Vấn Đáp Vạn Thiện Đồng Quy 4

 

281.Vấn Dáp Vạn Thiên Đồng Quy 4

Liên Tông Lục Tổ Vĩnh Minh Thiền Sư Giải Đáp

17-Hỏi:Tâm chính là Phật, cần gì tìm cầu bên ngoài. Nếu nhận trần cảnh kia thì pháp nơi mình liền ẩn mất?

Đáp:

Pháp môn của chư Phật chẳng phải một mực cứng nhắc mà đều có tự lực, tha lực, tự tướng, cộng tướng.

Thập huyền môn thâu nhiếp, Lục tướng nghĩa viên dung, trên mặt tùy duyên dường như phân chia, về mặt lý tánh thường hòa hợp. Từ tâm biểu hiện ra cảnh, cảnh tức là tâm, thu nhiếp sở trở về năng thì kia tức là đâng Bậc cao đức ngày xưa nói:

Nếu chấp tâm cảnh là hai thì phá dẹp bảo rằng “không hai”, vì ngoài tâm không có trần cảnh nào khác. Nếu chấp tâm cảnh là một thì phá dẹp bảo rằng “chẳng một”, vì chẳng phải là không có nhân duyên.

Trong kinh Duy Ma nói:

“Đó là do oai thần của chư Phật kien lập. Đại sư Trí Giả bảo rằng:

“Người một mặt quán về vô sanh chỉ tin sự lợi ích của tâm, không tin sự lợi ích từ Đức Phật bên ngoài gia bị”.

Trong kinh nói: “Chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, mà ở trong mà ở ngoài”.

Ở trong cho nên sự giải thoát của chư Phật phải tìm trong tâm tánh và hành động của chúng sanh; ở ngoài cho nên chư Phật hộ niệm. Tại sao không tin sự lợi ích ở bên ngoài?

Nói về lý nhân duyên, môn tiến tu đều do các duyên mà thành tựu, không có một pháp nào đứng riêng.

Nếu tự lực đầy đủ thì không cần nhờ duyên; nếu sức mình chưa kham thì cần phải dựa vào thế lực của người khác. Ví như người ở thế gian khi mắc nạn nơi chốn quan trường, nếu bản thân không có khả năng vượt thoát, phải nhờ người có thế lực cứu vãn. Lại như kéo đầy vật nặng, nếu sức mình không đủ phải nhờ vào sức của các con vật mới có thể di chuyển. Chỉ nên lường xét về thật đức bên trong, hoàn toàn chẳng do chính mình mà trở ngại người khác.

Hơn nữa, nếu chấp trước bảo rằng lực bên trong tức là tự tánh; nếu nói lực bên ngoài tức là tha tánh; nếu bảo rằng cơ cảm giao tiếp tức là cộng tánh; nếu nói chẳng phải nhân, chẳng phải duyên tức là vô nhân tánh. Như thế đều là vướng kẹt chấp trước, chưa vào chỗ viên dung vô ngại. Nếu thấu suốt tâm chân thật thì không trụ chấp vào nơi nào cả.

18-Hỏi:

Kinh nói quán xét về Thật tướng của thân thế nào thì quán xét về Phật cũng như vậy. Một niệm không sanh, tâm chân thật sáng tỏ.

Sao lại xưng danh hiệu Đức Phật khác, đọc tụng các kinh điển, cao thấp xoay vòng trước sau sanh diệt. Như thế đã trở ngại thiền định, chỉ đuổi theo âm thanh, như lúc nước lay động thì chẳng thấy rõ minh châu, vậy làm sao âm thầm khế hợp được?

Đáp:

Âm thanh là nơi cư trú của mọi nghĩa lý, ngôn ngữ đều là cánh cửa dẫn vào giải thoát. Tất cả đều thú hướng về âm thanh. Âm thanh là pháp giới.

Trong kinh nói: “Trong mỗi một pháp đều chức đựng tất cả pháp”. Thế nên biết, trong một lời nói bao hàm không gì ở ngoài, mười pháp giới đầy đủ, lý Tam đế tròn đầy. Sao lại chê đây mà trọng kia, rời hình tướng cầu chân thật? Không cứu xét tận cùng cội nguồn của động tịnh nên mới dẫn đến sự sai lầm về nói năng và im lặng.

Kinh nói, khi một niệm mới sanh khởi, không có tướng trạng ban đầu, đó là sự hộ niệm chân thật. Không cần phải dứt niệm trừ dẹp âm thanh rồi mới phù hợp với Thật tướng. Do đó ở môn trang nghiêm vạn hạnh không thiếu sót; trong biển Chân như, một mảy may cũng không bỏ.

Hơn nữa, sự phân định thời khóa niệm Phật, trong giáo lý có nói rõ ràng. Xướng một tiếng tội lỗi được tiêu diệt nhiều như cát bụi, đủ mười niệm vãng sanh Tịnh độ, cứu tế nguy nan, tiêu trừ nghiệp chướng oan khiên. Không chỉ tạm thời thoát khỏi khổ đau mà còn nương nhờ vào nhân duyên này rốt cuộc được vào biển giác.

Thế nên trong kinh Pháp Hoa nói:

“Nếu người tâm tán loạn

Đi vào trong chùa tháp
Vừa xưng Nam mô Phật
Đều đã thành Phật đạo”.

Kinh còn nói, người thọ trì danh hiệu Phật được tất cả chư Phật đồng hộ niệm. Kinh Bảo Tích nói: “Lớn tiếng niệm Phật thì quân ma thối lui tan rã

Kinh Văn Thù Bát Nhã nói:

Chúng sanh ngu muội không thể hiểu rõ phép quán, chỉ bảo họ niệm Phật tiếp nối thì tự nhiên được vãng sanh cõi Phật”.

