
Khai tổ Thiện Đạo Đại sư giải đáp
121.Câu hỏi Tịnh độ 3
11- Hỏi : Trong pháp môn niệm Phật, lại thêm trì trai được không?
Đáp : Pháp niệm Phật cũng cần phải trì trai. Hòa thượng Đại Hạnh trì trai ngày ăn một lần, trải qua thời gian lâu dài không khuyết phạm.
12- Hỏi : Trì trai được bao nhiêu công đức ?
Đáp : Kinh Đại Vân Mật Tạng, Kinh Trai Pháp Thanh Tịnh, Kinh Giảo Lượng Trai Phước Lợi, nói trai có năm thời :
- Người trì trai giờ Dần (3g – 5g sáng) được dư thừa lương thực trong tám vạn bốn ngàn ức năm.
- Người trì trai giờ Mẹo (5g – 7g) được dư thừa lương thực trong tám vạn ức năm.
- Người trì trai giờ Thìn (7g – 9g) được dư thừa lương thực trong sáu vạn ức năm.
- Người trì trai giờ Tỵ (9g – 11g) được dư thừa lương thực trong bốn vạn ức năm.
- Người trì trai giờ Ngọ (11g – 1g) được dư thừa lương thực trong năm trăm ngày.
Sau giời Ngọ không thể thành trai, lại còn mắc tội chớ không có một phần công đức. Nói dư thừa lương thực nghĩa là lương thực dùng mãi không hết. Đời này đầy đủ y phục và thức ăn, đều do thuở quá khứ trì trai mà có được. Cho nên Hòa thượng Đại Hạnh nói người niệm Phật cần phải trì trai.
Vả lại, ví như được lương thực trong một ngày còn chẳng thể nghĩ bàn, huống gì được lương thực trong mười năm; được lương thực trong mười năm còn chẳng thể nghĩ bàn, huống gì được lương thực trong trăm năm, cho đến được lương thực trong ngàn ức, vạn ức, tám vạn ức năm. Trong kinh đã nói, nên biết công đức của trì trai chẳng thể nghĩ bàn. Vì thế người niệm Phật cần phải trì trai.
- MÔN NGHI NGỜ, PHỈ BÁNG MẮC TỘI
13- Hỏi : Khen ngợi, niệm Phật được công đức gì, chê bai niệm Phật bị tội gì ?
Đáp : Theo Tạp Tập kinh nói: «Một lần chê bai người niệm Phật, đọa vào địa ngục Nê Lê ngàn kiếp. Một lần khen ngợi người niệm Phật, diệt trừ nghiệp ác cực trọng trong một trăm kiếp ». Hòa thượng Đại Hạnh nói: «Người không chí tâm niệm, lại chê bai Phật tức là chê bai Pháp, vào thẳng trong A Tỳ chịu mọi đau khổ không có ngày ra». *
14- Hỏi : Địa ngục A Tỳ được xây dựng như thế nào ?
Đáp : Theo kinh Quán Phật Tam Muội nói : „Địa ngục A Tỳ chiều dài tám ngàn do tuần, bảy lớp thành sắt, bảy tầng lưới sắt, có bảy cây phướng sắc, tám vạn bốn ngàn rừng kiếm, tám vạn bốn ngàn chảo nước sôi, chó bằng đồng, rắn bằng sắt, chim bằng sắt, đầy ở trong địa ngục. Một người vào ngục cũng đều đầy khắp, nhiều người vào ngục cũng không chật ». Một khi đọa vào ngục này phải chịu khổ lâu dài không có ngày ra, không có gián đoạn. Trải qua tám Đại kiếp mới được ra, sau đó lại rơi vào loài súc sinh. Do chê bai pháp niệm Phật nên đọa vào địa ngục, chịu khổ không gián đoạn. Nếu không hồi tâm niệm Phật, những tội lỗi vô gián không sao thoát được. Nếu có thể chí thành niệm Phật, những tội lỗi vô gián thảy đều tiêu diệt.
Lại theo kinh Pháp Hoa nói, nếu thấy có người đọc tụng, biên chép, thọ trì kinh này mà khinh khi tật đố, ôm lòng kết hận, sẽ đọa vào địa ngục Vô gián, huống gì người chê bai niệm Phật. Người này tội nặng so với người chê bai đọc tụng, biên chép kinh gắp trăm ngàn vạn lần. Cho nên Hòa thượng Đại Hạnh có thể nhẫn chịu những việc trái nghịch, bị đánh mắng chẳng đáp trả vì sợ chuốc lấy tội lỗi.
