300. Vấn Đáp 6 Vạn Thiện Đờng Quy
27.Hỏi:Thân là cội gốc của đạo, trói buộc là nhân của giải thoát. Sao lại đốt tay, thiêu thân thể, tu hành trái với đạo?
Trong Cao Tăng Truyện và giới luật Tiểu thừa chê trách rõ ràng, làm thế đâu phù hợp với lời Phật dạy?
Đáp:
Xả bỏ thân mạng, vì pháp mà đền đáp ân sâu, rất phù hợp với kinh điển Đại thừa và Chánh pháp.
Kinh Phạm Võng nói:
“Nếu là Phật tử nên thực hành tâm tốt, trước học tập kinh luật nói về uy nghi của Đại thừa, khai mở tâm tánh hiểu rộng nghĩa lý.
Nếu thấy có người mới tu tập hạnh Bồ Tát, từ trăm ngàn dặm đến cầu học kinh luật Đại thừa nên đúng như pháp mà nói về tất cả khổ hạnh, hoặc đốt thân, đốt cánh tay, đốt ngón tay.Nếu không đốt thân, cánh tay, ngón tay cúng dường chư Phật thì chẳng phải Bồ Tát xuất gia. Thậm chí đối với cọp, sói, sư tử đói khát và tất cả ngạ quỷ còn nên xả bỏ thân thể, tay chân cho chúng ăn. Sau đó, lần lượt vì tất cả mà nói chánh pháp, khiến cho chúng đều được khai mở tâm ý hiểu rõ Phật Pháp. Nếu không làm như thế thì phạm tội khinh cấu”,
Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói:
“Đức Phật bảo ông A Nan:
Sau khi ta diệt độ, nếu có Tỳ kheo phát tâm quyết định tu tập chánh định, có thể ở trước hình tượng của Như lai dùng thân làm đèn, đốt một ngón tay, một lóng tay, cho đến đốt một liều hương trên người, ta nói người ấy nếu có nợ nần xa xưa nhất thời hoàn trả xong xuôi, xa lìa thế gian, thoát hẳn mọi phiền não. Tuy chưa rõ ngay con đường Giác ngộ vô thượng nhưng người ấy đã có quyết tâm quyết định với chánh pháp.
Nếu không gây nhân nhỏ xả bỏ thân thì dù thành tựu vô vi cũng vẫn phải sanh trở lại làm người để đền trả nợ cũ, giống như ta bị nạn phải dùng lúa ngựa”.
Cho nên Tiểu thừa chấp tướng chế định mà không khai mở. Đại thừa viên thông không có pháp cố định.
Kinh Bồ Tát Thiện Giới nói:
“Giới của Thanh Văn cấp thiết, còn giới của Bồ Tát thì thư thả; giới của Thanh Văn bít lấp, giới của Bồ Tát thì khai mở”.
Kinh còn nói: “Sự trì giới của Thanh Văn là điều phá giới của Bồ Tát”.
Đó là nói về việc này.
Nếu y theo kinh liễu nghĩa, chư Phật đều hoan hỷ, còn chấp vào lời nói tùy nghi thì các bậc Thánh đều buồn bã. Chỉ nên tán thán Đại thừa, khen ngợi Viên giáo, mình và người đều được lợi ích, đâu nên chấp vào sự quyền biến, ngưng trệ nơi nhỏ nhặt mà cội gốc và cành ngọn đều mê mờ không rõ.
28.Hỏi:
Thiêu đốt thân thể, gieo mình xuống vực, lao thân vào lửa đỏ. Những việc làm ấy giống như chín mươi sáu loại ngoại đạo, các bậc Thánh đều quở trách. Nay may mắn có được chánh pháp, tại sao lại đi theo con đường tà vạy?
Đáp:
Luận Đại Trí Độ nói:
“Phật Pháp có hai thứ đạo:
* Một là đạo rốt ráo không.
* Hai là đạo Phân biệt tốt xấu.
Nếu nói về đạo rốt ráo không thì phàm phu Như tức là lậu tận giải thoát Như. Lời nói của Như Lai là lời nói của Đề Bà Đạt Đa, không hai không khác, một đạo một nguồn”.
Thế nên, ở nơi địa ngục phát khởi tâm Diệu Giác, nơi quả vị Phật hiện bày cõi Nê Lê.
Nếu bỏ tà về chánh, thì tà và chánh đều sai quấy; bỏ ác chấp thiện thì thiện ác đều trở thành lầm lỗi.
