
318.Van Dap 7 Van Thien Dong Quy
33.Hoi:
Trong giáo lý chỉ dạy quán xét tự thân vô ngã, thấu rõ vô sanh. Đã thông đạt tánh không sao lại còn chấp ngã, muốn vọng tưởng làm mọi việc thí xả?
Đáp:
Từ nơi Lý mà nhìn thì chẳng có, từ nơi Sự mà xét thì chẳng phải là không. Thân này do nhân duyên hòa hợp huyễn hóa sanh ra, tuy không có chủ thể tạo tác, thiện ác cũng không có thật thể nhưng nghiệp quả lại rõ ràng. Từ vô thỉ đến nay mất vô số thân, chỉ nối tiếp Câu sanh phiền não chết một cách vô ích. Nay xả bỏ thân thể cha mẹ ban cho, đâu phải là thân mình.
Nếu một niệm tu tập viên mãn giới định tuệ, tâm lành vi diệu, mới là thân thể chân thật của chính mình.
Hiện nay thí xả chính là thân thể do nhân duyên hòa hợp sanh ra. Song, sự xả bỏ thân này, từ nơi sự tướng mà nói là chết vì lợi ích chúng sanh. Huống chi, chúng sanh đang bị vô minh phiền não và ba thứ chướng ngại, hai loại sanh tử ràng buộc, chỉ luận bàn suông về Không thì ai tin nhận?
Thế nên, Phật Pháp quí ở chỗ hành trì, không phải ở nơi biện luận hay khéo. Ví nhu mối mọt ăn gỗ ngẫu nhiên trở thành văn tự, lại giống như chim hót không ngừng thật ra không có nghĩa lý chi cả.
Nếu phiền não không giảm, ngã mạn lại tăng, đó tức là chấp chặt vào cái Không tà vạy, chẳng phải khéo thông đạt chánh pháp. Cần phải tự thân thấy đạo, lời nói và hành động phù hợp nhau.
Nếu buông thả những tư tưởng và lời nói sai lầm dối trá thì làm sao quán sét được sự tu hành thâm trầm và công dụng sâu kín?
Bậc cao đức ngày xưa nói:
“Tu hành cần phải ngàn thước muôn thước, lời nói chỉ cần nửa tấc một tấc”.
Trong kinh còn nói:
“Trên ngôn ngữ tuy nói là “không”, nhưng tu hành phải thực hiện ở trong “có”.
Kinh Bảo Tích nói:
“Đức Phật bảo rằng:
Nếu không tu hành mà có thể đạt được Bồ đề thì chỉ dùng âm thanh ngôn ngữ cũng chứng đắc đạo Giác ngộ Vô thượng.
Mọi người chỉ cần nói thế này: Tôi sẽ thành Phật! Tôi sẽ thành Phật. Do lời nói ấy nên vô số chúng sanh lẽ ra phải thành tựu Chánh giác”.
Nên biết, sự tu hành so với lời nói càng quan trọng hơn, đạo chẳng ở ngoài tâm.
Trong kinh còn nói:
“Đức Phật bảo: Người học tập giáo pháp của ta, chỉ có chứng ngộ mới biết”.
Thế nên, đem hành vi cực ác mà bàn suông về Phật lý, chẳng bằng một hạnh lành nhỏ bé; nhiều giả dối chẳng bằng ít mà chân thật. Chỉ cần có thể tu hành, không nên chê bỏ tâm lành nhỏ bé. Phóng túng lời nói về Không, chỉ nêu suông tâm nguyện to lớn. Chưa khế hợp với tác dụng của Chân như, chưa thuận Pháp tánh mà tu hành, chỉ được tâm tăng thượng mạn, tự chuốc lấy lỗi lầm lừa dối vu khống.
Vì thế, kinh Nhân Vương nêu hạnh vị Ngũ nhẫn, Ngài Trí Giả đầy đủ văn Lục tức Phật, hạnh vị rõ ràng đâu thể tùy ý xáo trộn. Sao chẳng có cái nhìn bình đẳng, khởi tâm tùy hỷ, tích lũy các căn lành, thành tựu chủng tánh đại từ bi?