Vì thế kinh Di Giáo nói: «Kẻ giặc cướp công đức không gì hơn nóng giận. Nóng giận còn hơn lửa dữ, do đó các Tỳ kheo nên thuờng phòng hộ không để cho nó xậm nhập. Lửa dữ hay thiêu đốt các vật qúy báu ở thế gian. Lửa dữ của tâm nóng giận hay thiêu đốt bảy tài sản của bậc Thánh». Vì vậy, người niệm Phật cần phải nhẫn nhục.
Kinh Hoa Nghiêm còn nói: «Khởi một tâm sân, phát sinh trăm vạn điều chướng ngại». Lại theo kinh Quán Vô Lượng Thọ bảo rằng : »Khen ngợi việc tốt của người tự đựơc công đức, do trách mắng điều xấu của người khác nên tự mắc tội báo ». Do đâu biết đuợc điều đó ? Kinh Báo Ân nói:
« Sa-di Quân Đề vì mắng Thượng tọa âm thanh giống như tiếng chó sủa. Do một lời nói ác, Sa-di Quân Đề trong năm trăm đời thường làm thân chó ». Thế nên biết, mắng chửi người khác, tự mình lại mắc tội. Trong kinh Tạp A-hàm còn nói: «Có một người khen ngợi người làm việc lành thắng diệu, nên trong năm trong đời thường được dung mạo đoan chánh tươi đẹp. Hơi miệng thường phát ra mùi thơm, thân thể thanh khiết như mùi hoa Ưu Bát La, ngược gió bốn mươi dặm vẫn ngửi được mùi hương
Do đó nên biết, khen ngợi người khác được quả báo tốt, người niệm Phật nên tu tán thán việc lành. Theo kinh Pháp Hoa nói: «Chẳng nói việc tốt xấu hay dở của người khác ». Vì vậy, chỉ chuyên niệm Phật, mau chóng vãng sinh Tịnh độ, nhất định chẳng chìm đắm trong luân hồi.
- MÔN THỆ NGUYỆN CHỨNG GIÁO
15-Hỏi: Đã chuyên niệm Phật A-di-đà, nhất định vãng sinh Tịnh độ, nhất định được vô lượng công đức. Nhưng chưa rõ có gì bảo chứng lòng tin ?
Đáp: Có bảo chứng rất lớn ! Theo kinh A Di Đà , chư Phật trong sáu phương nhiều như số cát sông Hằng, hiện tướng lưỡi rộng dài che khắp ba ngàn Đại thiên thế giới, nói lời thành thật chẳng dối gạt chúng sinh. Nên tin đây là lời nói của Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni, niệm Phật nhất định được vô lượng công đức, một ngày đến bảy ngày xưng niệm Phật A Di Đà nhất định vãng sinh Tịnh độ. Y theo lời dạy này không được vãng sinh Tịnh độ thì chư Phật trở thành người dối gạt ông, tướng lưỡi rộng dài kia vì nói lời này sẽ bị tan hoại, không đưa trở vào miệng được nữa.
Đây là chỗ chư Phật trong sáu phương dùng nguyện để bảo chứng. Lại theo kinh Đại Bảo Tích, Phật A Di Đà lúc làm Tỳ-kheo Pháp Tạng, phát 48 thệ nguyện rộng lớn. Trong những nguyện ấy nói: «Nếu khi tôi được thành Phật : – Trời người trong mười phương, nghe danh hiệu tôi, không được Vô sinh Pháp nhẫn, các Pháp Tổng trì của Bồ-tát, thì tôi không ở ngôi Chánh Giác. – Người sinh về cõi nước tôi, không được ba mươi hai tướng tốt, thì tôi không ở ngôi Chánh Giác. – Người thành tựu mười niệm mà không sinh về cõi nước tôi, thì tôi không ở ngôi Chánh Giác. – Nếu người sinh trong cõi nuớc tôi, còn đọa lại ba đường ác, thì tôi không ở ngôi Chánh Giác. – Người sinh về cõi nước tôi, dung mạo không bình đẳng, có sự tốt xấu, thì tôi không ở ngôi Chánh Giác. – Người sinh về cõi nước tôi, không được Thiên nhãn, lục thông tự tại, thì tôi không ở ngôi Chánh Giác. – Chúng sinh trong mười phương xưng danh hiệu tôi, không được chư Phật trong mười phương khen ngợi, thì tôi không ở ngôi Chánh Giác. – Nếu người nữ chán ghét thân nữ, cầu sinh về cõi nước tôi, lúc sắp mạng chung không chuyển thân nữ thành nam tử mà thọ thân nữ, thì tôi không ở ngôi Chánh Giác.