Nói về đạo phân biệt tốt xấu thì ngu si và trí tuệ khác nhau, chân và tục rõ ràng, ngọc và đá nên phân biệt, vàng và thau cần phải phân biệt rõ.
Hơn nữa, căn cứ vào trong môn tu hành, địa vị lên xuống, tự có tông đồ trong ngoài, nhân quả tà chánh, phải khéo phân biệt kỹ, không thể tùy tiện cho là như nhau. Vả lại, trong giáo lý có những lời hủy báng và tán thán, xác thực có khen ngợi và chê bai. Nếu chấp thì trở thành ngưng trệ, hiểu rõ thì đều thông suốt.
Nếu từ Tứ tất đàn <!–[if !supportFootnotes]–>[15]<!–[endif]–> đối trị, buông xả hoặc đoạt lấy nên xét nét rõ. Nếu nói đều là phải, Ni Kiền Tử thành tựu đạo chân chánh, chư Phật đã quở trách sai lầm; nếu nói đều sai, Bồ Tát Dược Vương rơi vào lỗi lầm điên đảo, chư Phật đã khen ngợi không đúng.
Thế nên, hưng khởi tà vạy thì trở thành hạnh vô ích; phế bỏ chân chánh thì đoạn dứt môn phương tiện. Cần phải hiểu rõ sự khai mở và ngăn chặn, há không có sự lấy bỏ.
Vả lại, người trong giáo pháp và người ngoài lúc bỏ thân mạng mình đều có hai ý.
Hai ý của người trong giáo pháp là:
- Hiểu rõ mình và người khác đều là tánh không, không chấp ngã và chấp pháp, chẳng thấy có cảnh cúng dường, cũng không có tâm cho rằng ta thiêu đốt thân.
- Chỉ vì cúng dườngTam Bảo, báo ân để hỗ trợ đạo Giác ngộ Vô thượng chẳng mong quả báo trời người.
Hai ý của người ngoài giáo pháp:
- Chấp thân chưa hết, tăng thêm ngã mạn, mê mờ trí tuệ vô tác, sanh khởi tâm hữu đắc.
- Chỉ tham danh tiếng hiện tại, mong phước báo và lợi ích ở đời sau. Hoặc nguyện làm vua, hoặc cầu sanh về cõi trời Quảng Quả.
Cho nên, giáo lý của Tông Thiên Thai giải thích phẩm Dược Vương đốt thân rằng:
“Cảnh trí không hai, năng sở đều không, dùng sự quán sát không hai mà quán sát về cảnh bất nhị, thành tựu hạnh bất nhị, thể hội Tánh-không bất nhị. Khi thực hành phép quán này, mọi người thấy nghe trong khắp pháp giới đều được lợi ích, nên gọi là Thừa thừa”.
Do vậy, gieo mình xuống vực không bị cho là hạnh ngoại đạo, lao vào lửa đỏ mà chẳng bị người trong giáo pháp chê bai.
Bởi vì, bên trong có lý quán, bên ngoài tỏ rõ tâm mong muốn. Cho nên Bà La Môn Thắng Nhiệt dứt trừ sự nghi ngờ của Đồng Tử Thiện Tài, Ni Kiền Tử làm cho vua Nghiêm Xí phát tâm tin hiểu Phật Pháp.
Bàn luận tận tường về đạo, khi thực hành mới thấy sự thành công. Tâm chánh thì hạnh chánh, trí tà thì việc tà. Hạnh không thể bỏ, trí không thể quên thì những người hậu học không mất sự lợi ích của giáo pháp.
Kinh Văn Thù nói:
“Bồ Tát xả bỏ thân không phải là vô ký, chỉ được phước đức. Thân phiền não này diệt nên được thân thanh tịnh, ví như áo dơ dùng nước tro để giặt giũ, dơ hết nhưng áo vẫn còn”.
Nếu được ý chỉ viên mãn thì quyết đoán rõ ràng. Xin xem những lời văn này, lấy đó làm gương soi xét.
29.Hỏi:
Bố thí trụ chấp tướng kết quả chỉ là vô thường, tăng thêm tâm hữu vi trái với đạo vô vi, đâu bằng y cứ vào lý thể mà quán xét thì phước đức ấy rộng lớn như hư không.
Cho nên trong kinh nói:
“Đức Phật bảo: Chỉ có đạt đến vô ngã mới có thể thuận với lý”.
Tại sao lại chấp chặt vào sự tướng, vin theo ngoại vật, không quán sát tâm để đạt đạo?