Kinh nói:
“Đốt một ngón tay, dâng một nén hương, còn có thể diệt trừ vô số tội lỗi trong nhiều kiếp; hoặc rải một đóa hoa, hoặc tạm thời xưng niệm một danh hiệu Phật, cuối cùng sẽ đạt được quả vị cứu cánh”.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói:
“Bồ Tát đồng sự với chúng sanh còn làm kẻ gian xảo, trộm cắp, đồ tể, buôn bán, dâm nữ, quả phụ, không việc gì chẳng làm”.
Trong Vô Sanh Nghĩa nói:
“Người tu hành ly tướng vô trụ, không trụ nơi Niết Bàn; hay hiện sắc thân khắp nơi ở trong hữu vi, có thể làm kẻ sang người hèn, có thể làm Hiền Thánh phàm phu, thực hành đạo nhân nghĩa, từ bi cứu giúp chúng sanh khắp mười phương cùng tận bờ mé vị lai”.
Còn nói: “Địa vị phàm phu tu tập Thánh hạnh, địa vị nơi quả tu tập nhân phàm, chưa đầy đủ Phật Pháp cũng không diệt cảm thọ để chứng đắc”.
Thế nên biết rõ, Chân là Chân trong Tục, Tục là Tục trong Chân, chấp trước là trần lao, thông suốt là Phật sự. Vào Pháp Tánh Tam Muội không một pháp nào đáng chán, chứng vô biên định môn thì chẳng một pháp nào đáng bỏ. Hơn thua đã sai lầm, lấy và bỏ cũng đều trái ngược, không nên làm chướng ngại sự giác ngộ của người khác, tiêu diệt cội lành chính mình.
Vả lại, dù hiểu rõ thân không thật, thâm nhập Thật tướng, không vướng mắc nơi tâm cảnh, quyết định không nghi ngờ; tuy biết tất cả hữu vi giống như vết chim trong hư không, nhưng vẫn phải quán xét tu luyện đối trị trong từng địa vị. Tập khí chẳng phải là không, huống chi chấp chặt vào sự ngu si của bốn thứ điên đảo, vướng sâu trong mạng lưới bát tà, giữ gìn thân nhơ uế này làm nhiều việc tham dâm, bị lưới huyễn hóa bao phủ, bị tình sắc làm say mê, đắm chìm trong vòng sanh tử luân hồi khốn khổ.
Cho nên bậc Đại giác rất xót thương, dùng nhiều lời chê bai hoặc vứt bỏ. Khi các bậc Thánh xả thân, đều quở trách việc này trước nhất:
Chúng sanh chấp thân này là thật, giống như lấy độc dược đổi lấy hồ, lấy ngói gạch đổi lấy châu báu.
Kinh Đại Bửu Tích nói:
“Quán xét thân, có bốn mươi điều lầm lỗi, hoặc bảo rằng thân này là ngục tham dục thường bị phiền não trói buộc, hầm nhơ nhớp thường bị dòi tửa gậm nhấm.
Giống như nhà xí có năm thứ bất tịnh.
Giống như túi thủng chín lỗ thường chảy ra, độc xà sân hận thường phát khởi tâm gây hại, thương tổn huệ mạng, La sát ngu si bám vào ngã chấp nuốt mất trí tuệ.
Giống như kẻ giặc ác thiên hạ đều chán ghét.
Giống như chó chết các bậc Hiền đều vứt bỏ.
Giống như cây chuối, bọt nước chẳng bền chắc, vô thường dường như ánh chớp, sóng nắng. Tuy cho ăn uống mà trở thành kẻ thù oán, thường nuôi dưỡng mà chẳng biết báo ân”.
Các Ngài chê trách thân này rất nhiều, khó nói cho đầy đủ. Nếu không xét rõ lỗi lầm sâu sắc bèn làm nhiều việc ác, mê muội nơi những điều trên cho đó là phải, chẳng lo tiến tu thì trí và hạnh đều thiếu sót, Lý và Sự cả hai đều mất.
