am Tâm Nhị Ý Niệm Phật Chẳng Thể Thành Tựu 04 08 2012 | Suy Gẫm & Thực Hành | 0 Phúc Đáp Tam Tâm Nhị Ý Niệm Phật Chẳng Thể Thành TựuLiên Trì Đại Sư đau lòng rát miệng khuyên dạy chúng ta: “Nguyện tịnh nghiệp đệ tử lòng tin chuyên nhất, chẳng sanh hai tâm”. Những đệ tử Phật tu tịnh nghiệp chúng ta, ở đây Liên Trì Đại Sư mong chúng ta chuyên tâm, chớ có tam tâm nhị ý! Tam tâm nhị ý thì hết sức đáng tiếc, bỏ lỡ cơ duyên một đời này chẳng thể thành tựu! Người tu những tông phái khác, như Tông Thiên Thai, Trí Giả Đại sư niệm Phật vãng sanh. Do vậy, tổ sư tông Thiên Thai từ đấy về sau mãi cho đến đời cận đại, Đế Nhàn pháp sư niệm Phật vãng sanh, Đàm Hư pháp sư, Bảo Tịnh pháp sư đều là những vị tổ sư cận đại của tông Thiên Thai đều niệm Phật vãng sanh. Trong những vị Đại đức cư sĩ, chắc quý vị đã biết, cư sĩ Giang Vĩ Nông, cư sĩ Châu Chỉ Am, “dạy tông Bát Nhã, hạnh tại Di Đà”. Những vị tu hành các tông phái khác, tối hậu đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, chúng ta không thể không biết điều này. “Huống hồ người vốn niệm Phật”, chúng ta vốn là kẻ niệm Phật, “há lại thay đổi cái mình tuân giữ, theo đuổi cái người khác tôn sùng”. Chúng ta thay đổi việc niệm Phật của chính mình, đi tu học những pháp môn khác. “Lòng ôm ấp hai nẻo, chí không quy nhất, tam muội làm sao thành tựu cho được?” Đấy là lời cảm thán hết mực của Liên Trì Đại sư. Chúng ta đọc đến đoạn văn này, nghe câu nói ấy, phải nghiêm túc phản tỉnh: Chúng ta có thật sự tu hay chăng? Đừng hỏi ai khác, phải hỏi chính mình. Chúng ta có tam tâm nhị ý hay chăng? Vẫn nghĩ học pháp môn khác ư! Nịêm Phật tam muội cạn nhất là công phu thành phiến, vì sao chúng ta chưa làm được? Có phải là như Liên Trì Đại sư đã nói ở đây chăng? “Thay đổi cái mình tuân giữ, theo đuổi cái người khác tôn sùng”, hâm mộ pháp môn khác, hướng về pháp môn khác, “lòng ôm ấp hai nẻo”. Tuy chẳng bằng lòng buông bỏ Tịnh Độ, những vẫn muốn học pháp môn khác, vì thế “Chí không quy nhất”, phương hướng mục tiêu không nhất trí, như vậy thì ngay cả công phu thành phiến cũng không đạt được, sẽ bị rắc rối như thế này: “Kịp đến khi vô thường, chẳng đạt được gì”. Đến lúc vô thường, vô thường là mạng chung, vô thường xảy đến; nói cách khác, lúc sắp chết, không thành một điều nào cả. “Chẳng nghĩ lỗi mình, lại còn báng bổ! Ô hô! Lầm lạc thay!” Quý vị chẳng biết phản tỉnh cái lỗi của mình, nghĩ lời Phật, Bồ Tát nói không linh, ấy là báng Phật. Báng Phật, báng Pháp là tội A Tỳ Địa Ngục, đúng là đúc thành tội lỗi quá lớn lao, khiến người mắt sáng cảm thán không ngớt, trách nhiệm chính mình phải gánh lấy. Kinh không lầm lỗi, pháp môn không sai lầm mà do chính mình phạm lỗi, không biết đạo lý thâm nhập một môn trường thời huân tu. Trích đọan Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp sư Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Danh Hiệu Phật A Di Đà Có Mặt Cõi Này Lúc Nào? 23 07 2010 | Suy Gẫm & Thực Hành | 3 Phúc Đáp Danh Hiệu Phật A Di Đà Có Mặt Cõi Này Lúc NàoHỏi: Bạch Thầy, mặc dù con tu Tịnh độ, nhưng con không hiểu tại sao mình phải niệm danh hiệu Ngài? Và người ta biết đến danh hiệu Ngài vào lúc nào? Kính xin thầy giải đáp cho con được rõ. Đáp: Sở dĩ chúng ta niệm danh hiệu Ngài là vì chúng ta nương theo bản nguyện của Ngài. Vì đức Phật A Di Đà có phát ra 48 điều đại nguyện. Nguyện nào Ngài cũng muốn tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh về nước của Ngài. Do đó, hầu hết người tu theo pháp môn Tịnh độ đều niệm danh hiệu của Ngài. Khi chúng ta niệm danh hiệu Ngài, ngoài sự thầm gia hộ của Ngài ra, chúng ta còn cần phải nhiếp tâm chí thành mà niệm. Vì chủ trương của pháp môn Tịnh độ, ngoài phần tự lực ra còn có phần tha lực. Tuy nhiên, Phật tử nên nhớ tự lực vẫn là phần chính yếu. Phần nầy rất là quan trọng. Chúng ta cần phải gia công nỗ lực tinh cần mà niệm danh hiệu Ngài. Khi niệm Phật điều quan trọng là phải nhiếp tâm thành ý. Không nên để tâm lăng xăng chạy loạn, mà phải để tâm an trụ vào câu hiệu Phật sáu chữ Di Đà. Vì niệm Phật là niệm tâm. Niệm Phật tối kỵ nhứt là hai chứng bệnh hôn trầm và tán loạn. Nếu niệm với tâm tán loạn, nghĩ nhớ lung tung, thì đó là niệm chúng sanh chớ không phải niệm Phật. Còn hôn trầm là chìm trong mê tối Phật nói trạng huống đó là rơi vào hang quỷ. Cho nên khi niệm Phật, chúng ta phải cố gắng tránh hai chứng bệnh nặng nề nầy. Yếu lý của sự niệm Phật quan trọng là ở nơi ba yếu tố: “tin sâu, nguyện thiết và hành chuyên”. Trong ba yếu tố nầy, thì tin và nguyện