
119. Tánh Cách Trọng Yếu Của Sự Phát Nguyện
Như trên đã nói, yếu chỉ của môn Tịnh Độ là Tín, Nguyện, Hạnh. Muốn
vào cửa pháp này, trước tiên hành giả phải tin cõi Cực Lạc có thật, và
đức A Di Đà luôn luôn hộ niệm, sẵn sàng tiếp dẫn chúng sanh nào quy kính, niệm sáu chữ hồng danh kêu gọi đến Ngài. Lòng tin như thế gọi
là Tín. Sau khi đã có lòng tin, hành giả phải phát tâm chơn thiết cầu
thoát ly cõi Ta Bà đầy khổ lụy chướng duyên, mong muốn sanh về
miền Cực Lạc an vui, sự thanh tịnh trang nghiêm vô lượng, để tu tiến
hoàn thành mục đích tự độ độ tha. Đó gọi là Nguyện. Và khi đã phát
nguyện như thế, lại cần phải thiết thật xưng niệm danh hiệu đức A Di
Đà cho đến trình độ tâm Phật tương ưng, để được tiếp dẫn. Đây gọi là
Hạnh. Chương trước nói “Niệm Phật phải dứt trừ lòng nghi” là thuyết
minh về Tín. Chương này giảng luận về Nguyện. Chương kế sau tiếp
tục đề cập đến phần hành trì, tức là Hạnh. Tín, Nguyện, Hạnh còn gọi
là ba món tư lương của môn Tịnh Độ. Ví như người đi xa phải cụ bị
chăn mùng thuốc men, thức ăn mặc, và tiền bạc, để có đủ sự cần dùng
khi lên đường. Người tu Tịnh Độ cũng thế, thiếu lòng tin không thể
phát Nguyện. Có Tín, Nguyện mà chẳng thật hành, tức tu phần Hạnh,
chỉ là Tín, Nguyện suông. Và nếu Hạnh đầy đủ mà thiếu sót Tín,
Nguyện thì sự thật hành đó lạc lõng, không có tiêu chuẩn, đường lối.
Cho nên Tín, Nguyện, Hạnh là tư lương của kẻ đi đường xa về Cực
Lạc. Đối với sự vãng sanh, ba điều này có tánh cách liên đới nhau,
thiếu một, tất không thành tựu.
Ngẫu Ích đại sư, một bậc tôn túc về Tịnh Độ đã dạy: “Được vãng
sanh cùng chăng toàn do Tín, Nguyện có hay không, phẩm vị thấp
cao, đều bởi hành trì sâu hoặc cạn.” Ngài lại bảo: “Nếu không Tín,
Nguyện, dù trì niệm câu hồng danh cho đến gió thổi không vào, mưa
sa chẳng lọt, vững chắc như tường đồng vách sắt, cũng không được
vãng sanh.” Người niệm Phật tinh chuyên mà thiếu Tín, Nguyện,
tùy công phu sâu cạn kết quả chỉ được hưởng phước báo nhơn thiên
, khi hết phước vẫn phải bị luân hồi như cũ. Như tại Việt Nam ta, về
đời Hậu Lê, có một vị sư ở chùa Quang Minh, công hạnh niệm Phật
tuy sâu mà vì nguyện tâm không chí thiết, nên khi mãn phần chuyển
sanh làm một vị đế vương triều nhà Thanh bên Trung Hoa. Về sau
nhà vua nhân dùng nước giếng của chùa ấy để rửa vết chữ son ghi
tiền kiếp của mình trên vai, mới cảm khái làm mấy bài thi. Trong ấy
có hai câu:
Ngã bản Tây Phương nhứt Phật tử,
Vân hà lạc tại đế vương gia?
Ý nói: Ta vốn là con của Phật A Di Đà ở Tây Phương, cớ sao lại lạc
vào nhà đế vương như thế này? Tuy vua biết kiếp trước mình là vị sa
môn niệm Phật ở chùa Quang Minh, nhưng vì trong ngôi vị đế vương
, cảnh phước lạc quá nhiều, nên cũng không tu hành được. Niệm Phật
mà thiếu Tín, Nguyện kết quả là như thế! Cho nên, xét kỹ lại lời của
Ngẫu Ích đại sư, ta thấy phẩm vị cao thấp không phải là vấn đề, mà
vấn đề chính là: “Ðược vãng sanh cùng chăng.” Mà muốn được
vãng sanh, Tín Nguyện là điều kiện phải có, và điểm cần yếu nhất lại là chữ Nguyện. Đại sư lại nhấn mạnh: “Nếu Tín-Nguyện bền chắc, khi lâm
chung, chỉ xưng danh hiệu mười niệm hay một niệm, cũng quyết
được vãng sanh. Trái lại, công hành trì tuy vững như vách sắt tường
đồng, mà Tín Nguyện yếu, kết quả chỉ hưởng được phước báo nhơn
thiên mà thôi.“ Lời này chỉ rõ: thà Tín, Nguyện bền chắc, dù phần
Hạnh kém ít cũng được vãng sanh giải thoát. Xem đây ta thấy, đối
với người tu Tịnh Độ, tâm Nguyện chơn thiết có tánh cách trọng yếu
là dường bao!
Trích sách Niệm Phật Thập Yếu-HT Thiền Tâm
Thích Minh Tuệ