Trước nên chán nản lỗi lầm, tha thiết khắc khổ đối trị. Biết sai lầm, lần lần lửa dục tắt lịm; thấu rõ cội gốc, nguồn chân tự nhiên hiển bày.
Thế nên kinh Pháp Hoa nói:
“Giống như nhà lửa tam giới thiêu đốt làm sao có thể hiểu trí tuệ Phật được”.
34,Hỏi:
Thân tuy giả dối, mọi sự lo lắng buộc ràng, nhưng nhờ thân huyễn này có thể thành tựu đạo quả.
Trong kinh nói: “Không vào biển cả phiền não thì không được bảo châu vô giá”. Nếu muốn xả bỏ thân này, e rằng về sau hối hận.
Đáp:
Phàm có sanh tất có diệt, mọi cái có hình tướng đều rỗng không. Nếu đối với Tam Bảo chí thành hướng về, khởi một tâm niệm xả bỏ còn hơn sự sống say chết mộng ở thế gian. Bởi lẽ có thể dùng thân vô thường mà đạt được thể kim cang, đem thân không bền chắc mà đổi lấy thân kiên cố. Hai đường lấy và bỏ cần phải tựa vào trí tuệ soi xét.
35.Hỏi:
An tâm vào đạo phải thuận Chân không; khởi hạnh độ sanh, toàn trở về nơi Thế đế. Chỉ tỏ ngộ Pháp tánh mới thấu rõ Chánh tông, sao lại bài xích chân thật mà dựa vào giả dối, bỏ gốc theo ngọn, hữu vi nhiễu động tạo tác lăng xăng, hoặc loạn cuồng nguồn chơn vẩn đục nước tâm?
Đáp:
Trong Đệ nhất nghĩa, chân cũng không lập; nơi Pháp giới bình đẳng, không có Phật và chúng sanh; trong môn Tục đế, chẳng bỏ một pháp.
Phàm có làm điều gì cũng đều là Phật sự, thế nên chư Phật thường y nơi Nhị đế mà thuyết pháp. Nếu không hiểu Thế đế thì cũng chẳng đạt đến Đệ nhất nghĩa đế.
Luận Duy Thức nói:
“Bác rằng không có Nhị đế là kẻ chấp Không bừa bãi, dù chư Phật có dạy cũng không thể chữa trị cho họ”.
Kinh Kim Cang nói:
“Người phát tâm cầu đạo Giác ngộ, chẳng nói tướng đoạn diệt của các pháp”.
Quốc Sư Hiền Thủ nói:
“Chân không chẳng hoại nghiệp quả duyên khởi thế nên tôn ti rõ ràng”.
Luận Kim Cang Tam Muội nói:
“Chân và Tục không hai mà cũng chẳng chấp là một, vì không hai nên tức là nhất tâm, không chấp vào một nên toàn thể là hai”.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Ví như hư không trong mười phương, hoặc quá khứ, hiện tại, vị lai tìm cầu không thể được, nhưng chẳng phải không có hư không.
Bồ Tát cũng vậy, quán sát tất cả các pháp đều không thật nhưng chẳng phải không có tất cả pháp. Như thật không khác, chẳng bỏ mất các việc làm, thị hiện tu hành những hạnh Bồ Tát cùng khắp, chẳng bỏ đại nguyện, điều phục chúng sanh, xoay chuyển bánh xe chánh pháp, chẳng phá hoại nhân quả”.
Còn nói, Đại Bồ Tát hiểu rõ tự thân cùng với chúng sanh xưa nay vắng lặng, chẳng kinh hãi, chẳng sợ sệt, siêng năng tu tập phước đức trí tuệ khong thay chan nan va day du pháp không có tạo tác mà chẳng bỏ tự tướng của tất cả pháp.
Tuy biết tất cả
Tuy đối với các cảnh giới lìa hẳn tham dục mà thường ưa thích chiêm ngưỡng kính lễ sắc thân chư Phật.