Đáp:
Nếu từ phương diện quán xét tâm mà nói thì chạm mắt đều là đạo. Đã bảo đạt đạo thì dơ tay cất bước đều hợp đạo.
Bồ Tát thực hành vạn hạnh đầy đủ Tứ nhiếp pháp không nên chấp chặt vào Không mà dẹp trừ Có, cố giữ đối với “một” mà kỵ ở nơi nhiều
Kinh Hoa Ngiêm n
Thọ trì một pháp mà phủ định các pháp khác, đó là hành vi của ma”.
Thế nên, dù cho bỏ Biên kiến thú hướng Trung đạo cũng vẫn rơi vào tà kiến. Do đó không nên y cứ vào chủ trương mà mình tôn sùng, tự cho là diệu huyền mầu nhiệm. Đó đều là do ý thức và tư tưởng thi vi, ngũ ấm và thập bát giới tạo tác. Cần phải tùy cơ phá dẹp hay chiếu soi, trí Bát Nhã mở ra thâu vào tự tại
Nếu nhất định kiến lập một Tông, đó chính là dòng dõi ma vương; hoặc diệt trừ tất cả thì trở thành sự ngu muội sai lầm của riêng mình.
Thế nên trong kinh Đại Tập nói:
“Có hai hạnh tu hành:
–Nương táng không mà tiến thẳng vào, đó gọi là tuệ hạnh.
– Không phế bỏ sự tướng mà tu hành, đó gọi là hành hạnh.
Luận Bồ Đề nói, có hai con đường: Một là con đường phương tiện, tức biết rõ các pháp lành. Hai là con đường trí tuệ, là thấy rõ các pháp không thật.
Trong kinh còn nói, có hai loại Chân như:
Một là Chân như trong nhân, nó như như vô nhiễm. Hai là Chân như trong quả, nó như như vô cấu, nó như hoa vô cấu.
Lại có hai loại tâm: Một là tâm thanh tịnh tự tánh, tâm này xưa nay vốn có. Hai là tâm thanh tịnh lìa cấu nhiễm, tâm này là từ ý nghĩa rốt ráo mà có.
Luận Đại Thừa Khởi Tín lập hai loại tướng trạng: Một là tướng đồng, từ ý nghĩa thể tánh bình đẳng mà nói.
Hai là tướng dị, từ ý nghĩa sai biệt trên sự huyễn hóa mà nói.
Tông Thiên Thai nói có hai loại thiện: Thấu suốt năng sở đều rỗng không gọi là “chỉ thiện”. Dùng phương tiện khuyên bảo mọi người tu hành gọi là “hành thiện”.
30.Hỏi:
Yếu chỉ giáo pháp của Phật Tổ duy thiết lập Nhất thừa, do đó trong kinh nói: “Chư Phật trong mười phương chỉ do một con đường mà đi đến Niết Bàn”. Trong kinh còn nói, tất cả người thông đạt vô ngại đều từ một con đường mà ra khỏi sanh tử.
Tại sao lại trình bày nhiều sự tướng sai biệt, kiến lập hai loại pháp môn, làm lầm loạn Chánh tông, sanh khởi tà kiến?
Đáp:
Pháp của chư Phật, nói về tông thể chỉ có một. Nhưng từ trên tác dụng phân thành hai, mà thể tánh thường đồng nhau. Như Luận Khởi Tín ở nơi Nhất tâm mà kiến lập Chân như môn và Sanh diệt môn, đây là đạo Nhị đế Nhất thừa, xưa nay thường như vậy không thêm bớt. Thế nên Tổng tướng và Biệt tướng hiển bày lẫn nhau, gốc và ngọn hỗ trợ nhau. Không có Tổng tướng thì không thể sinh ra Biệt tướng. Không có Biệt tướng thì không thể trở thành Tổng tướng. Không có cội gốc thì không thể phát sinh cành ngọn, không có cành ngọn thì không thể hiển bày cội gốc.
Do đó đủ biết, chim chỉ có một cánh ắt khó bay lên trời cao, xe chỉ có một bánh thì không sao vận hành được, chỉ có chân thì không thể kiến lập, một mình vọng ắt không thể thành tựu. Đứng về mặt Thể, tuy có sai biệt nhưng không sai biệt; đứng về mặt Dụng, tuy không sai biệt mà có sai biệt. Một và hai vô ngại mới được vào môn Bất nhị; Không và Có chẳng trái nhau mới đạt đến cảnh giới Chân không.