là điều kiện ắt có và đủ để quyết định được vãng sanh về Cực lạc. Còn nếu chúng ta hành chuyên, nghĩa là niệm Phật miên mật già dặn không gián đoạn, thì chúng ta sẽ được vãng sanh ở phẩm vị cao. Tùy theo sự thật hành của hành giả chuyên cần hay không chuyên cần, mà phẩm vị ở cõi Cực lạc có cao thấp khác nhau. Vì cửu phẩm liên hoa ở Cực lạc có chia ra làm ba bậc: Thượng, Trung và Hạ. Trong mỗi bậc lại chia làm ba. Như bậc Thượng, thì có thượng phẩm thượng sanh, thượng phẩm trung sanh và thượng phẩm hạ sanh v.v… Ba món trên còn gọi là ba món tư lương, tức hành trang lên đường về quê hương Cực lạc của hành giả. Còn về phần tha lực, tức là chúng ta nương vào bản nguyện oai lực của đức Phật A Di Đà. Vì đức Phật A Di Đà có phát ra 48 điều đại nguyện. Nguyện nào Ngài cũng muốn tiếp rước chúng sanh vể cõi nước Cực lạc của Ngài. Trong lúc lâm chung, nếu hành giả nhớ niệm danh hiệu Ngài, thì sẽ được Ngài phóng quang tiếp dẫn sanh về nước của Ngài. Dù rằng nghiệp lực của chúng ta chưa dứt sạch, nhưng nếu chúng ta chí thành niệm danh hiệu Ngài thì cũng được Ngài tiếp dẫn. Đây gọi là đới nghiệp vãng sanh. Ví như tảng đá tuy to nặng, nhưng nếu để trên chiếc thuyền thì sẽ đi rất nhanh và nhẹ nhàng không có gì khó khăn. Ngược lại, hạt cát tuy rất nhỏ, nhưng nếu bỏ xuống nước, thì hạt cát kia cũng dễ bị chìm đắm. Sự khác biệt giữa các pháp môn tự lực và tha lực là như thế. Đại khái đó là lý do tại sao người tu Tịnh độ phải niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà. Còn Phật tử hỏi vì sao mà chúng ta biết đến danh hiệu của đức Phật A Di Đà và biết đến Ngài vào lúc nào? Xin thưa, sở dĩ chúng ta biết đến danh hiệu của Ngài là nhờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu ở trong các Kinh điển Tịnh độ. Nhất là Kinh A Di Đà. Đây là bộ kinh tự Ngài giới thiệu nói ra, chớ không có ai hỏi Ngài cả. Nên kinh nầy còn gọi là “vô vấn tự thuyết”. Chính nhờ vào sự giới thiệu đó, nên chúng sanh ở cõi Ta bà nầy mới biết được. Nếu như đức Phật Thích Ca không nói, thì không ai có thể biết được. Vì đức Phật là đấng chơn thiệt ngữ, nên lời giới thiệu của Ngài là một sự thật. Chúng ta tin chắc chắn điều đó, không có gì phải nghi ngờ. Danh Hiệu Phật A Di Đà Có Mặt Cõi Này Lúc Nào? 23 07 2010 | Suy Gẫm & Thực Hành | 3 Phúc Đáp Danh Hiệu Phật A Di Đà Có Mặt Cõi Này Lúc NàoHỏi: Bạch Thầy, mặc dù con tu Tịnh độ, nhưng con không hiểu tại sao mình phải niệm danh hiệu Ngài? Và người ta biết đến danh hiệu Ngài vào lúc nào? Kính xin thầy giải đáp cho con được rõ. Đáp: Sở dĩ chúng ta niệm danh hiệu Ngài là vì chúng ta nương theo bản nguyện của Ngài. Vì đức Phật A Di Đà có phát ra 48 điều đại nguyện. Nguyện nào Ngài cũng muốn tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh về nước của Ngài. Do đó, hầu hết người tu theo pháp môn Tịnh độ đều niệm danh hiệu của Ngài. Khi chúng ta niệm danh hiệu Ngài, ngoài sự thầm gia hộ của Ngài ra, chúng ta còn cần phải nhiếp tâm chí thành mà niệm. Vì chủ trương của pháp môn Tịnh độ, ngoài phần tự lực ra còn có phần tha lực. Tuy nhiên, Phật tử nên nhớ tự lực vẫn là phần chính yếu. Phần nầy rất là quan trọng. Chúng ta cần phải gia công nỗ lực tinh cần mà niệm danh hiệu Ngài. Khi niệm Phật điều quan trọng là phải nhiếp tâm thành ý. Không nên để tâm lăng xăng chạy loạn, mà phải để tâm an trụ vào câu hiệu Phật sáu chữ Di Đà. Vì niệm Phật là niệm tâm. Niệm Phật tối kỵ nhứt là hai chứng bệnh hôn trầm và tán loạn. Nếu niệm với tâm tán loạn, nghĩ nhớ lung tung, thì đó là niệm chúng sanh chớ không phải niệm Phật. Còn hôn trầm là chìm trong mê tối Phật nói trạng huống đó là rơi vào hang quỷ. Cho nên khi niệm Phật, chúng ta phải cố gắng tránh hai chứng bệnh nặng nề nầy. Yếu lý của sự niệm Phật quan trọng là ở nơi ba yếu tố: “tin sâu, nguyện thiết và hành chuyên”. Trong ba yếu tố nầy, thì tin và nguyện là điều kiện ắt có và đủ để quyết định được vãng sanh về Cực lạc. Còn nếu chúng ta hành chuyên, nghĩa là niệm Phật miên mật già dặn không gián đoạn, thì chúng ta sẽ được vãng sanh ở phẩm vị cao. Tùy theo sự thật hành của hành giả chuyên cần hay không chuyên cần, mà phẩm vị ở cõi Cực lạc có cao thấp khác nhau. Vì cửu phẩm liên hoa ở Cực lạc có chia ra làm ba bậc: Thượng, Trung và Hạ. Trong mỗi bậc lại chia làm ba. Như bậc Thượng, thì có thượng phẩm thượng sanh, thượng phẩm trung sanh và thượng phẩm hạ sanh v.v… Ba món trên còn gọi là ba món tư lương, tức hành trang lên đường về quê hương Cực lạc của hành giả. Còn về phần tha lực, tức là chúng ta