
258.Vấn Đáp Tịnh Dộ 28

50- Hỏi: Phương Tiện Hữu Dư là thế nào?
Đáp: Cảnh này không phải là cứu cánh rốt ráo, mà chỉ là phương tiện. Đây là cõi Tịnh Độ của hàng Nhị Thừa. Các vị này tuy đã dứt được kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), nhưng còn dư lại hai hoặc, là vô minh hoặc và trần sa hoặc chưa trừ được, nên gọi là “Hữu Dư”. Còn hữu dư tức là chưa phải hoàn toàn cứu cánh, nên gọi cõi này là “Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ”.
51- Hỏi: Phàm Thánh Đồng Cư là thế nào?
Đáp: Đây là cõi Tịnh Độ của Đức Phật A-di-đà ở Tây Phương. Đã gọi là Tịnh Độ, hay Cực Lạc, tất nhiên có đủ các đức thanh tịnh, trang nghiêm, không có bốn ác thú. Nhưng đây vì Phật, Bồ-tát và các Thượng thiện nhơn (Thánh) cùng sống chung với các chúng sanh mới vãng sanh, chưa chứng được quả Thánh (còn phàm) nên gọi là “Phàm Thánh Đồng Cư Độ”.
52- Hỏi Nói hào quang của Phật A-di-đà luôn chiếu khắp mười phương để nhiếp thọ người niệm Phật, tại sao ta không thấy?:
Đáp: Vì vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, vô minh phiền não ngăn che, nên ta không thấy.
Thí dụ: Ánh sáng trăng ngày rằm (15) chiếu sáng cả bầu trời, nhưng chúng ta ở trong nhà không cảm nhận được sự sáng soi đó, do mái nhà (ví cho vô minh) đã ngăn che.
53- Hỏi: Vậy, con hết thắc mắc. Nay kính xin Thầy nói rõ mười hai danh hiệu Quang minh của Phật A-di-đà cùng sự lợi ích của những quang minh ấy.
Đáp: Đức Phật A-di-đà, tức Phật Vô Lượng Thọ, còn có mười hai danh hiệu Quang như sau:
- Vô Lượng Quang Phật.
Chữ Lượng nghĩa là hạn lượng, lượng có giới hạn. Ánh sáng của A-di-đà Phật chẳng có hạn lượng. Không giống chư Phật khác. Phật quang chỉ chiếu một hai Phật sát, chiếu trăm ngàn Phật sát thì có hạn lượng. Còn ánh sáng của A-di-đà Phật thì chẳng có hạn lượng, chiếu tận hư không biến pháp giới, không nơi nào, chỗ nào là không chiếu. Đây là vô lượng. Đương nhiên thâm ý đều là tượng trưng cho trí tuệ. Vô Lượng Quang cũng tức là nói rõ trí tuệ của Đức Phật A-di-đà là vô lượng.
- Vô Biên Quang Phật.
Biên nghĩa là biên tế, giới hạn. Phật tâm bình đẳng, từ bi bình đẳng, lấy pháp bình đẳng mà giáo hóa tất cả chúng sanh, khiến cho tất cả chúng sanh bình đẳng thành Phật. Ý nghĩa của Vô Biên Quang là chẳng có bờ mé, chẳng có giới tuyến. Chư Phật Như Lai khác như Thích-ca Mâu-ni Phật giáo hóa chúng sanh. Thật ra chúng ta chứng quả là có đẳng cấp. Duy chỉ có độc nhất A-di-đà Phật là được bình đẳng thành tựu (không có đẳng cấp).
Tứ quả tứ tướng của Tiểu thừa. Năm mươi mốt (51) giai cấp của Đại thừa hoàn toàn đều chẳng còn nữa. Phương pháp này của Ngài, quả báo này của Ngài là: “Một là tất cả, tất cả là một”. Cái này gọi là Vô biên tế quang.
- Vô Ngại Quang Phật.
Ngại là chướng ngại; Vô Ngại nghĩa là quyết định chẳng có chướng ngại. Chướng ngại từ đâu đến? Có phân biệt, có chấp trước thì có chướng ngại. Lìa tất cả phân biệt, chấp trước, tâm được tự tại, thì chẳng có chướng ngại, trong tâm không có giới tuyến. Đây là Vô Ngại Quang. Nếu theo Thiền tông mà nói, thì đây là đạt đến chỗ cùng cực.
Dù ở trong nhà, hoặc rừng sâu, dưới đáy biển, dưới lòng đất, tận hang sâu, nơi thành sắt địa ngục, thì quang minh của Phật A-di-đà vẫn chiếu đến, không gì ngăn ngại được.
- Vô Đẳng Quang Phật.
Vô Đẳng đồng nghĩa với vô đối, tức không gì bằng được, không gì đương cự nổi, không gì sánh bằng nổi, chính là dứt bặt đối đãi. Ý nghĩa danh hiệu Vô Đẳng Quang Phật rất sâu xa như vậy.
- Trí Huệ Quang Phật.
Khéo chiếu các pháp, phá trừ được vô minh nên gọi là Trí Huệ Quang. Phá trừ sạch tâm vô minh, nhơ bẩn của chúng sanh, ban cho chúng sanh cái lợi chân thật, nên quang minh của Phật A-di-đà được xưng tụng là tôn quý nhất trong các quang minh (quang trung cực tôn), là vua trong chư Phật (Phật trung chi vương).