Đức Phật nói Chánh Giác cũng là chỉ rõ Bồ-đề. Nếu tất cả chúng sinh nương vào nguyện lực của Phật, không được quả báo như trên, thì Phật không chứng Vô thượng Bồ-đề. Như thế tức dối gạt các chúng sinh, Ngài thệ ở trong đường ác chẳng được vô thượng Bồ-đề. Đây là hai chỗ lập thệ nguyện của Phật A Di Đà. Kinh A-di-đà lại nói :
« Lúc nói kinh này, Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã mười kiếp ». Phật A Di Đà đã thành Phật, thì niệm Phật nhất định được vãng sinh. Lại, đức Bổn sư Thích-ca nói : « Chuyên niệm danh hiệu Phật cũng là việc khó, ta thực hành pháp niệm Phật này được đạo Giác ngộ Vô thuợng ». Ý nghĩa của việc nói kinh A Di Đà là sự phát nguyện trong lúc tu nhân của Bổn sư Thích-ca. Thế nên, trong kinh Pháp Hoa nói :
« Ta vốn lập thệ nguyện Muốn khiến tất cả chúng Bằng như ta không khác Như xưa ta phát nguyện Nay đã được đầy đủ Dạy tất cả chúng sinh Đều khiến vào Phật đạo ». Đây là chỗ lập thệ nguyện của Phật Thích-ca. Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa nói :
« Thệ rộng như biển, Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn Hầu như nghìn ức Phật Phát nguyện thanh tịnh lớn ». Đây là chỗ phát nguyện của Bồ-tát Quán Thế Âm. Xà Lê Thiện Đạo ở chùa Tây Kinh cùng Pháp sư Kim Cang so sánh sự hơn kém của pháp niệm Phật. Ngài Thiện Đạo lên tòa cao liền phát nguyện rằng : « Theo trong các kinh, đức Thế Tôn nói một pháp niệm Phật được sinh Tịnh độ. Một ngày đến bảy ngày, một niệm đến mười niệm danh hiệu Phât A Di Đà, nhất định vãng sinh Tịnh độ. Đây là lời chân thật không dối gạt chúng gạt chúng sinh, xin khiến cho hai tượng trong chùa này lập tức đều phóng quang. Nếu pháp niệm Phật là hư dối, không được vãng sinh Tịnh độ, lừa gạt chúng sinh, xin khiến cho Thiện Đạo ở trên tòa cao này đọa ngay vào đại địa ngục, chịu khổ lâu dài mãi không có ngày ra khỏi ». Ngài Thiện Đạo liền lấy gậy Như Ý chỉ vào tượng, tượng liền phóng quang. Đây là chỗ lập thệ nguyện của Xà-Lê Thiện Đạo.
Hòa thưọng Đại Hạnh nói : « Nếu người có thể y theo kinh A Di Đà mà niệm Phật, không chấp tướng mạo, tâm chỉ tin Phật, miệng chỉ niệm Phật, thân chỉ kính Phật, có thể nhẫn chịu những điều nghịch ý, ăn cơm đạm bạc, mặc áo thô xấu, hiếu nghĩa nhân từ, chuyên tâm niệm Phật, gặp nghịch duyên chẳng thối lui, đến chết không dời đổi, những việc lành xen tạp và những điều ác cũng không làm, chỉ chuyên niệm Phật. Nếu người được như thế, Đại Hạnh này lóc da làm y phục, cắt thịt cho họ ăn. Nếu y theo kinh, niệm Phật không vãng sinh Tịnh độ, niệm một câu Phật không diệt trừ tội nặng của sự sinh tử trong tám mươi ức kiếp, không được công đức vi diệu trong tám mươi ức kiếp, không lóc da cho mặc, không cắt thịt cho ăn, dối gạt chúng sinh, xin khiến cho Đại Hạnh này lập tức bị quả báo, sáu căn tan hoại, toàn thân sinh ghẻ lở, khổ đau khó chịu, khiến cho mọi người đều thấy, về sau vào thẳng nơi địa ngục, không thoát ra được nữa ». Đây là chỗ lập thệ nguyện của Hòa thượng Đại Hạnh.
Vả lại, thệ nguyện ví như chiếc xe quý báu. Có những chiếc xe chuyên chở nhiều vật báu, định đi đến chỗ quốc vương để mong cầu quan chức. Xe chở vật báu cần phải ràng buộc chắc chắn, như thế đến kinh thành mới không bị nghiêng đổ, không mất vật báu
. Nhà vua được báu, liền cho quan chức. Niệm Phật cũng như thế, cần phải thệ nguyện thực hành mới được thành tựu, chẳng mất vật báu công đức niệm Phật, cho đến vãng sinh Tịnh độ, sớm chứng ngộ Bồ-đề. Nếu trong sự tu hành chẳng lập thệ nguyện thì không do đâu thành tựu được hạnh, nên kinh Di Đà nói : « Nếu có người tin, phải nên phát nguyện sinh về cõi nước kia ».
Trích Niệm Phật Cảnh-Khai tổ Thiện Đạo đại sư
Thích Minh Tue



