết Bàn. Lấy sự có huyễn hóa trong ba cõi làm tác dụng của Bồ đề; ở trong biển phiền não mà thông suốt bến bờ Niết Bàn.

Muôn điều thiện là tư lương để Bồ Tát bước vào Thánh vị; các hạnh lành là nấc thang trợ giúp chư Phật thành đạo Bồ đề.

Nếu có đôi mắt sáng mà không có đôi chân thì làm sao đi đến ao nước mát trong?
Được chỗ chân thật mà bỏ quên sự quyền biến, sao có thể bước lên cảnh giới tự tại?

Thế nên, Phương tiện và Bát nhã thường phối hợp lẫn nhau: Chân không và Diệu hữu cùng làm thành cho nhau. Kinh Pháp Hoa gom ba thừa trở về một Phật thừa, muôn việc lành đều hướng về Bồ đề. Phẩm Bát Nhã thì cho rằng tất cả không hai, các hạnh đều trở về Nhất thiết Chủng trí. Do đó Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Bồ Tát Thất Địa (Viễn hành địa) phải tu tập mười loại trí tuệ phương tiện đạt thù thắng:

  1. Tuy khéo tu tập Chánh định Không, Vô tướng, Vô nguyện mà từ bi chẳng bỏ chúng sanh.
  2. Tuy đã được pháp bình đẳng của chư Phật mà thường ưa cúng dường Phật.
  3. Tuy vào môn Trí tuệ Quán Không mà vẫn siêng năng tích lũy phước đức.
  4. Tuy rời xa ba cõi mà vẫn trang nghiêm ba cõi.
  5. Tuy đã dập tắt trọn vẹn những ngọn lửa phiền não mà lại vì tất cả chúng sanh khởi và diệt ba ngọn lửa phiền não tham, sân, si.
  6. Tuy biết rõ các pháp như huyễn, như mộng, như tiếng vang, như sóng nắng, như ảo hóa, như trăng đáp nước, như bóng trong gương, tự tánh không hai nhưng vẫn tùy theo tâm niệm của chúng sanh mà tạo tác vô lượng sự sai biệt.
  7. Tuy biết các cõi nước giống như hư không mà vẫn có thể dùng diệu hạnh thanh tịnh để trang nghiêm
  8. Tuy biết Pháp thân của chư Phật bản tánh vốn không có thân, mà dùng tướng hảo để trang nghiêm thân.
  9. Tuy biết âm thanh của chư Phật bản tánh là không, vắng lặng chẳng nói năng mà hay thuận theo tất cả chúng sanh phát ra vô vàn âm thanh vi diệu.
  10. Tuy theo lời chỉ dạy của chư Phật, biết rõ ba đời chỉ là một niệm mà vẫn thuận theo sự phân biệt hiểu biết của chúng sanh, dùng mọi hình tướng, mọi thời gian, mọi kiếp số mà tu tập các hạnh.

Trong kinh Duy Ma nói:

“Tuy thực hành nơi Không mà vẫn gieo trồng những cội gốc đức hạnh, đó là hạnh của Bồ Tát.

Tuy thực hành Vô tướng mà vẫn độ chúng sanh, đó là hạnh của Bồ Tát.

Tuy thực hành Vô tác mà vẫn thị hiện thọ thân, đó là hạnh của Bồ Tát.

Tuy thực hành Vô khởi mà phát khởi tất cả các hạnh lành, đó là hạnh của Bồ Tát.

2-Bậc Cao đức ngày xưa hỏi: “Tất cả vạn hạnh chỉ trở về Vô niệm. Nay thấy thiện ác nguyện rời bỏ, nguyện thành tựu, nhọc nhằn thân tâm làm sao xem đó là đạo được?”.

Đáp: Ở đây lìa niệm mà cầu Vô niệm, còn chưa được Vô niệm chân thật, huống gì nghĩ nhớ về Vô niệm mà lại không cách ngại hay sao?

Hơn nữa Vô niệm chỉ là một hạnh trong các hạnh, làm sao biết một niệm liền có thể nhanh chóng viên dung tất cả?”.

Như lời dẫn chứng trên, ý chỉ của Phật đã hoàn toàn rõ ràng, đâu thể bụng trống không tâm cao ngạo, lấy ít cho là đủ, giống như ếch ngồi đáy giếng mà chán ghét biển cả, ánh đom đóm lập lòe mà muốn che lấp vầng thái dương hay sao!