nương vào bản nguyện oai lực của đức Phật A Di Đà. Vì đức Phật A Di Đà có phát ra 48 điều đại nguyện. Nguyện nào Ngài cũng muốn tiếp rước chúng sanh vể cõi nước Cực lạc của Ngài. Trong lúc lâm chung, nếu hành giả nhớ niệm danh hiệu Ngài, thì sẽ được Ngài phóng quang tiếp dẫn sanh về nước của Ngài. Dù rằng nghiệp lực của chúng ta chưa dứt sạch, nhưng nếu chúng ta chí thành niệm danh hiệu Ngài thì cũng được Ngài tiếp dẫn. Đây gọi là đới nghiệp vãng sanh. Ví như tảng đá tuy to nặng, nhưng nếu để trên chiếc thuyền thì sẽ đi rất nhanh và nhẹ nhàng không có gì khó khăn. Ngược lại, hạt cát tuy rất nhỏ, nhưng nếu bỏ xuống nước, thì hạt cát kia cũng dễ bị chìm đắm. Sự khác biệt giữa các pháp môn tự lực và tha lực là như thế. Đại khái đó là lý do tại sao người tu Tịnh độ phải niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà. Còn Phật tử hỏi vì sao mà chúng ta biết đến danh hiệu của đức Phật A Di Đà và biết đến Ngài vào lúc nào? Xin thưa, sở dĩ chúng ta biết đến danh hiệu của Ngài là nhờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu ở trong các Kinh điển Tịnh độ. Nhất là Kinh A Di Đà. Đây là bộ kinh tự Ngài giới thiệu nói ra, chớ không có ai hỏi Ngài cả. Nên kinh nầy còn gọi là “vô vấn tự thuyết”. Chính nhờ vào sự giới thiệu đó, nên chúng sanh ở cõi Ta bà nầy mới biết được. Nếu như đức Phật Thích Ca không nói, thì không ai có thể biết được. Vì đức Phật là đấng chơn thiệt ngữ, nên lời giới thiệu của Ngài là một sự thật. Chúng ta tin chắc chắn điều đó, không có gì phải nghi ngờ. TK Thích Phước Thái Facebook TwitterTK Thích Phước Thái Facebook Twitter

Danh Hiệu Phật A Di Đà Có Mặt Cõi Này Lúc Nào? Hỏi: Bạch Thầy, mặc dù con tu Tịnh độ, nhưng con không hiểu tại sao mình phải niệm danh hiệu Ngài? Và người ta biết đến danh hiệu Ngài vào lúc nào? Kính xin thầy giải đáp cho con được rõ. Đáp: Sở … Đọc tiếp Danh Hiệu Phật A Di Đà Có Mặt Cõi Này Lúc Nào? 23 07 2010 | Suy Gẫm & Thực Hành | 3 Phúc Đáp Danh Hiệu Phật A Di Đà Có Mặt Cõi Này Lúc NàoHỏi: Bạch Thầy, mặc dù con tu Tịnh độ, nhưng con không hiểu tại sao mình phải niệm danh hiệu Ngài? Và người ta biết đến danh hiệu Ngài vào lúc nào? Kính xin thầy giải đáp cho con được rõ. Đáp: Sở dĩ chúng ta niệm danh hiệu Ngài là vì chúng ta nương theo bản nguyện của Ngài. Vì đức Phật A Di Đà có phát ra 48 điều đại nguyện. Nguyện nào Ngài cũng muốn tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh về nước của Ngài. Do đó, hầu hết người tu theo pháp môn Tịnh độ đều niệm danh hiệu của Ngài. Khi chúng ta niệm danh hiệu Ngài, ngoài sự thầm gia hộ của Ngài ra, chúng ta còn cần phải nhiếp tâm chí thành mà niệm. Vì chủ trương của pháp môn Tịnh độ, ngoài phần tự lực ra còn có phần tha lực. Tuy nhiên, Phật tử nên nhớ tự lực vẫn là phần chính yếu. Phần nầy rất là quan trọng. Chúng ta cần phải gia công nỗ lực tinh cần mà niệm danh hiệu Ngài. Khi niệm Phật điều quan trọng là phải nhiếp tâm thành ý. Không nên để tâm lăng xăng chạy loạn, mà phải để tâm an trụ vào câu hiệu Phật sáu chữ Di Đà. Vì niệm Phật là niệm tâm. Niệm Phật tối kỵ nhứt là hai chứng bệnh hôn trầm và tán loạn. Nếu niệm với tâm tán loạn, nghĩ nhớ lung tung, thì đó là niệm chúng sanh chớ không phải niệm Phật. Còn hôn trầm là chìm trong mê tối Phật nói trạng huống đó là rơi vào hang quỷ. Cho nên khi niệm Phật, chúng ta phải cố gắng tránh hai chứng bệnh nặng nề nầy. Yếu lý của sự niệm Phật quan trọng là ở nơi ba yếu tố: “tin sâu, nguyện thiết và hành chuyên”. Trong ba yếu tố nầy, thì tin và nguyện là điều kiện ắt có và đủ để quyết định được vãng sanh về Cực lạc. Còn nếu chúng ta hành chuyên, nghĩa là niệm Phật miên mật già dặn không gián đoạn, thì chúng ta sẽ được vãng sanh ở phẩm vị cao. Tùy theo sự thật hành của hành giả chuyên cần hay không chuyên cần, mà phẩm vị ở cõi Cực lạc có cao thấp khác nhau. Vì cửu phẩm liên hoa ở Cực lạc có chia ra làm ba bậc: Thượng, Trung và Hạ. Trong mỗi bậc lại chia làm ba. Như bậc Thượng, thì có thượng phẩm thượng sanh, thượng phẩm trung sanh và thượng phẩm hạ sanh v.v… Ba món trên còn gọi là ba món tư lương, tức hành trang lên đường về quê hương Cực lạc của hành giả. Còn về phần tha lực, tức là chúng ta nương vào bản nguyện oai lực của đức Phật A Di Đà. Vì đức Phật A Di Đà có phát ra 48 điều đại nguyện. Nguyện nào Ngài cũng muốn tiếp rước chúng sanh vể cõi nước Cực lạc của Ngài. Trong lúc lâm chung, nếu hành giả nhớ niệm danh hiệu Ngài, thì sẽ được Ngài phóng quang tiếp dẫn sanh về nước của Ngài. Dù rằng nghiệp lực của chúng