Tuy biết không do người khác mà được ngộ nhập vào pháp, nhưng tìm nhiều phương tiện để cầu Nhất thiết trí.
Tuy biết cõi nước chư Phật đều như hư không nhưng vẫn thường ưa trang nghiêm tất cả các cõi Phật.
Tuy hằng quán sát vô nhân vô ngã nhưng giáo hóa chúng sanh không biết mỏi mệt.
Tuy nơi pháp giới xưa nay chẳng động mà dùng sức thần thông trí tuệ thị hiện mọi sự biến hóa.
Tuy đã thành tựu Nhất thiết trí mà tu hạnh Bồ Tát không ngừng nghỉ.
Tuy biết các pháp chẳng thể nói năng mà xoay chuyển bánh xe giáo pháp thanh tịnh, khiến cho chúng sanh hoan hỷ.
Tuy có thể thị hiện thần lực của chư Phật mà chẳng chán nản thân Bồ Tát.
Tuy đã vào nơi Đại Niết Bàn nhưng vẫn ở khắp mọi nơi thị hiện thọ sanh”.
Có thể thực hành hai pháp quyền biến và chân thật song song, như thế tức là việc làm của Phật. Thế nên, bài bác nhân quả tức là hạng ngoại đạo chấp Không, nếu dựa vào lý thể mà dứt tuyệt công dụng là hàng Thanh Văn thú hướng đến chỗ tịch diệt.
Vả lại, nếu lập Chánh tông thì pháp gì chẳng phải là tông, đã luận về Pháp tánh thì vật gì chẳng phải là tánh. Từ mặt mê vọng mà phá chấp thì quyền biến thiết lập phải quấy; từ mặt giác ngộ mà thấu rõ đồng nhất thì thật không lấy bỏ.
Điều hiện nay muốn nói là, đã không đồng với việc chấp trước sự tướng của phàm phu, cũng chẳng phải sự nghiêng về giả mà rời chân của Bồ Tát Tam Tạng, cũng không phải sự chuyên nhất cầu tịch diệt của hàng Thanh Văn Thông giáo.
Nếu nói về Có mà rời Không là nhân của vọng sắc, nếu nói về Không mà rời Có thì trở về quả đoạn diệt.
Nay muốn chỉ ra là, tánh tức là tánh nơi tướng nên chẳng ngại vạn vật sanh khởi; tướng là tướng nơi tánh nên chẳng trở ngại bản thể vắng lặng. Cảnh là cảnh chẳng thể nghĩ bàn, Không là Tánh không Đệ nhất nghĩa. Mở ra và thâu lại đồng thời, ngay nơi Không mà thường Có, tồn tại và diệt mất chẳng hoại, ngay nơi Có mà vẫn thường Không.
Do đó, giáo lý của Tông Thiên Thai nói:
“Giống như gương mới hiện các hình tượng, còn ngói gạch thì không thể nào ảnh hiện. Trong gương tuy có đủ mọi hình tướng nhưng rỗng không, không có gì. Vì vậy Pháp thân thanh tịnh vi diệu đầy đủ ba mươi hai tướng”.
Quốc Sư Thanh Lương nói:
“Phàm Thánh thông suốt nhau, ngay nơi tâm phàm mà thấy tâm Phật. Sự-Lý song tu, dựa vào trí phàm mà cầu được trí Phật”.
Bậc Cao đức thuở xưa giải thích rằng:
“Những người không rõ ý chỉ trong Thiền Tông thường chấp Lý không rõ Sự, nói rằng tâm tánh vốn đầy đủ cần gì phải tu hành tìm cầu, chỉ cần dứt bỏ tình chấp thì Phật chân thật tự nhiên hiển hiện.
Những người học giáo pháp lại chấp Sự không rõ Lý, nói rằng cần gì phải chăm chăm tu tập lý pháp. Nếu cả hai hợp lại thì tốt đẹp, tách ra thì đôi bên tổn thương.