31.Hỏi:
Trên phương diện Sự, có sai biệt về thời gian và vị trí; đứng về Lý thể mà nói thì duy nhất không hai, lặng yên chẳng động.
Lý thể và sự tướng đã bất đồng như thế, tại sao bảo rằng vô ngại?
Đáp:
Sự tướng do Lý thể mà thành tựu. Lý thể từ Sự tướng mà hiển bày. Như muôn ngàn lượn sóng chẳng ngại nhau vì cùng một tánh ướt, giống như các loại trang sức không cách trở nhau vì cùng một chất vàng. Bản thể và tác dụng thâu nhiếp lẫn nhau, mở ra và thâu lại bình đẳng nhất trí.
Nếu như từ ý nghĩa viên dung mà nói thì không chỉ Lý và Sự tương tức, mà ngay cả muốn Lý và Lý tương tức cũng được, Sự và Sự tương tức cũng được, Sự và Lý không tương tức cũng được, cho nên gọi là pháp môn Tùy Duyên Tự Tại Vô Ngại.
Ngoài ra, trong pháp môn giáo hóa của chư Phật, còn có một pháp Bố thí đứng đầu Thập độ, là pháp trước tiên trong muôn hạnh, là nhân ban đầu để vào đạo, và nhân tố then chốt để thâu nhiếp chúng sanh.
Luận Đại Trí Độ nói:
“Pháp Bố thí là kho báu thường đi theo người: Bố thí là hóa giải đau khổ, ban cho mọi người niềm vui.
Bố thí là chỉ cho người con đường dẫn đến cõi trời. Bố thí là tòa nhà tốt đẹp thâu nhận các người lành. Bố thí là sự an ổn, khi sắp mạng chung tâm không sợ hãi. Bố thí là tướng của từ bi hay cứu giúp tất cả. Bố thí là sự tập hợp những điều vui, có thể phá trừ giặc đau khổ. Bố thí là viên đại tướng hay hàng phục quân địch xan tham. Bố thí là đạo thanh tịnh, các bậc Hiền Thánh đều từ đó mà thành tựu. Bố thí là môn tích lũy phước đức lành. Bố thí hay đạt được quả phước lạc toàn vẹn.
Bố thí là duyên ban đầu của Niết Bàn, là pháp chủ yếu để dự vào hàng thiện nhân, là nơi phát nguồn những sự tán thán khen ngợi, là công đức khi ở trong chúng không gặp khó khăn, là cội gốc khiến cho tâm không hối hận, là căn bản của đạo hạnh pháp lành, là khu rừng đủ mọi điều vui vẻ, là ruộng phước giàu sang an ổn, là con đò đưa đến bờ Niết Bàn”,
Trong Lục Hạnh Tập nói:
“Khi phàm phu bố thí, nếu khởi tâm ngạo mạn thì gây ra tội lỗi, khởi tâm cung kính trở thành phước đức.
Khi hàng Nhị thừa bố thí, chỉ quán xét pháp trần dời đổi vô thường.
Khi Bồ Tát nhỏ bố thí, nghĩ rằng bản thể của vật thí là rỗng không.
Khi Bồ Tát lớn bố thí thì biết tâm vọng thấy.
Khi Phật bố thí thì chứng Duy tâm, lìa niệm thường thanh tịnh.
Nên biết một môn bố thí mà sáu hạnh trở thành khác biệt, đâu thể đồng loạt nêu ra một cách tùy tiện.
Cũng có sự bố thí bên trong và sự bố thí bên ngoài, bố thí về mặt Lý, bố thí về mặt Sự, Thể và Dụng hỗ trợ nhau, gốc và ngọn hiển bày lẫn nhau. Theo Lý thì chìm trong đoạn diệt, chấp Sự ắt rơi vào thường kiến. Lý-Sự dung thông mới vượt qua hai điều lầm lỗi ấy. Vả lại, ý chỉ của chư Phật so sánh trong việc bố thí thì bố thí về mặt Lý là trước tiên, thế nên chú trọng bố thí bên trong”.
Kinh Pháp Hoa nói:
“Đức Phật bảo rằng:
Nếu có người phát tâm muốn đạt được đạo Giác ngộ Chân chánh Vô thượng, có thể đốt một ngón tay một ngón chân cúng dường tháp Phật, còn hơn đem quốc gia thành trì vợ con và núi rừng, sông ao, các vật quí giá trong khắp ba ngàn Đại thiên thế giới để cúng dường”.