ta chưa dứt sạch, nhưng nếu chúng ta chí thành niệm danh hiệu Ngài thì cũng được Ngài tiếp dẫn. Đây gọi là đới nghiệp vãng sanh. Ví như tảng đá tuy to nặng, nhưng nếu để trên chiếc thuyền thì sẽ đi rất nhanh và nhẹ nhàng không có gì khó khăn. Ngược lại, hạt cát tuy rất nhỏ, nhưng nếu bỏ xuống nước, thì hạt cát kia cũng dễ bị chìm đắm. Sự khác biệt giữa các pháp môn tự lực và tha lực là như thế. Đại khái đó là lý do tại sao người tu Tịnh độ phải niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà. Còn Phật tử hỏi vì sao mà chúng ta biết đến danh hiệu của đức Phật A Di Đà và biết đến Ngài vào lúc nào? Xin thưa, sở dĩ chúng ta biết đến danh hiệu của Ngài là nhờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu ở trong các Kinh điển Tịnh độ. Nhất là Kinh A Di Đà. Đây là bộ kinh tự Ngài giới thiệu nói ra, chớ không có ai hỏi Ngài cả. Nên kinh nầy còn gọi là “vô vấn tự thuyết”. Chính nhờ vào sự giới thiệu đó, nên chúng sanh ở cõi Ta bà nầy mới biết được. Nếu như đức Phật Thích Ca không nói, thì không ai có thể biết được. Vì đức Phật là đấng chơn thiệt ngữ, nên lời giới thiệu của Ngài là một sự thật. Chúng ta tin chắc chắn điều đó, không có gì phải nghi ngờ. Danh Hiệu Phật A Di Đà Có Mặt Cõi Này Lúc Nào? 23 07 2010 | Suy Gẫm & Thực Hành | 3 Phúc Đáp Danh Hiệu Phật A Di Đà Có Mặt Cõi Này Lúc NàoHỏi: Bạch Thầy, mặc dù con tu Tịnh độ, nhưng con không hiểu tại sao mình phải niệm danh hiệu Ngài? Và người ta biết đến danh hiệu Ngài vào lúc nào? Kính xin thầy giải đáp cho con được rõ. Đáp: Sở dĩ chúng ta niệm danh hiệu Ngài là vì chúng ta nương theo bản nguyện của Ngài. Vì đức Phật A Di Đà có phát ra 48 điều đại nguyện. Nguyện nào Ngài cũng muốn tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh về nước của Ngài. Do đó, hầu hết người tu theo pháp môn Tịnh độ đều niệm danh hiệu của Ngài. Khi chúng ta niệm danh hiệu Ngài, ngoài sự thầm gia hộ của Ngài ra, chúng ta còn cần phải nhiếp tâm chí thành mà niệm. Vì chủ trương của pháp môn Tịnh độ, ngoài phần tự lực ra còn có phần tha lực. Tuy nhiên, Phật tử nên nhớ tự lực vẫn là phần chính yếu. Phần nầy rất là quan trọng. Chúng ta cần phải gia công nỗ lực tinh cần mà niệm danh hiệu Ngài. Khi niệm Phật điều quan trọng là phải nhiếp tâm thành ý. Không nên để tâm lăng xăng chạy loạn, mà phải để tâm an trụ vào câu hiệu Phật sáu chữ Di Đà. Vì niệm Phật là niệm tâm. Niệm Phật tối kỵ nhứt là hai chứng bệnh hôn trầm và tán loạn. Nếu niệm với tâm tán loạn, nghĩ nhớ lung tung, thì đó là niệm chúng sanh chớ không phải niệm Phật. Còn hôn trầm là chìm trong mê tối Phật nói trạng huống đó là rơi vào hang quỷ. Cho nên khi niệm Phật, chúng ta phải cố gắng tránh hai chứng bệnh nặng nề nầy. Yếu lý của sự niệm Phật quan trọng là ở nơi ba yếu tố: “tin sâu, nguyện thiết và hành chuyên”. Trong ba yếu tố nầy, thì tin và nguyện là điều kiện ắt có và đủ để quyết định được vãng sanh về Cực lạc. Còn nếu chúng ta hành chuyên, nghĩa là niệm Phật miên mật già dặn không gián đoạn, thì chúng ta sẽ được vãng sanh ở phẩm vị cao. Tùy theo sự thật hành của hành giả chuyên cần hay không chuyên cần, mà phẩm vị ở cõi Cực lạc có cao thấp khác nhau. Vì cửu phẩm liên hoa ở Cực lạc có chia ra làm ba bậc: Thượng, Trung và Hạ. Trong mỗi bậc lại chia làm ba. Như bậc Thượng, thì có thượng phẩm thượng sanh, thượng phẩm trung sanh và thượng phẩm hạ sanh v.v… Ba món trên còn gọi là ba món tư lương, tức hành trang lên đường về quê hương Cực lạc của hành giả. Còn về phần tha lực, tức là chúng ta nương vào bản nguyện oai lực của đức Phật A Di Đà. Vì đức Phật A Di Đà có phát ra 48 điều đại nguyện. Nguyện nào Ngài cũng muốn tiếp rước chúng sanh vể cõi nước Cực lạc của Ngài. Trong lúc lâm chung, nếu hành giả nhớ niệm danh hiệu Ngài, thì sẽ được Ngài phóng quang tiếp dẫn sanh về nước của Ngài. Dù rằng nghiệp lực của chúng ta chưa dứt sạch, nhưng nếu chúng ta chí thành niệm danh hiệu Ngài thì cũng được Ngài tiếp dẫn. Đây gọi là đới nghiệp vãng sanh. Ví như tảng đá tuy to nặng, nhưng nếu để trên chiếc thuyền thì sẽ đi rất nhanh và nhẹ nhàng không có gì khó khăn. Ngược lại, hạt cát tuy rất nhỏ, nhưng nếu bỏ xuống nước, thì hạt cát kia cũng dễ bị chìm đắm. Sự khác biệt giữa các pháp môn tự lực và tha lực là như thế. Đại khái đó là lý do tại sao người tu Tịnh độ phải niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà. Còn Phật tử hỏi vì sao mà chúng ta biết đến danh hiệu của đức Phật A Di Đà và biết đến Ngài vào lúc nào? Xin thưa, sở dĩ chúng ta biết đến danh hiệu của Ngài là nhờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu ở trong các Kinh điển Tịnh độ. Nhất là Kinh A Di Đà. Đây là bộ kinh tự Ngài giới thiệu nói ra, chớ không có ai hỏi Ngài cả. Nên kinh nầy còn gọi là “vô vấn tự thuyết”. Chính nhờ vào sự giới thiệu đó, nên chúng sanh ở cõi Ta bà nầy mới biết được. Nếu như đức Phật Thích Ca không nói, thì không ai có thể biết được. Vì đức Phật là đấng chơn thiệt ngữ, nên lời giới thiệu của Ngài là một sự thật. Chúng ta tin chắc chắn điều đó, không có gì phải nghi ngờ. TK Thích Phước Thái Facebook TwitterTK Thích Phước Thái Facebook Twitter