3-Hỏi: Dứt tuyệt không nương tựa, cảnh và trí đều không, đó là ý chỉ trở về của Phật Tổ, con đường chính yếu của Thánh Hiền.

Nếu nói về sự có tạo tác thì tâm cảnh rõ ràng, dựa vào kinh điển gì trình bày rộng rãi về muôn điều thiện?

Đáp:Giáo pháp một đời của Đức Phật từ xưa đến nay được phân chia tông phái rất

nhiều. Nhưng đứng từ phương diện lớn mà nhìn, chẳng ra ngoài ba tông dưới đây:

1.Tướng tông.

  1. Không tông.
  2. Tánh tông

Trong đó, Tướng tông phần nhiều từ khía cạnh khẳng định (phải) để diễn thuyết  Phật Pháp.

Không tông thì từ khía cạnh phủ định (chẳng phải) để diễn thuyết Phật
Pháp.

Còn Tánh tông chỉ nói trực chỉ, tức đồng với phương pháp “thấy tánh thành Phật” của Lục tổ.

Nay chẳng luận thấy tánh, không biết Chánh tông mà phần nhiều chấp vào khẳng định hoặc phủ định, tranh luận lăng xăng. Như thế đều do chẳng rõ ý sâu kín của Phật Tổ, chỉ đuổi theo ngôn ngữ.

Trong giáo lý hoặc nói khẳng định là y cứ tánh mà nói về tướng; hoặc nói phủ định là phá trừ tướng để hiển bày tánh. Chỉ có một môn Tánh tông hiển bày trực chỉ, chẳng khẳng định hay phủ định.

Hiện nay, mọi người phần nhiều xem trọng lời nói phá dẹp “chẳng phải Tâm chẳng phải Phật, chẳng phải Lý chẳng phải Sự”, lấy đó làm chỗ huyền diệu. Chẳng biết những lời nói ấy chỉ là để phá dẹp, là lời nói dùng để chữa trị bệnh chấp. Chấp vào phương tiện ấy làm mục tiêu, lại không tin giáo nghĩa khẳng định trực chỉ, do đó mất đi chỗ chân thật, mê muội đối với Chân tâm. Giống như người ngu ở nước Sở, thấy con gà cho là phượng hoàng, như trẻ con chơi bên bờ hồ lấy ngói gạch làm châu ngọc.

Chỉ theo cái nhìn nông cạn, chẳng tìm xét ý chỉ sâu kín. Nếu lầm mê nơi thuyết phương tiện thì làm sao biết được chỗ trở về

                 4-Hỏi:Giáp pháp ba thừa của chư Phật Như Lai diễn thuyết chỉ là pháp môn một vị

giải thoát. Tại sao lại nói rộng về Duyên khởi sanh diệt ở thế gian? Nghĩ suy liền

mất, chẳng thuận với Chân như; động niệm thì trái với Pháp thể.

Đáp:Nếu nói về một tướng một vị, đó là giáo pháp quyền biến trong ba thừa. Từ nơi Lý mà nói, tất cả nhân duyên đều là lầm lỗi. Nay biên tập sách này chỉ hiển bày tông chỉ viên dung, mỗi mỗi duyên khởi đều là đức chân thật của pháp giới.

Ở nơi ý nghĩa này, chẳng thành lập cũng chẳng phá hoại, không đoạn diệt cũng chẳng thường hằng, cho đến thần thông biến hóa đều là pháp vốn như thế, chẳng phải nhờ thần lực mà tạm thời được như vậy. Do đó nói, vừa có một pháp nhân duyên sanh, đều là công đức phát khởi từ tự tánh.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Trong biển thế giới Hoa Tạng này, bất luận là núi non hay sông ngòi, cho đến rừng cây cát bụi, tất cả chỗ nơi đều xứng với pháp giới Chân như đầy đủ vô biên công đức”.

5-Hỏi:Trong Kinh nói: “Kẻ phàm phu tham chấp vào sự vật”, còn nói rằng: “Đối với phàm phu chấp tướng phải tùy nghi vì họ mà thuyết pháp”.

Nếu rõ được Lý căn bản thì vạn hạnh đều viên mãn. Như thế cần gì sự tướng mà dấy khởi tạo tác?

Đáp:Đây là lời nói phá tham trước chấp thủ, chẳng quan hệ đến sự tướng nhân duyên. Kinh Duy Ma nói:

Chỉ trừ bệnh mà chẳng bỏ pháp”.