Thế nên, Lý-Sự song tu để tỏ bày ý chỉ viên dung vi diệu. Dừng tâm dứt niệm gọi là Lý hạnh; ra công trên sự tướng gọi là Sự hạnh. Y nơi Bản trí là trí bản giác, đây là trí nhân. Tánh rỗng rang sáng suốt này gọi là trí. Thành tựu Lý hạnh ở trước, dứt tình chấp hiển bày Lý. Cầu trí Phật, tức là Trí giải thoát vô chướng ngại, đây là trí quả.
Đứng về mặt tròn sáng, quyết đoán là trí thì thành tựu Sự hạnh ở trước, do khởi hạnh thành tựu quả. Ở đây là thể tánh đồng cho nên y theo đây; tướng dụng khác nhau vì vậy mà tìm cầu, chỉ cầu tướng dụng chẳng cầu thể tánh.
Lý hạnh dứt tình chấp ở trước tức là duyên khởi trừ nhiễm, vì hiển bày thể tánh. Sự hạnh ra công tức là duyên khởi hiển tịnh, vì thành tựu tướng dụng”.
Vô Tướng Tông nói, những lời nói trên tướng dụng rõ ràng. Chỉ cần y theo Bản trí, tình chấp dứt sạch thì tướng dụng tự nhiên hiển bày. Vì vốn đầy đủ, cần gì phải phát khởi nơi Sự hạnh?
Viên Tông nói, tánh vốn đầy đủ nên khi dứt tình chấp chỉ cần dẹp trừ tướng dụng phần nhiễm, tự nhiên hiển bày thể chân thật.
Nếu không có Sự hạnh, không do đâu sanh khởi được tướng dụng phần tịnh. Như vàng tuy có thể làm ra các đồ trang sức, nhưng trừ bỏ tạp chất thì chỉ có thể hiển bày vàng, nếu không ra công tạo tác tất không sao được thành đồ trang sức. Lẽ nào khi vàng ra khỏi khoáng rồi, chẳng nhờ tạo tác tự nhiên trở thành đồ trang sức sao?
Nếu dứt tinh chấp chấp chẳng phải nhờ vào Sự hạnh, vậy thì Đức Phật dạy tu tập đầy đủ há chẳng phải là khiến cho người học nhọc nhằn luống uổng hay sao? Thế nên, Bồ Tát Bát Địa đã có thể lìa niệm, Đức Phật còn khuyên bảo phát khởi Sự hạnh, nên biết vì lìa niệm chưa phải là xong. Cho nên văn nói:
“Pháp tánh chân thường lìa tâm niệm
Nhị thừa ở đây cũng đạt được
Chẳng do nơi đó thành Thế Tôn
Chỉ bởi trí sâu xa vô ngại”.
Thất Khuyến<!–[if !supportFootnotes]–>[18]<!–[endif]–> đều là Sự hạnh. Thế nên biết, quả Phật tánh tướng phải đầy đủ, nhân hạnh Sự-Lý phải song tu.
Dựa vào Bản trí giống như được vàng, tu tập Lý hạnh giống như trừ khoáng, tu Sự hạnh giống như tạo tác, cầu trí Phật giống như làm thành những đồ trang sức.
Từ Mẫn Tam Tạng Lục nói:
“Nếu bảo rằng Thế Tôn nói các pháp hữu vi nhất định giống như hoa đốm trong hư không hoàn toàn không có một vật, như thế gọi là giả dối”.
Đã giả dối không có hình tướng thì chẳng phải là nhân giải thoát, tại sao Thế Tôn lại dạy các đệ tử siêng năng tu nhân vi diệu Lục độ vạn hạnh để chứng quả Bồ đề Niết Bàn? Lẽ nào người trí lại khen ngợi lầu sò chợ bể là chân thật bền chắc cao đẹp, lại khuyên mọi người dùng sừng thỏ làm bậc thang để đi lên đó?