Cướp Đoạt Vợ Người Bị Oan Hồn Đeo Đuổi Suốt 5 Kiếp Để Báo Thù 08 07 2018 | Chuyện Nhân Quả | 7 Phúc Đáp Cướp Đoạt Vợ Người Bị Oan Hồn Đeo Đuổi Suốt 5 Kiếp Để Báo ThùHuyện Gia Thiện thuộc tỉnh Chiết Giang có một nho sinh họ Chi, vào mùa xuân năm Kỷ Dậu thuộc niên hiệu Khang Hy (năm 1669), một hôm bỗng nói với người bạn họ Cố rằng: “Sao tôi bỗng nhiên thấy tinh thần hoang mang hoảng hốt, dường như có oan hồn báo oán đang đi theo tôi.” Tiếp đó họ Chi liền ngã bệnh. Vì thế, người bạn họ Cố liền thỉnh một vị tăng là Pháp sư Tây Liên đến thưa hỏi. Lúc ấy họ Chi bỗng phát ra tiếng nói từ trong bụng như tiếng hồn ma, nói rằng: “Tôi trước đây vốn là một viên phó tướng hồi đầu triều Minh, họ Hồng tên Thù. [Tên họ Chi này khi ấy là] chủ tướng của tôi, họ Diêu, thấy người vợ họ Giang của tôi xinh đẹp liền khởi tâm tham muốn. Nhân khi ấy có một nơi kia làm phản, liền sai tôi đi chinh phạt [nhưng cố ý chỉ] giao cho bảy trăm tên lính già yếu. [Do quân binh yếu ớt], tôi không đủ sức dẹp loạn, phải bỏ mạng cùng cả đám quân sĩ ấy. Họ Diêu liền chiếm lấy vợ tôi, nhưng nàng [không thuận nên] treo cổ tự vẫn. Tôi ôm mối thù sâu nặng đó quyết đi theo báo oán. Nhưng họ Diêu thuở ấy đến tuổi già xuất gia tu hành, đời sau đó sinh ra thành một vị cao tăng, đời tiếp theo lại làm một vị đại học sĩ trong Hàn lâm viện, đời thứ ba lại làm một vị tăng giới hạnh, đời thứ tư sinh làm người hết sức giàu có, ưa thích bố thí, nên không một đời nào tôi có thể báo oán được cả. Nay là đời thứ năm, kẻ oan gia này của tôi lẽ ra đã được thi đỗ liên tiếp cả hai khoa thi, nhưng vì vào năm ấy trổ tài văn chương hý lộng, hại chết bốn người thương gia buôn trà, bị trời cao tước lộc, không cho thi đỗ nữa. Vì thế hôm nay tôi đến đây báo oán.” Pháp sư Tây Liên nghe lời hồn ma kể rõ ngọn ngành, liền khuyên bảo [nên buông bỏ oán cừu,] hứa sẽ vì hồn ma mà tụng kinh lễ sám. Hồn ma liền chấp nhận. Người nhà thỉnh Pháp sư Tây Liên tụng kinh lễ sám, hóa giải oán cừu. Quả nhiên, không bao lâu họ Chi khỏi bệnh. Sau đó một thời gian, họ Chi lại phát ra tiếng nói trong bụng như hồn ma. Pháp sư Tây Liên liền quở trách. Hồn ma nói: “Tôi nương nhờ Phật lực đã được siêu sinh, quyết không trở lại. Nay đến đòi mạng ông Chi chính là bốn người thương gia buôn trà bị ông ấy hại chết trước đây, thật không phải tôi. Vì sợ thầy trách tôi không giữ lời hứa nên mới đặc biệt trở lại đây nói rõ.” Nói xong liền đi mất. Chỉ trong chốc lát, họ Chi phát bệnh, chưa được hai ngày thì qua đời. Lời bàn: Kinh Phật dạy rằng: “Dù có trải qua trăm ngàn kiếp, những nghiệp đã tạo ra đều không tự nhiên tiêu mất. Khi có đủ nhân duyên gặp nhau thì những quả báo của việc mình làm đều phải tự mình nhận lấy.” Việc đền trả một món nợ đã vay trước đây hai, ba trăm năm, so [với thời gian trăm ngàn kiếp] cũng không phải là quá xa xôi. Trích An Sĩ Toàn Thư – Khuyên Người Bỏ Sự Tham Dục Nguyên tác Hán văn: Dục Hải Hồi Cuồng Tác Giả: Chu An Sĩ Việt dịch và chú giải: Nguyễn Minh Tiến

Cướp Đoạt Vợ Người Bị Oan Hồn Đeo Đuổi Suốt 5 Kiếp Để Báo Thù Huyện Gia Thiện thuộc tỉnh Chiết Giang có một nho sinh họ Chi, vào mùa xuân năm Kỷ Dậu thuộc niên hiệu Khang Hy (năm 1669), một hôm bỗng nói với người bạn họ Cố rằng: “Sao tôi bỗng nhiên … Đọc tiếp Cướp Đoạt Vợ Người Bị Oan Hồn Đeo Đuổi Suốt 5 Kiếp Để Báo Thù 08 07 2018 | Chuyện Nhân Quả | 7 Phúc Đáp Cướp Đoạt Vợ Người Bị Oan Hồn Đeo Đuổi Suốt 5 Kiếp Để Báo ThùHuyện Gia Thiện thuộc tỉnh Chiết Giang có một nho sinh họ Chi, vào mùa xuân năm Kỷ Dậu thuộc niên hiệu Khang Hy (năm 1669), một hôm bỗng nói với người bạn họ Cố rằng: “Sao tôi bỗng nhiên thấy tinh thần hoang mang hoảng hốt, dường như có oan hồn báo oán đang đi theo tôi.” Tiếp đó họ Chi liền ngã bệnh. Vì thế, người bạn họ Cố liền thỉnh một vị tăng là Pháp sư Tây Liên đến thưa hỏi. Lúc ấy họ Chi bỗng phát ra tiếng nói từ trong bụng như tiếng hồn ma, nói rằng: “Tôi