Luận Đại Trí Độ nói:

“Ví như có người vừa được sanh ra có thể đi ngàn dặm trong một ngày, như thế trải qua một ngàn năm, những chỗ người ấy đi qua đều dẫy đầy bảy loại báu.

Người ấy đem tất cả bảy loại báu cúng dường lên Đức Phật, nhưng chẳng bằng có người ở đời trược ác về sau niệm một tiếng Phật. Phước báo của người này còn hơn phước của người  kia”.

Kinh Tăng Nhất A Hàm nói:

Người dùng y phục, thức ăn uống, thuốc men, mền gối, cúng dường cho tất cả chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề được công đức vô lượng.

Nếu có chúng sanh tâm lành tiếp nối xưng danh hiệu Phật trong khoảng thời gian một lần vắt sữa bò, công đức người này được hơn người ở trên chẳng thể nghĩ bàn, không lường xét được”.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

An trụ môn Niệm Phật tự tại tâm, biết dục lạc có theo tâm mình, tất cả các Đức Phật đều hiện bày.

Luận Bảo Vương Tam Muội phần lớn tiếng niệm Phật, Hòa thượng Phi Tích nói:

“Người tắm nơi biển cả thì đã dùng nước của trăm sông; người niệm danh hiệu Phật, tất thành tựu tam muội. Cũng như Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục không thể không trong; Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn trở thành tâm Phật. Sau khi đã khế hợp thì tâm và Phật cả hai đều quên; đều quên là định, đều soi chiếu là tuệ. Định và tuệ đã quân bình, tâm nào mà chẳng phải là Phật, Phật nào chẳng phải là tâm. Tâm và Phật đã thế thì muôn cảnh, muôn duyên đều là tam muội, ai lại đi lo lắng việc khởi tâm động niệm lớn tiếng niệm Phật!”.

Do vậy, kinh Nghiệp Báo Sai Biệt nói

Lớn tiếng niệm Phật tụng kinh có mười loại công đức:

  1. Hay diệt trừ ngủ nghỉ.
  2. Thiên ma kinh sợ.
  3. Âm thanh vang khắp mười phương.
  4. Ba đường ác dừng đau khổ.
  5. Tiếng bên ngoài không xâm nhập.
  6. Khiến tâm không tán loạn.
  7. Dũng mãnh tinh tấn.
  8. Chư Phật hoan hỷ.
  9. Tam muội hiện tiền.
  10. Sanh về Tịnh độ

    19 Trong Tịnh Độ Quần Nghi Luận Hỏi:

“Danh tự tánh không, chẳng thể giải nói về các pháp. Dạy người chuyên xưng danh hiệu Phật, khác nào nói về thức ăn để mong được hết đói?”.

Đáp:

Nếu nói danh tự vô dụng không thể giải thích về bản chất của các pháp thì lẽ ra khi gọi lửa mà nước lại đến. Nên biết phải nhờ cái lờ và bẫy nhân đó mới có được cá và thỏ.

Do đó Phạm Vương khải thỉnh xoay chuyển bánh xe chánh pháp, Đức Phật ứng cơ giải thích về ý chỉ diệu huyền. Người trời phàm thánh đều tiếp nhận lời dạy chân chánh, bốn loài chúng sanh trong sáu đường đồng tuân theo di huấn, lắng nghe đọc tụng lợi ích rộng sâu, xưng niệm Phật danh vãng sanh Tịnh độ. Như thế chớ nên cho rằng ngôn ngữ danh tự giả dối mà chẳng diễn nói.

20-Trong Luận hỏi:Vì sao sức mạnh của câu niệm Phật lại có thể doạn trừ tất cả nghiệp chướng?

Đáp: Ví như một mảnh hương chiên đàn làm biến đổi mùi hương của cả khu rừng Y Lan bốn mươi do tuần. Lại ví như có người dùng gân sư tử để làm dây đàn, tiếng đàn vừa được tấu lên tất cả dây đàn khác thảy đều đứt đoạn. Nếu người ở trong tâm Bồ đề thực hành Niệm Phật Tam Muội thì tất cả phiền não, tất cả  nghiệp chướng thảy đều đoạn diệt”.

Kinh Đại Tập nói:

Hoặc một ngày một đêm, hoặc bảy ngày bảy đêm chẳng làm việc gì khác chỉ chí tâm niệm Phật, nếu niệm nhỏ thì thấy Phật nhỏ, niệm lớn thì thấy Phật lớn”.

Kinh Bát Nhã còn nói:

“Ngài Văn Thù hỏi Đức Phật: Làm sao nhanh chóng đạt được đạo Giác Ngo

Đức Phật đáp: Có môn Nhất Hạnh Tam Muội giúp nhanh chóng đạt được đạo Giác ngộ chân chánh. Người muốn vào Nhất Hạnh Tam Muội cần phải ở nơi yên vắng,bỏ mọi loạn ý, chẳng chấp tướng mạo, buộc niệm nơi một Đức Phật chuyên xưng danh hiệu, theo phương hướng của Đức Phật ấy mà ngồi ngay thẳng hướng về.

Có thể ở nơi một Đức Phật niệm niệm tương tục, tức là ở trong tâm niệm được thấy chư Phật quá khứ vị lai, hiện tại ngày đêm thường thuyết pháp, trí tuệ biện tài hoàn toàn chẳng đoạn dứt”

Thế nên biết, Phật lực khó nghĩ lường, diệu huyền không thể xét nét, như nam châm hút sắt, như nước chảy về sông.

Do căn lực từ thiện nên thấy những việc như thế. Người chí tâm quy hướng thì linh cảm rõ ràng

Trích Sách Vạn Thiện Đồng Quy- LTLT Vinh Minh Thiền sư

Thích Minh Tuệ

 

 

Viết một bình luận