Do lý này nên tuy là phàm phu cũng có thể phát tâm Bồ đề, thực hành đạo Bồ Tát. Tuy họ tu tập trong hữu lậu nhưng đó cũng là sự tu tập chân thật và chính xác. Mọi vật hiện hữu tuy đều giả dối nhưng chẳng đồng với lông rùa không có gì cả. Ở đây nói giả dối là vì sự vật đều dựa vào nhân duyên sanh khởi huyễn có, chẳng đồng với vọng chấp cho là không ngơ.
Nếu người hiểu như thế, thường thực hành nơi sự tướng thì sự tướng không thể chướng ngại, nhanh chóng đạt được giải thoát. Mê mờ chấp chặt hạn cuộc, không thông suốt giáo nghĩa, tuy mong cầu lìa tướng mà thường bị tướng ràng buộc không thể giải thoát.
Lại nói, nếu chấp rằng sự tu hành của chư Phật trong ba đời là vọng tưởng thì dựa vào sự tu học gì mới đạt được giải thoát? Chẳng nương vào hạnh của Phật, y cứ vào nơi nào khác đều là hành vi của ngoại đạo.
Bậc Cao đức ngày xưa nói:
“Nếu một bề khoanh tay không làm, tự mình an ổn chẳng thực hành đạo nhân nghĩa tức là khiếm khuyết sự trang nghiêm, cho dù tu hành nhiều kiếp cũng không thành tựu. Chỉ cần chỗ chân thật chẳng nhận mảy trần, nơi Phật sự không bỏ một pháp là được”.
Hoàn Nguyên Quán nói:
“Chân thật bao hàm mọi cành ngọn hư vọng, không có hạnh gì mà chẳng tu hành; vọng thấu suốt nguồn chân, không có tướng gì chẳng lặng lẽ”.
Lại nói, Tánh chân như vốn tùy duyên một cách tự nhiên như thế. Vạn vật đồng phát sanh cũng trở về tánh thể một cách tự nhiên như vậy.
Kệ truyền pháp của Tổ sư nói:
“Tâm địa tùy thời nói
Bồ đề cũng như thế
Sự-Lý đều vô ngại
Đương sanh tức chẳng sanh”.
Nên biết, Chân như không giữ tự tánh, thuận theo rỗng lặng mà vạn vật hằng sanh khởi; nhân duyên chẳng mất tự thể, mặc cho mọi sự hoạt động, tánh không vẫn thường lặng lẽ.
36.Hỏi:
Kinh Tư Ích nói:
“Người vào Chánh vị không trải qua từ Sơ địa đến Thập địa”.
Kinh Lăng Già nói:
“Chân như lặng lẽ sao có thứ bậc?”.
Bậc Cao đức ngày xưa nói:
“Thà muôn kiếp trầm luân, hoàn toàn chẳng cầu giải thoát của các bậc Thánh”.
Lại nói: “Mặc cho ngàn Thánh hiện, ta có Phật thiên chân”. Tại sao lại ấn mắt phát sanh hoa đốm, gượng phân chia thứ bậc tu hành?
Đáp:
Nếu tâm thầm hợp với tánh Phật, lý bao quát nguồn chân, cần gì phải nhờ duyên khác mà quên mất chính mình.
Nếu như dựa vào trí tuệ phân chia thì ở trong chỗ không thứ bậc mà thiết lập thứ bậc. Tuy dường như có lên xuống thật sự, bản vị vốn không biến động. Phật Pháp gọi là “vị”, nếu không có hạnh vị tu hành, tức là thiên ma ngoại đạo.
Nếu từ môn “Viên dung” mà nói thì thuận theo Pháp giới tánh vốn tự thanh tịnh. Nếu từ môn “Hành bố” mà nói, tùy theo tướng Thế đế trước sau có sự phân chia sâu cạn.
Hiện nay Viên dung chẳng trở ngại Hành bố nhanh chóng thành tựu các hạnh, bởi một địa tức là tất cả địa. Nếu Hành bố chẳng trở ngại Viên dung thì thành tựu khắp cả các hạnh, bởi vì tu hành tăng tiến công đức của các vị thứ tâm vẫn thường rỗng lặng nên ở nơi Trung đạo. Không có mà có vị thứ rõ ràng; có mà không có rỗng rang lặng lẽ.