trước đây vốn là một viên phó tướng hồi đầu triều Minh, họ Hồng tên Thù. [Tên họ Chi này khi ấy là] chủ tướng của tôi, họ Diêu, thấy người vợ họ Giang của tôi xinh đẹp liền khởi tâm tham muốn. Nhân khi ấy có một nơi kia làm phản, liền sai tôi đi chinh phạt [nhưng cố ý chỉ] giao cho bảy trăm tên lính già yếu. [Do quân binh yếu ớt], tôi không đủ sức dẹp loạn, phải bỏ mạng cùng cả đám quân sĩ ấy. Họ Diêu liền chiếm lấy vợ tôi, nhưng nàng [không thuận nên] treo cổ tự vẫn. Tôi ôm mối thù sâu nặng đó quyết đi theo báo oán. Nhưng họ Diêu thuở ấy đến tuổi già xuất gia tu hành, đời sau đó sinh ra thành một vị cao tăng, đời tiếp theo lại làm một vị đại học sĩ trong Hàn lâm viện, đời thứ ba lại làm một vị tăng giới hạnh, đời thứ tư sinh làm người hết sức giàu có, ưa thích bố thí, nên không một đời nào tôi có thể báo oán được cả. Nay là đời thứ năm, kẻ oan gia này của tôi lẽ ra đã được thi đỗ liên tiếp cả hai khoa thi, nhưng vì vào năm ấy trổ tài văn chương hý lộng, hại chết bốn người thương gia buôn trà, bị trời cao tước lộc, không cho thi đỗ nữa. Vì thế hôm nay tôi đến đây báo oán.” Pháp sư Tây Liên nghe lời hồn ma kể rõ ngọn ngành, liền khuyên bảo [nên buông bỏ oán cừu,] hứa sẽ vì hồn ma mà tụng kinh lễ sám. Hồn ma liền chấp nhận. Người nhà thỉnh Pháp sư Tây Liên tụng kinh lễ sám, hóa giải oán cừu. Quả nhiên, không bao lâu họ Chi khỏi bệnh. Sau đó một thời gian, họ Chi lại phát ra tiếng nói trong bụng như hồn ma. Pháp sư Tây Liên liền quở trách. Hồn ma nói: “Tôi nương nhờ Phật lực đã được siêu sinh, quyết không trở lại. Nay đến đòi mạng ông Chi chính là bốn người thương gia buôn trà bị ông ấy hại chết trước đây, thật không phải tôi. Vì sợ thầy trách tôi không giữ lời hứa nên mới đặc biệt trở lại đây nói rõ.” Nói xong liền đi mất. Chỉ trong chốc lát, họ Chi phát bệnh, chưa được hai ngày thì qua đời. Lời bàn: Kinh Phật dạy rằng: “Dù có trải qua trăm ngàn kiếp, những nghiệp đã tạo ra đều không tự nhiên tiêu mất. Khi có đủ nhân duyên gặp nhau thì những quả báo của việc mình làm đều phải tự mình nhận lấy.” Việc đền trả một món nợ đã vay trước đây hai, ba trăm năm, so [với thời gian trăm ngàn kiếp] cũng không phải là quá xa xôi. Trích An Sĩ Toàn Thư – Khuyên Người Bỏ Sự Tham Dục Nguyên tác Hán văn: Dục Hải Hồi Cuồng Tác Giả: Chu An Sĩ Việt dịch và chú giải: Nguyễn Minh Tiến

Cách Tập Buông Xả Của Hòa Thượng Tịnh Không 18 05 2014 | Suy Gẫm & Thực Hành | 7 Phúc Đáp Cách Tập Buông Xả Của Hòa Thượng Tịnh KhôngKinh Kim Cang dạy “hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt bóng”, hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian chẳng có thứ nào chân thật. Lão hòa thượng nói lúc còn trẻ Ngài đã có một chút trí huệ, trí huệ từ đâu đến? Lúc lão hòa thượng còn chưa học Phật, mỗi ngày coi báo, trước hết là coi các mục cáo phó, coi hôm nay có người nào qua đời, trong số đó có người già, có người rất trẻ, thật đúng là “trên đường đến suối vàng, già cũng có mà trẻ cũng không ít”. Coi họ đã qua đời, lúc đến thế gian này họ đem theo cái gì, lúc ra đi họ mang theo được gì? Lúc tới trắng tay, lúc đi cũng tay trắng, một chút gì cũng không mang theo được, thế gian này có gì đáng tranh giành, có gì đáng mong cầu? Mỗi ngày coi báo, coi những mục cáo phó này sẽ mở mang trí huệ, công phu niệm Phật sẽ đắc lực. Nếu chúng ta không buông xuống được, hãy coi những mục cáo phó này suốt nửa năm, xem thử chúng ta có buông xuống được hay không! Hết thảy đều buông xuống, tâm sẽ thanh tịnh, trong tâm trống rỗng, chẳng có gì hết. Biết được tiền tài, sắc đẹp, tiếng tăm, ăn uống, ngủ nghỉ, ngũ dục lục trần trong thế gian này đều là giả, đều là một giấc mộng! Ngay bây giờ chúng ta đang nằm mộng, biết rằng chúng ta đang nằm mộng. Nếu không biết chúng ta đang nằm mộng, coi mộng là thật, thì ngày tháng đó sẽ rất đau khổ. Biết mình đang nằm mộng sẽ giống như Phật, Bồ Tát du hý thần thông, có gì chẳng tự tại? Thật sự có thể tùy duyên, thật sự có thể hằng thuận chúng sanh, thành tựu đạo nghiệp của chính mình. Đạo nghiệp là gì? Tâm thanh tịnh là đạo nghiệp, vạn duyên buông xuống là đạo nghiệp. Trích từ sách Nhìn Thấu Là Trí Tuệ Chân Thật Trích lục từ giảng ký của Lão Hòa Thượng Thượng Tịnh Hạ Không Minh Trí và Mẫn Đạt chuyển ngữ Như Hòa nhuận văn Facebook Twitter Gmail Các Bài Pháp Liên Quan: ❏ Trong Phật Pháp Chỉ Có Buông Xuống Mới Có Thể Tiến Lên Cao ❏ Bí Quyết Để Niệm Phật Công Phu Thành Khối (Phiến) ❏ Trăm Duyên Chẳng Quản Buông Xả Niệm Phật 2 Năm Sau Vãng Sanh ❏ Do Đâu Chúng Ta Khổ Và Cách Thoát Khổ Các Bài Pháp Cùng Chủ Đề: Người Chân Thật Tu Hành Không Nên Xem Truyền Hình Người Chân Thật Tu Hành Không Nên Xem Truyền Hình Pháp Ngữ Tịnh Độ của Đại Sư U Khê Pháp Ngữ Tịnh Độ của Đại Sư U Khê Mười Lý Do Nên Tu Pháp Môn Tịnh Độ Để Vãng Sanh về Tây Phương Cực Lạc Chính Cái Ta Và Của Ta Làm Hại Chúng Ta Sanh Tử Luân Hồi Đời Đời Kiếp Kiếp Chính Cái “Ta” Và “Của Ta” Làm Hại Chúng Ta Sanh Tử Luân Hồi Đời Đời Kiếp Kiếp 7 Phúc Đáp Phúc Bình Phúc Bình ngày 28/05/2014 lúc 2:46 sáng Sống ở đời muốn buông xả hết xuống thật quá ư là khó khăn. Ví như ở cơ quan Phúc Bình chuyện ăn nhậu, uống rượu, bài bạc gần như là văn hóa công ty, đặc biệt là trong các chuyến công tác, ai không theo được bị kỳ thị ghê gớm. Ở nhà hạnh phúc gia đình lại cũng là ở bữa ăn, vợ chỉ mong muốn xào nấu món này món kia để cả nhà cùng đánh chén thì mới thấy sung sướng, vợ con, cha mẹ vui vẻ hỉ hả. Mình không ăn mặn, ăn chay trường lập tức gia đình như lò bát quái … không biết diễn tả sao cho hết. Biết rằng nếu không dũng mãnh xả bỏ tất cả những điều đó, giữ trọn 5 giới thì dẫu hành trì niệm Phật cũng khó mà có công đức đầy đủ vãng sanh, may chăng chỉ là phước đức hữu lậu trong vòng luân hồi lục đạo. Uổng phí một đời. Nam Mô A Di Đà Phật Hồi Âm tâm bình tâm bình ngày 26/01/2015 lúc 8:39 chiều nếu đang sống bình yên liền dừng cái rụp thì chắc sẽ bị sốc như bạn nói dó. cũng như khi lái xe bon bon đột nhiên thắng gấp cái rụp tức nhiên sẽ bị quay xe hay còn nhiều xe khác thắng không kịp trở tay tông vào bạn thôi. cái gì cũng từ từ 10 rồi đến 9 đến 8 đến 7…. vài cuối cùng xuống tóc thôi vì sao vì lúc đó cuộc sống thanh đạm của bạn trở thành thói quen với mọi người rồi. ôi ông ấy là vậy đó lúc trước ăn 5 chén nay còn 1 chén. lúc trước nhậu dữ lắm nay thỉnh thoảng 1 chai , ổng hay kêu uống nhiều mệt mõi vì già rồi . thôi uống ít sống lâu cho vợ con đở nhờ tôi không còn mệt hầu hạ. dạo này ăn thịt hoài cũng chán khó tiêu thôi thay vào rau 10 thịt 1 thôi ăn vậy mà ngoan hen em. thế cũng xong , tất do mình biến chuyễn thôi. nếu bạn đang đi làm về nhà em ơi anh muốn đi tu đời là bễ khổ tình là dây oan đó em, ở nhà lo cho con đi nha anh đi tu đó. nghe như vậy là không bị sốc mới lạ. cũng như ngày mai anh ăn chay nha anh không thích ăn mặn đâu thế là đau khổ cho người khác rồi. Tô Hùng Cường Tô Hùng Cường ngày 28/05/2014 lúc 9:01 sáng Thiện Minh có người bạn thân tên Nguyễn Hoàng Hà, công tác ở cảng vụ Hải Phòng. Mới đây gặp mình buồn bã, than thở: “Chỉ vì không biết a dua, nhậu nhẹt, karaoke ôm…nên mất chức phó phòng”. Người thay thế tên Hải, lanh lẹ, luồn cúi, bia rượu, gái gú, cá độ thành thần thì được cả phòng bầu lên thế chỗ. Tôi an ủi rồi hỏi ảnh: “Nếu lựa chọn chức vụ phó phòng nhưng phải hoà chung vào guồng xoáy của mọi người thì anh đồng ý không”? Ảnh tần ngần một lát rồi trả lời dứt khoát: -Không. Tôi cũng thấy mừng thầm cho anh. Tuy vô thần (Vì anh là công chức nhà nước) nhưng vẫn còn giữ được tâm thanh sạch. (Tuy vẫn có chút nuối tiếc nhưng dù sao cũng có ý thức buông xả). Cũng là một tấm gương hiếm thấy trong xã hội kim tiền hiện nay vậy. A-Di-Đà-Phật Hồi Âm Mây trắng lang thang Mây trắng lang thang ngày 28/05/2014 lúc 10:04 chiều Nam mô A Di Đà Phật Mình có điều này không hiểu nên mu

Cách Tập Buông Xả Của Hòa Thượng Tịnh Không Kinh Kim Cang dạy “hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt bóng”, hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian chẳng có thứ nào chân thật. Lão hòa thượng nói lúc còn trẻ Ngài đã có một chú t trí huệ, trí … Đọc tiếp Cách Tập Buông Xả Của Hòa Thượng Tịnh Không 18 05 2014 | Suy Gẫm & Thực Hành | 7 Phúc Đáp Cách Tập Buông Xả Của Hòa Thượng Tịnh KhôngKinh Kim Cang dạy “hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt bóng”, hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian chẳng có thứ nào chân thật. Lão hòa thượng nói lúc còn trẻ Ngài đã có một chút trí huệ, trí huệ từ đâu đến? Lúc lão hòa thượng còn chưa học Phật, mỗi ngày coi báo, trước hết là coi các mục cáo phó, coi hôm nay có người nào qua đời, trong số đó có người già, có người rất trẻ, thật đúng là “trên đường đến suối vàng, già cũng có mà trẻ cũng không ít”. Coi họ đã qua đời, lúc đến thế gian này họ đem theo cái gì, lúc ra đi họ mang theo được gì? Lúc tới trắng tay, lúc đi cũng tay trắng, một chút gì cũng không mang theo được, thế gian này có gì đáng tranh giành, có gì đáng mong cầu? Mỗi ngày coi báo, coi những mục cáo phó này sẽ mở mang trí huệ, công