- Thường Chiếu Quang Phật.
Trong hết thảy thời, quang minh Phật chiếu khắp, chiếu chẳng dứt, luôn soi sáng, làm lợi ích cho chúng sanh (tiếp dẫn chúng sanh niệm Phật), nên được gọi là Thường Chiếu Quang.
- Thanh Tịnh Quang Phật.
Quang minh này rạng ngời, giúp lìa nhơ (ly cấu), lại còn tiêu trừ tham trược và tội cấu (cấu diệt) của chúng sanh, nên gọi là Thanh Tịnh Quang.
Phật A-di-đà còn gọi là Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, và có mật hiệu là Thanh Tịnh Kim Cang.
Do vậy, hai chữ “Thanh Tịnh” mang ý nghĩa rất sâu sắc.
- Hoan Hỷ Quang Phật.
Quang minh này từ thiện căn vô sân của Phật sanh ra, trừ được tâm nóng giận, ganh ghét, khiến chúng sanh an vui, mừng rỡ, hoan hỷ, chẳng những sanh tâm hoan hỷ, mà họ còn sanh tín tâm, sanh nguyện tâm. Vì thế ánh sáng này được gọi là Hoan Hỷ Quang.
- Giải Thoát Quang Phật.
Quang minh này giúp tiêu nghiệp, tiêu tội, khiến tất cả chúng sanh được đại tự tại.
Giải Thoát Quang cũng được gọi là Việm Vương Quang và Vô Xưng Quang.
- An Ổn Quang Phật.
Tịch tịnh thường diệu, quang minh mầu nhiệm của Phật A-di-đà chiếu trọn khắp, khiến tất cả chúng sanh an ổn, khoái lạc, thoát khỏi các sanh diệt, nên gọi là An Ổn Quang.
- Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.
Quang minh Phật A-di-đà vượt hơn ánh sáng của nhật nguyệt ngàn vạn ức lần.
Ánh sáng mặt trời có thể chiếu rọi hết thảy những thứ hữu tình, sanh trưởng thiên, địa, vạn vật, nhưng chẳng chiếu nổi thứ vô hình, chẳng thể chiếu qua núi Thiết Vy, chẳng thể khai minh cõi lòng con người.
Siêu nhật minh tam-muội chiếu cả mười phương không bến, không bờ, kể cả nơi tam giới, ngũ đạo, không đâu là chẳng chiếu thấu suốt. Tam-muội đã như thế, huống hồ là quang minh của Phật A-di-đà.
Vì vậy Ngài hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.
- Bất Tư Nghì Quang Phật.
Quang minh chẳng nghĩ lường nổi, không diễn tả được, vượt ngoài mức tâm tưởng, ngôn ngữ của thế gian, nên được gọi là Bất Tư Nghì Quang.
Đây là tổng kết thần quang của Phật A-di-đà.
54- Hỏi: Trong Kinh sám hối, lạy Pháp giới tạng thân A-di-đà Phật. Vậy Pháp giới tạng thân A-di-đà Phật là gì?
Đáp: Pháp giới tạng thân A-di-đà Phật nghĩa là thân của Phật A-di-đà bao trùm khắp pháp giới. Nói rõ hơn, công đức của Phật A-di-đà bao gồm tất cả công đức của mười phương ba đời tất cả chư Phật.
Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Phật A-di-đà là vua trong tất cả chư Phật (Phật trung chi vương)”.
Bởi vậy, niệm Phật A-di-đà là niệm mười phương ba đời tất cả chư Phật. Chỉ niệm Phật A-di-đà là đủ rồi, không cần phải niệm Phật nào khác nữa.
Ở đây, không phải chúng ta phân biệt hay kỳ thị, mà ý muốn nhấn mạnh rằng chỉ niệm chuyên nhất Phật A-di-đà để cho dễ nhất tâm, đó là mục đích của người tu Tịnh nghiệp. Còn như niệm nhiều vị Phật quá, hành giả sẽ bị phân tâm, tán loạn không nhất tâm được, đơn giản thế thôi!
55- Hỏi: Trong Kinh A-di-đà yếu giải, Tổ thứ chín Ngẫu Ích đại sư nói: “Mỗi tiếng niệm Phật của mình, tiếng nào mình cũng đã là Phật rồi”. Câu này thật khó hiểu?
Đáp:-Kinh dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ, đức tướng Như Lai, nhưng vì bị vọng tưởng, phân biệt, chấp trước che lấp, nên Phật tánh không thể hiện bày”.
-Lục Tổ Huệ Năng hỏi Thượng tọa Huệ Minh: “Hãy lắng lòng nghe ta hỏi, trong lúc không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Huệ Minh?”. Thượng tọa Huệ Minh liền ngộ.
Vậy thì lắng lòng (không nghĩ thiện, không nghĩ ác) là dừng vọng niệm, dứt vọng tưởng, lúc đó Phật tánh hiện bày (thành Phật).
Khi chú tâm niệm Phật, vọng niệm dừng, vọng tưởng dứt, Phật tánh hiện bày, nên nói: “Ngay mỗi tiếng niệm Phật, tiếng nào mình cũng đã là Phật rồi” có nghĩa là vậy.
Niệm Phật Thành Phật
Niệm Ma Thành Ma
Trích Sách Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp
Thích Minh Tuệ