Luận Đại Trí Độ nói:
“Nếu có người xả bỏ thân mạng để cúng dường thì phước báo còn nhiều hơn người đem vật báu đầy cả cõi Diêm Phù Đề mà bố thí cúng dường”.
Thế nên biết, lời nhẹ nhàng lợi khẩu dễ trình bày, toàn thân quí báu khó mà buông bỏ, tâm bảo tồn tánh mạng sâu sắc, ý ưa thích sự sống thiết tha, dù cho rõ được mình, người và vật bố thí thể tánh đều rỗng lặng nhưng vẫn thuộc về Thông giáo. Huống chi tâm còn lấy bỏ thì sao được thành tựu pháp Bố thí thanh tịnh?
Vả lại, môn Bố thí trong Viên giáo cùng khắp pháp giới thì có Sự gì không đầy đủ; có Lý nào chẳng viên dung. Bồ Tát chiếu soi Lý chẳng bỏ Sự, xét rõ Sự chẳng tổn hại Lý. Hoằng đạo là do người, sao lại vướng mắc nơi pháp?
Nếu tách rời Lý mà có Sự, Sự đó trở thành sự ngu mê của hàng Định tánh; nếu tách rời Sự mà có Lý, Lý ấy trở thành kiến chấp đoạn diệt. Nếu vướng mắc nơi Sự mà mê muội Lý thì bị quả báo ở trong vòng luân hồi; nếu thể hội Lý mà thành đạt Sự thì thành tựu quả báo cứu cánh.
Kinh Pháp Hoa nói:
“Lại thấy có Bồ Tát, đầu mắt và thân thể, đều ưa vui thí cho, để cầu trí tuệ Phật”.
Nếu việc xả bỏ thân là tà thì sao thành tựu trí tuệ Phật được? Do đó nên biết, việc thiện nhỏ nhưng dẫn đến kết quả rộng sâu; đem pháp này làm nhân để tu hành, thật chẳng mất. Như khi Phật Thích Ca bỏ thân mạng, mỗi lần đều chứng đắc pháp môn, hoặc được Nhu Thuận Nhẫn, hoặc vào Vô Sanh Pháp Nhẫn.
Nói chung, Bồ Tát làm mọi việc đều thấu rõ vô ngã không có tự tánh, hành Sự Thấy rõ Lý, gặp cảnh thấu suốt là không, chẳng đồng với kẻ phàm phu tạo tội phước, chẳng hiểu nhân quả thiện ác không có tự tánh. Đó là mê muội nơi Sự mà chấp Lý nên thường bị ràng buộc trong ba cõi.
32.Hỏi:
Trong kinh nói:
“Đem thân mạng nhiều như ba lần số cát sông Hằng để bố thí cũng không bằng thọ trì bốn câu kệ”..
Nên biết công đức của Bát Nhã sâu xa, lực của bố thí nhỏ hẹp. Tại sao lại trái với tông chỉ, vượt qua lẽ thật, tiêu hao uổng phí lực tinh thần? Như thế có thể gọi là mong ngộ lại mê, muốn vượt lên mà rơi trở xuống
Đáp:
Thấu đạt Lý vạn hạnh mới thành tựu, biết rõ tông chỉ thì ngàn đường không ngưng trệ. Không nên bỏ kia lấy đây; chấp chặt vào phải, bài xích điều trái; cần phải thực hành môn vô ngại, khéo đi vào hạnh rộng khắp. Thế nên, chư Phật quá khứ, Bổn Sư Thích Ca từ vô lượng kiếp đến nay xả bỏ vô số thân mạng; hoặc vì cầu pháp, lấy xương tủy, khoét thịt nơi thân mình; hoặc vì thực hành hạnh từ bi, dùng thịt mình bố thí cho chim ưng cọp đói.
Luận Bát Nhã nói:
“Như Lai từ vô lượng kiếp đến nay, thí xả thân mạng tài vật vì thực hành chánh pháp. Chánh pháp không có bờ mé, là nhân vô cùng tận nên được quả báo vô cùng tận, quả báo chính là ba thân Phật”.
Cho đến các vị Bồ Tát và Cao tăng Ấn Hoa từ xưa đến nay thí xả thân mạng cũng không ít. Các Ngài đều tuân theo kinh giáo của Phật Thích Ca, noi theo gương thiêu thân đốt tay của Bồ Tát Dược Vương ngày xưa truyền lại.
Trong Cao Tăng Truyện có ghi, Pháp sư Tĩnh Ái vào núi Chung Nam cắt thịt thân mình đặt trên tảng đá, rồi luồn tay vào kéo ruột ra treo trên cành cây, sau cùng bưng tim tạng mà chết.