phu niệm Phật sẽ đắc lực. Nếu chúng ta không buông xuống được, hãy coi những mục cáo phó này suốt nửa năm, xem thử chúng ta có buông xuống được hay không! Hết thảy đều buông xuống, tâm sẽ thanh tịnh, trong tâm trống rỗng, chẳng có gì hết. Biết được tiền tài, sắc đẹp, tiếng tăm, ăn uống, ngủ nghỉ, ngũ dục lục trần trong thế gian này đều là giả, đều là một giấc mộng! Ngay bây giờ chúng ta đang nằm mộng, biết rằng chúng ta đang nằm mộng. Nếu không biết chúng ta đang nằm mộng, coi mộng là thật, thì ngày tháng đó sẽ rất đau khổ. Biết mình đang nằm mộng sẽ giống như Phật, Bồ Tát du hý thần thông, có gì chẳng tự tại? Thật sự có thể tùy duyên, thật sự có thể hằng thuận chúng sanh, thành tựu đạo nghiệp của chính mình. Đạo nghiệp là gì? Tâm thanh tịnh là đạo nghiệp, vạn duyên buông xuống là đạo nghiệp. Trích từ sách Nhìn Thấu Là Trí Tuệ Chân Thật Trích lục từ giảng ký của Lão Hòa Thượng Thượng Tịnh Hạ Không Minh Trí và Mẫn Đạt chuyển ngữ Như Hòa nhuận văn Facebook Twitter Gmail Các Bài Pháp Liên Quan: ❏ Trong Phật Pháp Chỉ Có Buông Xuống Mới Có Thể Tiến Lên Cao ❏ Bí Quyết Để Niệm Phật Công Phu Thành Khối (Phiến) ❏ Trăm Duyên Chẳng Quản Buông Xả Niệm Phật 2 Năm Sau Vãng Sanh ❏ Do Đâu Chúng Ta Khổ Và Cách Thoát Khổ Các Bài Pháp Cùng Chủ Đề: Người Chân Thật Tu Hành Không Nên Xem Truyền Hình Người Chân Thật Tu Hành Không Nên Xem Truyền Hình Pháp Ngữ Tịnh Độ của Đại Sư U Khê Pháp Ngữ Tịnh Độ của Đại Sư U Khê Mười Lý Do Nên Tu Pháp Môn Tịnh Độ Để Vãng Sanh về Tây Phương Cực Lạc Chính Cái Ta Và Của Ta Làm Hại Chúng Ta Sanh Tử Luân Hồi Đời Đời Kiếp Kiếp Chính Cái “Ta” Và “Của Ta” Làm Hại Chúng Ta Sanh Tử Luân Hồi Đời Đời Kiếp Kiếp 7 Phúc Đáp Phúc Bình Phúc Bình ngày 28/05/2014 lúc 2:46 sáng Sống ở đời muốn buông xả hết xuống thật quá ư là khó khăn. Ví như ở cơ quan Phúc Bình chuyện ăn nhậu, uống rượu, bài bạc gần như là văn hóa công ty, đặc biệt là trong các chuyến công tác, ai không theo được bị kỳ thị ghê gớm. Ở nhà hạnh phúc gia đình lại cũng là ở bữa ăn, vợ chỉ mong muốn xào nấu món này món kia để cả nhà cùng đánh chén thì mới thấy sung sướng, vợ con, cha mẹ vui vẻ hỉ hả. Mình không ăn mặn, ăn chay trường lập tức gia đình như lò bát quái … không biết diễn tả sao cho hết. Biết rằng nếu không dũng mãnh xả bỏ tất cả những điều đó, giữ trọn 5 giới thì dẫu hành trì niệm Phật cũng khó mà có công đức đầy đủ vãng sanh, may chăng chỉ là phước đức hữu lậu trong vòng luân hồi lục đạo. Uổng phí một đời. Nam Mô A Di Đà Phật Hồi Âm tâm bình tâm bình ngày 26/01/2015 lúc 8:39 chiều nếu đang sống bình yên liền dừng cái rụp thì chắc sẽ bị sốc như bạn nói dó. cũng như khi lái xe bon bon đột nhiên thắng gấp cái rụp tức nhiên sẽ bị quay xe hay còn nhiều xe khác thắng không kịp trở tay tông vào bạn thôi. cái gì cũng từ từ 10 rồi đến 9 đến 8 đến 7…. vài cuối cùng xuống tóc thôi vì sao vì lúc đó cuộc sống thanh đạm của bạn trở thành thói quen với mọi người rồi. ôi ông ấy là vậy đó lúc trước ăn 5 chén nay còn 1 chén. lúc trước nhậu dữ lắm nay thỉnh thoảng 1 chai , ổng hay kêu uống nhiều mệt mõi vì già rồi . thôi uống ít sống lâu cho vợ con đở nhờ tôi không còn mệt hầu hạ. dạo này ăn thịt hoài cũng chán khó tiêu thôi thay vào rau 10 thịt 1 thôi ăn vậy mà ngoan hen em. thế cũng xong , tất do mình biến chuyễn thôi. nếu bạn đang đi làm về nhà em ơi anh muốn đi tu đời là bễ khổ tình là dây oan đó em, ở nhà lo cho con đi nha anh đi tu đó. nghe như vậy là không bị sốc mới lạ. cũng như ngày mai anh ăn chay nha anh không thích ăn mặn đâu thế là đau khổ cho người khác rồi. Tô Hùng Cường Tô Hùng Cường ngày 28/05/2014 lúc 9:01 sáng Thiện Minh có người bạn thân tên Nguyễn Hoàng Hà, công tác ở cảng vụ Hải Phòng. Mới đây gặp mình buồn bã, than thở: “Chỉ vì không biết a dua, nhậu nhẹt, karaoke ôm…nên mất chức phó phòng”. Người thay thế tên Hải, lanh lẹ, luồn cúi, bia rượu, gái gú, cá độ thành thần thì được cả phòng bầu lên thế chỗ. Tôi an ủi rồi hỏi ảnh: “Nếu lựa chọn chức vụ phó phòng nhưng phải hoà chung vào guồng xoáy của mọi người thì anh đồng ý không”? Ảnh tần ngần một lát rồi trả lời dứt khoát: -Không. Tôi cũng thấy mừng thầm cho anh. Tuy vô thần (Vì anh là công chức nhà nước) nhưng vẫn còn giữ được tâm thanh sạch. (Tuy vẫn có chút nuối tiếc nhưng dù sao cũng có ý thức buông xả). Cũng là một tấm gương hiếm thấy trong xã hội kim tiền hiện nay vậy. A-Di-Đà-Phật Hồi Âm Mây trắng lang thang Mây trắng lang thang ngày 28/05/2014 lúc 10:04 chiều Nam mô A Di Đà Phật Mình có điều này không hiểu nên mu