Kinh Kim Cang Tam Muội nói:

“Có hai lối vào, một là vào từ con đường Lý; hai là vào từ con đường Hạnh. Dùng Lý dẫn lối Hạnh, dùng Hạnh làm viên mãn Lý”.

Vả lại, Bồ đề là dùng Hạnh đi vào Vô hạnh, Bởi vì, Hạnh là nhờ vào thực hành tất cả pháp lành, Vô hạnh là thấy tất cả pháp lành không có thật. Đâu thể ngưng trệ nơi Lý thiếu sót phần Hạnh, hoặc nghiêng chấp về Hạnh trái ngược với Lý.

Luận Đại Thừa Khởi Tín của Bồ Tát Mã Minh nói, có ba sự phát tâm do thành tựu niềm tin:

  1. Trực Tâm: vì chánh niệm về Chân Như.
  2. Thâm tâm: vì ưa thích tích lũy tất cả các hạnh lành.
  3. Đại bi tâm: vì muốn giải trừ sự đau khổ của tất cả chúng sanh

Trích Vạn Thiện Đồng Quy

Thích Minh Tuệ

 

12

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10

 

 

 

 

 

10

 

 

 

 

 

 

 

 

10

 

.

.

11

 

 

 

 

Liên Tông Lục Tổ Vĩnh Minh đại sư  giải đáp

Vấn Đáp1

1-Hỏi:Tổ sư (Bồ Đề Đạt Ma) nói: “Chẳng suy tư thiện ác, tự nhiên được vào tâm thể”.
Kinh Niết Bàn nói: “Các hành vô thường, là pháp sanh diệt”.
Tại sao lại khuyên tu hành, cố ý làm trái lời dạy của Tổ sư?

Đáp:Ý của Tổ sư là y cứ vào tông chỉ nhà Thiền, còn lời dạy trong kinh điển là để phá trừ chấp trước.

Nếu nói về Đốn giáo của Thiền Tông thì dẹp trừ mọi tướng, rời khỏi các duyên, Có và Không đều không, Thể-Dụng lặng lẽ. Nếu từ nơi ý chỉ viên dung của Hoa Nghiêm thì cho rằng tất cả các công đức đồng thời đầy đủ, Lý và Hạnh đều hiển bày, Bi và Trí đều hỗ trợ lẫn nhau.

Do đó Bồ Tát Văn Thù dùng Lý để ấn chứng Hạnh nên nghĩa Sai biệt chẳng tổn

hại. Bồ Tát Phổ Hiền dùng Hạnh trang nghiêm Lý nên môn Căn bản chẳng phế bỏ.

 

Gốc ngọn một mé, phàm thánh đồng nguồn, chẳng phá hoại Tục mà nêu Chân, cũng không rời Chân mà thiết lập Tục.Đầy đủ mắt trí tuệ nên không chìm đắm trong sanh tử; vận dụng tâm từ bi nên

chẳng ngưng trệ nơi Niết Bàn. Lấy sự có huyễn hóa trong ba cõi làm tác dụng của Bồ đề; ở trong biển phiền não mà thông suốt bến bờ Niết Bàn.

Muôn điều thiện là tư lương để Bồ Tát bước vào Thánh vị; các hạnh lành là nấc thang trợ giúp chư Phật thành đạo Bồ đề.

 

Nếu có đôi mắt sáng mà không có đôi chân thì làm sao đi đến ao nước mát trong?
Được chỗ chân thật mà bỏ quên sự quyền biến, sao có thể bước lên cảnh giới tự tại?

Thế nên, Phương tiện và Bát nhã thường phối hợp lẫn nhau: Chân không và Diệu hữu cùng làm thành cho nhau. Kinh Pháp Hoa gom ba thừa trở về một Phật thừa, muôn việc lành đều hướng về Bồ đề. Phẩm Bát Nhã thì cho rằng tất cả không hai, các hạnh đều trở về Nhất thiết Chủng trí. Do đó Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Bồ Tát Thất Địa (Viễn hành địa) phải tu tập mười loại trí tuệ phương tiện đạt thù thắng:

 

  1. Tuy khéo tu tập Chánh định Không, Vô tướng, Vô nguyện mà từ bi chẳng bỏ chúng sanh.

 