Ngài viết bài kệ để trên vách rằng:
“Nguyện bỏ thân này rồi
Khiến thân sớm tự tại
Pháp thân tự tại rồi
Luôn ở trong các cõi
Tùy chỗ có lợi ích
Hộ thời đến chẳng tự tại
Người giết và tự chết
Chung qui cũng thế thôi
Người trí chẳng ưu thích
Nghiệp hết trong hôm nay”
Bồ Tát Tăng Nhai cũng thiêu thân và nói rằng:
– Ta vì thay thế tất cả chúng sanh mà chịu khổ.
Ngài đốt ngón tay trước, mọi người hỏi:
– Tội nghiệp của chúng sanh chín mùi thì tự mỗi người chịu khổ, chẳng liên quan với nhau, làm sao có thể thay thế được mà Ngài tự thiêu?
Ngài nói:
– Vừa phát khởi một niệm căn lành liền có thể diệt trừ tội ác, điều đó lẽ nào không thể thay thế hay sao?
Ngài còn bảo mọi người rằng:
– Sau khi ta diệt độ, những người ưa thích cúng dường người bệnh, nên biết nguồn gốc của những người ấy khó mà lường xét. Họ đa số đều là chư Phật, Thánh nhân tùy nghi ứng hiện biến hóa mà đến. Nếu chẳng phải là tâm bình đẳng rộng lớn, sao có thể cung kính mọi người? Đó là hạnh chân thật.
Thiền sư Mãn-Tông Thiên Thai, cả đời giảng và tụng kinh Pháp Hoa, đến nỗi cảm ứng thần nhân hóa hiện thân hình. Do đó ngài chuyên tâm thièn định,tụng niệm kinh chú, sau cùng dốt thâm cúng dường kinh Pháp hoa.
Lại có Thiền sư Tịnh Biện, học trò của Đại sư Trí Khải, ở trước sám đường đốt thân cúng dường Bồ Tát Phổ Hiền.
Truyền Đại Sĩ ở Song Lâm muốn đốt thân để cứu độ nỗi khổ của chúng sanh. Đệ tử của Ngài trước sau bốn mươi tám người sẵn lòng thay thế sư phụ đốt thân, thỉnh thầy thường trụ ở đời giáo hóa chúng sanh.
Những sự thật như thế, trong truyện ký đều có ghi rõ, ở đây không thể nêu ra đầy đủ. Nếu nói rằng đó là các cảnh giới của những bậc Thánh thị hiện thì các Ngài có lỗi lầm lừa dối phàm phu. Phàm phu không có phần trở thành Hiền Thánh thì giáo pháp chỉ lập bày phương tiện suông.
Vốn vì tiếp dẫn người sau, hợp theo người trước, khiến cho phàm phu thật chứng Bồ đề nên thị hiện lập bày quyền biến, cũng là giúp cho người sau noi theo. Không nên đem pháp tà vạy lừa dối người khác bảo họ thực hành.
Đức Phật là bậc đại từ bi hoàn toàn không lừa dối chúng sanh. Thế nên tám vạn pháp môn đều đưa đến giải thoát; một niệm lành nhỏ cũng dẫn đến Chân như. Trong Phật Pháp có sơ tâm hậu tâm, Sanh nhẫn Pháp nhẫn, không cần đem cao chê thấp, hoặc lấy thấp lấn cao. Nên khéo biết thời cơ, tự xét căn lực của chính mình, chớ nên phê bình việc tốt xấu của người khác, gượng lập thị phi. Ngôn ngữ là căn nguyên của tai họa, nó sẽ chuốc lấy khẩu nghiệp.
Vả lại, như hàng Bồ Tát đã đưọc Pháp Nhẫn, tuy đã chứng đắc Nhân không Pháp không, nhưng vì lợi ích mọi người nên phá trừ tâm tham lam keo kiệt mà còn phải đốt tay thiêu thân, như Bồ Tát Dược Vương, Hòa thượng Tăng Nhai.
Nếu chưa đầy đủ Pháp nhẫn, tuy biết dùng lửa trí tuệ thiêu đốt củi phiền não, thấu suốt Nhân-Pháp đều không, không còn sanh khởi chấp ngã, nhưng nếu họ bị sự chướng ngại nặng nề của phiền não hiện tại vẫn chưa được tương ưng. Cần phải phát khởi tâm mạnh mẽ, vận dụng hạnh chân thật, đền đáp ân sâu của Phật, thay thế đau khổ cho chúng sanh, làm nhiều hạnh từ bi.
Muốn thành tựu pháp môn trợ đạo, không nên sanh khởi tư tưởng mong cầu. Nếu chẳng dối trá thì sự việc chẳng luống mất. Nếu mắt trí tuệ chưa sáng tỏ, vẫn còn phát khởi chấp ngã, chỉ mong cầu nhơn quả, ý chí cầu đạo không kiên định, mà lại tính bắt chước theo việc làm của người xưa, đối với hạng người này ở đây không nói đến.
Căn cơ chúng sanh không đồng, cho nên chỗ ưa chuộng đều khác nhau. Do đó trong kinh nói: “Đức Phật bảo: Nếu chúng sanh cần sự giả dối mới độ được thì ta cũng nói dối để giáo hóa họ”.
Thế nên biết, Sự có muôn ngàn, Lý chỉ về một nguồn. Đó đều là phương tiện khéo léo của lòng từ bi rộng lớn. Có người do xả bỏ thân mạng, nhanh chóng ngộ nhập Pháp nhẫn; cũng có người do chuyên tâm tu tập thiền định tỏ ngộ Vô sanh; có người do rõ biết tự tâm vốn thanh tịnh mà chứng đắc Thật tướng; cũng có người do tu tập quán bất tịnh mà đạt đến cảnh giới xa lìa cấu nhiễm; có người do ở nơi nhà cửa được trang sức bằng bảy báu mà tiến lên quả vị Thánh; cũng có người ở dưới gốc cây, bên gò mả mà đạt được Niết Bàn.
Vì thế vô lượng vô số môn hóa độ đều dẫn đến giải thoát; vô biên giáo pháp, nếu rõ thì liền trở về Chân như.
Lời nói của Đức Phật hoàn toàn chẳng phải là sự lập bày giả dối. Ví như đi bộ đường xa, lấy điểm đến làm mục đích, chẳng quan tâm đến con đường như thế nào, cũng chẳng gượng bàn khó dễ chi cả.
Nên biết trị bệnh không thể chuyên dùng thuốc tán, như bầu trời chẳng quang đãng mãi mãi. Cần phải dùng thuốc hoàn và thuốc tán dung hòa lẫn nhau, âm dương đồng thời trợ giúp thì các thứ bệnh đều khỏi, muôn vật trong thiên hạ được sinh trưởng tốt tươi.
Ở đây nói rõ mọi giáo pháp đều là sự lập bày thích ứng tạm thời, thật không có một phương pháp cố định, chỉ tùy theo lòng ưa thích của đối tượng để thích nghi giáo hóa, chỉ lấy việc chứng đạo làm trọng tâm, chẳng so sánh việc thô tế lúc nhập môn. Nếu chấp trước vào Tứ môn* của Viên giáo <!–[if !supportFootnotes]–>[16]<!–[endif]–> còn bị Sơ môn của Tạng giáo đối trị*.
Thế nên, pháp môn Bố thí mà Bồ Tát tu hành giống như người tù nhờ lỗ nhà xí mà trốn thoát, giống như người bệnh uống nước nhơ uế mà được lành . Không có quán xét tất chẳng thể nhổ hết căn bệnh tam độc, không có tu hành thì khó vượt khỏi ngục tù trong ba cõi.
Sách xưa nói:
“Bắt được chim có thể từ một mắc lưới, nhưng không thể lấy một mắc đó cho là toàn lưới. Sửa trị nước nhà có thể qui công về một người, nhưng một người ấy không thể thành một quốc gia được”.
Thế nên, cần phải đầy đủ các hạnh, tu tập muôn việc lành. Một hạnh trở về nguồn, ngàn pháp môn tự nhiên chân chánh. Trong kinh nói rõ, mười hai nhân duyên là một pháp, nhưng từ bốn phương diện: từ, bi, hỷ, xả mà quán sát thì đạt được bốn loại Bồ đề*.
Nếu chỉ thu nhận người căn cơ bậc thượng thì kẻ trung hạ không có phần. Thế nên, hoằng dương Bán tự giáo vẫn có công lao làm thành Mãn tự giáo <!–[if !supportFootnotes]–>[17]<!–[endif]–>; đạt đến Bảo sở là dựa vào sự trợ lực của Hóa thành.
Sao có thể bỏ đây lấy kia, chấp vào chỗ chân thật mà chê bai sự quyền biến, dứt bỏ cơ duyên của chúng sanh, diệt mất phương tiện của chư Phật?
Do vậy, nói từ chỗ chân thật mà phân ra sự quyền biến, sự quyền biến này là quyền biến nơi chân thật; khai mở quyền biến hiển bày chân thật, chỗ chân thật này là chân thật nơi quyền biến. Nếu đối với hai môn quyền biến và chân thật mê mờ không rõ thì trí tuệ chẳng được tự tại.
Trong Luận Đại Trí Độ nói:
“Chúng sanh do mọi thứ nhân duyên nên được độ thoát chẳng đồng nhau. Có người do thiền định, được giải thoát. Có người do trì giới, thuyết pháp, được giải thoát. Có người nhờ ánh sáng của Phật chiếu soi đến nơi thân mà được giải thoát. Giống như thành trì có nhiều cửa, chỗ vào tuy khác nhau nhưng chỗ đến không khác”.
Nói rằng, công đức của Bát Nhã sâu xa là vì từ nơi Bát Nhã mà có ra các bậc Thánh Hiền.
Muôn loài đều có sẵn tánh mầu nhiệm này. Nêu lên thì là tông chỉ, là đứng đầu, là người dẫn đường, là chỗ nương tựa; dung thông thì chạm cảnh đều thấu suốt là không, không có gì chẳng phải là Bát Nhã.
Thế nên kinh nói:
“Sắc vô biên nên Bát Nhã vô biên”.
Triệu Luận nói: “Ba độc và bốn sự điên đảo thảy đều thanh tịnh”.
Tại sao chỉ tôn sùng Bát Nhã thanh tịnh? Nay sao lại lấy bỏ, muốn trốn hư không tránh bóng mình?
Ý chỉ sâu kín của chư Phật khó lường xét, giống như nắm tay không dùng để lường gạt trẻ thơ. Các Ngài khéo khuyến dụ hóa độ tất cả không có pháp cố định, cho nên gọi là trí tuệ rộng lớn. Chẳng biết Bát Nhã có công năng phá chấp, trong giáo lý chú trọng tán thán mà lại theo ngôn ngữ phát sinh kiến chấp.
Thế nên y theo phương hướng mà mê lầm. Bát nhã hay dẫn đường vạn hạnh, nếu không có Bát Nhã dùng vạn hạnh để làm gì?
Thích ăn tương mà lại uống muối quá mặn gây ra bệnh, chỉ ôm lấy không mà chấp đoạn, tiêu mất trí tuệ, tạo thành lỗi lầm.
Luận Đại Trí Độ nói:
“Đế Thích suy nghĩ rằng:
– Nếu Bát Nhã là pháp rốt ráo, người tu hành chỉ thực hành Bát Nhã, cần gì những pháp khác?
Đức Phật đáp:
– Bồ Tát tu Sáu pháp Ba La mật, lấy Bát Nhã Ba La mật dùng pháp vô sở đắc hòa hợp, đó tức là Bát Nhã Ba La Mật.
Nếu thực hành Bát Nhã không thực hành những pháp khác thì công đức không đầy đủ, chẳng được tốt đẹp vi diệu. Ví như người ngu chẳng biết về gia vị, nghe nói nước tương là chủ mọi gia vị, bèn chỉ uống nước tương, vì quá mặn nên gây ra bệnh. Hành giả cũng vậy, muốn trừ tâm chấp trước nên chỉ thực hành Bát Nhã, trái lại rơi vào tà kiến không thể tăng tiến pháp lành. Nếu hòa hợp với năm pháp Ba La Mật kia thì công đức đầy đủ, nghĩa vị điều hòa”.
Kinh Lăng Già Sơn Đảnh nói:
“Bồ Tát có hai con đường nhanh chóng:
– Một là con đường Phương tiện, hay làm nhân duyên.
– Hai là con đường Bát Nhã, hay dẫn đến vắng lặng”.
Thế nên, Bát Nhã không có Phương tiện thì chìm đắm trong hố vô vi, Phương tiện không có Bát Nhã tất rơi vào mạng lưới huyễn hóa. Hai bên không ngưng trệ, một đạo đầy đủ. Quyền biến và chân thật song hành, Chánh tông mới hiển lộ. Trụ ở chỗ không trụ nên Phật sự đều gồm tu; được mà không được chi cả vì thế tâm trí hằng lặng lẽ.
Trích Sách Vạn Thiện Đồng Quy-LTLT Vinh Minh Thiền sư
Thích Minh Tuệ