  1. Tuy đã được pháp bình đẳng của chư Phật mà thường ưa cúng dường Phật.
  2. Tuy vào môn Trí tuệ Quán Không mà vẫn siêng năng tích lũy phước đức.
  3. Tuy rời xa ba cõi mà vẫn trang nghiêm ba cõi.
  4. Tuy đã dập tắt trọn vẹn những ngọn lửa phiền não mà lại vì tất cả chúng sanh khởi và diệt ba ngọn lửa phiền não tham, sân, si.
  5. Tuy biết rõ các pháp như huyễn, như mộng, như tiếng vang, như sóng nắng, như ảo hóa, như trăng đáp nước, như bóng trong gương, tự tánh không hai nhưng vẫn tùy theo tâm niệm của chúng sanh mà tạo tác vô lượng sự sai biệt.
  6. Tuy biết các cõi nước giống như hư không mà vẫn có thể dùng diệu hạnh thanh tịnh để trang nghiêm
  7. Tuy biết Pháp thân của chư Phật bản tánh vốn không có thân, mà dùng tướng hảo để trang nghiêm thân.

 

  1. Tuy biết âm thanh của chư Phật bản tánh là không, vắng lặng chẳng nói năng mà hay thuận theo tất cả chúng sanh phát ra vô vàn âm thanh vi diệu.
  2. Tuy theo lời chỉ dạy của chư Phật, biết rõ ba đời chỉ là một niệm mà vẫn thuận theo sự phân biệt hiểu biết của chúng sanh, dùng mọi hình tướng, mọi thời gian, mọi kiếp số mà tu tập các hạnh.

Trong kinh Duy Ma nói:

 

“Tuy thực hành nơi Không mà vẫn gieo trồng những cội gốc đức hạnh, đó là hạnh của Bồ Tát.

Tuy thực hành Vô tướng mà vẫn độ chúng sanh, đó là hạnh của Bồ Tát.

Tuy thực hành Vô tác mà vẫn thị hiện thọ thân, đó là hạnh của Bồ Tát.

Tuy thực hành Vô khởi mà phát khởi tất cả các hạnh lành, đó là hạnh của Bồ Tát.

 

2-Bậc Cao đức ngày xưa hỏi: “Tất cả vạn hạnh chỉ trở về Vô niệm. Nay thấy thiện ác nguyện rời bỏ, nguyện thành tựu, nhọc nhằn thân tâm làm sao xem đó là đạo được?”.

Đáp: Ở đây lìa niệm mà cầu Vô niệm, còn chưa được Vô niệm chân thật, huống gì nghĩ nhớ về Vô niệm mà lại không cách ngại hay sao?

Hơn nữa Vô niệm chỉ là một hạnh trong các hạnh, làm sao biết một niệm liền có thể nhanh chóng viên dung tất cả?”.

Như lời dẫn chứng trên, ý chỉ của Phật đã hoàn toàn rõ ràng, đâu thể bụng trống không tâm cao ngạo, lấy ít cho là đủ, giống như ếch ngồi đáy giếng mà chán ghét biển cả, ánh đom đóm lập lòe mà muốn che lấp vầng thái dương hay sao!

3-Hỏi: Dứt tuyệt không nương tựa, cảnh và trí đều không, đó là ý chỉ trở về của Phật Tổ, con đường chính yếu của Thánh Hiền.

 

Nếu nói về sự có tạo tác thì tâm cảnh rõ ràng, dựa vào kinh điển gì trình bày rộng rãi về muôn điều thiện?

Đáp:Giáo pháp một đời của Đức Phật từ xưa đến nay được phân chia tông phái rất

nhiều. Nhưng đứng từ phương diện lớn mà nhìn, chẳng ra ngoài ba tông dưới đây:

1.Tướng tông.

  1. Không tông.
  2. Tánh tông

Trong đó, Tướng tông phần nhiều từ khía cạnh khẳng định (phải) để diễn thuyết  Phật Pháp.

Không tông thì từ khía cạnh phủ định (chẳng phải) để diễn thuyết Phật
Pháp.

Còn Tánh tông chỉ nói trực chỉ, tức đồng với phương pháp “thấy tánh thành Phật” của Lục tổ.

Nay chẳng luận thấy tánh, không biết Chánh tông mà phần nhiều chấp vào khẳng định hoặc phủ định, tranh luận lăng xăng. Như thế đều do chẳng rõ ý sâu kín của Phật Tổ, chỉ đuổi theo ngôn ngữ.

Trong giáo lý hoặc nói khẳng định là y cứ tánh mà nói về tướng; hoặc nói phủ định là phá trừ tướng để hiển bày tánh. Chỉ có một môn Tánh tông hiển bày trực chỉ, chẳng khẳng định hay phủ định.

Hiện nay, mọi người phần nhiều xem trọng lời nói phá dẹp “chẳng phải Tâm chẳng phải Phật, chẳng phải Lý chẳng phải Sự”, lấy đó làm chỗ huyền diệu. Chẳng biết những lời nói ấy chỉ là để phá dẹp, là lời nói dùng để chữa trị bệnh chấp. Chấp vào phương tiện ấy làm mục tiêu, lại không tin giáo nghĩa khẳng định trực chỉ, do đó mất đi chỗ chân thật, mê muội đối với Chân tâm. Giống như người ngu ở nước Sở, thấy con gà cho là phượng hoàng, như trẻ con chơi bên bờ hồ lấy ngói gạch làm châu ngọc.

Chỉ theo cái nhìn nông cạn, chẳng tìm xét ý chỉ sâu kín. Nếu lầm mê nơi thuyết phương tiện thì làm sao biết được chỗ trở về

 

                 4-Hỏi:Giáp pháp ba thừa của chư Phật Như Lai diễn thuyết chỉ là pháp môn một vị

giải thoát. Tại sao lại nói rộng về Duyên khởi sanh diệt ở thế gian? Nghĩ suy liền

mất, chẳng thuận với Chân như; động niệm thì trái với Pháp thể.

 

Đáp:Nếu nói về một tướng một vị, đó là giáo pháp quyền biến trong ba thừa. Từ nơi Lý mà nói, tất cả nhân duyên đều là lầm lỗi. Nay biên tập sách này chỉ hiển bày tông chỉ viên dung, mỗi mỗi duyên khởi đều là đức chân thật của pháp giới.

 

Ở nơi ý nghĩa này, chẳng thành lập cũng chẳng phá hoại, không đoạn diệt cũng chẳng thường hằng, cho đến thần thông biến hóa đều là pháp vốn như thế, chẳng phải nhờ thần lực mà tạm thời được như vậy. Do đó nói, vừa có một pháp nhân duyên sanh, đều là công đức phát khởi từ tự tánh.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Trong biển thế giới Hoa Tạng này, bất luận là núi non hay sông ngòi, cho đến rừng cây cát bụi, tất cả chỗ nơi đều xứng với pháp giới Chân như đầy đủ vô biên công đức”.

5-Hỏi:Trong Kinh nói: “Kẻ phàm phu tham chấp vào sự vật”, còn nói rằng: “Đối với phàm phu chấp tướng phải tùy nghi vì họ mà thuyết pháp”.

Nếu rõ được Lý căn bản thì vạn hạnh đều viên mãn. Như thế cần gì sự tướng mà dấy khởi tạo tác?

Đáp:Đây là lời nói phá tham trước chấp thủ, chẳng quan hệ đến sự tướng nhân duyên. Kinh Duy Ma nói:

“Chỉ trừ bệnh mà chẳng bỏ pháp”.

Kinh Kim Cang Tam Muội nói:

 

“Có hai lối vào, một là vào từ con đường Lý; hai là vào từ con đường Hạnh. Dùng Lý dẫn lối Hạnh, dùng Hạnh làm viên mãn Lý”.

Vả lại, Bồ đề là dùng Hạnh đi vào Vô hạnh, Bởi vì, Hạnh là nhờ vào thực hành tất cả pháp lành, Vô hạnh là thấy tất cả pháp lành không có thật. Đâu thể ngưng trệ nơi Lý thiếu sót phần Hạnh, hoặc nghiêng chấp về Hạnh trái ngược với Lý.

Luận Đại Thừa Khởi Tín của Bồ Tát Mã Minh nói, có ba sự phát tâm do thành tựu niềm tin:

 

  1. Trực Tâm: vì chánh niệm về Chân Như.
  2. Thâm tâm: vì ưa thích tích lũy tất cả các hạnh lành.
  3. Đại bi tâm: vì muốn giải trừ sự đau khổ của tất cả chúng sanh

 

Trích Vạn Thiện Đồng Quy

Thích Minh Tuệ

 

12

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10

 

 

 

 

 

10

 

 

 

 

 

 

 

 

10

 

.

.

11

 

 

 

 

Viết một bình luận