Do đó, kinh Bát Nhã nói:
“Tu Bồ Đề hỏi Đức Phật:
– Nếu các pháp rốt ráo không có gì, tại sao lại nói có Sơ địa cho đến Thập địa?
Đức Phật đáp:
– Vì các pháp rốt ráo không có gì nên có Sơ địa cho đến Thập địa của Bồ Tát. Nếu các pháp có tánh quyết định thì không có Sơ địa cho đến Thập địa”.
Vì thế Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là pháp môn Bồ Tát thực hành, Năm mươi hai vị thứ là con đường tu học của chư Phật thuở xưa.
Từ chỗ tâm niệm ban đầu, một niệm tu tập trọn vẹn, cho đến đạt được Mười tám pháp Bất cộng, mài dũa ba nghiệp, cuối cùng sẽ đạt đến chỗ thanh tịnh rốt ráo.
37Hoi
Tự tánh chân thật của chúng sanh vốn tự thành tựu trọn vẹn, tại sao phải nhờ vào tu hành làm nhiều việc thiện?
Trong kinh nói:
“Biết tất cả đều khổ, đoạn diệt nguyên nhân đau khổ, chứng đắc quả tịch diệt, tu tập đạo Niết Bàn. Đó đều là những luận bàn vô ích”.
Nếu phát khởi sự tu hành hư vọng, làm sao khế hợp với bản tánh?
Đáp:
Luận Đại Thừa Khởi Tín nói:
“Bởi vì chúng sanh có tâm vọng tưởng nên hay biết danh nghĩa, do vậy mà nói về tánh giác chân thật, cũng bởi Chân như có công năng huân tập bên trong nên khiến vô minh này có dụng thanh tịnh.
Ngoài ra lại nhờ sức mạnh nơi lời dạy của chư Phật ở bên ngoài, phối hợp với sức mạnh huân tập ở bên trong của Chân như, trợ giúp lẫn nhau, do đó khiến vọng tâm này tin chính mình có Tánh chân như, có thể sanh khởi mọi phương tiện tu hành các môn đối trị.
Sự tu hành này là tin có Chân như, nhưng vì chưa chứng ngộ Chân như nên chẳng gọi là vô lậu. Nếu vọng niệm thanh tịnh thì Chân tánh tự hiển bày”.
Vả lại, tuy tu tập không tự tánh nhưng chẳng trở ngại sự chân tu. Từ vọng mà hiển bày chân, nhân thức mà thành trí, giống như hình bóng của sự vật có thể bày tỏ sự trong sáng của mặt gương. Nếu không có phiền não trần lao cũng không cần kiến lập Phật đạo.
Bậc Cao đức ngày xưa nói:
“Hai pháp chân vọng đồng là nhất tâm, nắm lấy vọng mà thành tựu chân, vì ngoài chân không có vọng nào khác. Chân thuận theo vọng hiện bày, vì ngoài vọng không có chân nào khác. Hơn nữa, nếu ngoài chân mà có vọng thì lý thể không cùng khắp. Nếu ngoài vọng mà có chân thì sự tướng không có chỗ nương tựa.
Vả lại, nếu chấp bản tánh vốn thanh tịnh, đó là thuộc về tự tánh ngu si. Nếu chấp rằng nhờ sự tu tập bên ngoài, đó là tha tánh ngu si. Nếu chấp vào sự kết hợp trong và ngoài, đó là thuộc về cộng tánh ngu si. Nếu dẹp trừ gốc và ngọn, đó là thuộc về vô nhân ngu si”.
Trưởng Giả Luận nói:
“Nếu nhất loạt đều bình đẳng thì không có tâm ý tu đạo. Cần phải khích lệ tu hành cho đến chỗ vô tu mới biết vạn pháp vốn không có sự tu hành chi cả”.
Kinh Bảo Tích nói:
“Nếu không cần có sự tu hành chân chánh thì các loại động vật mèo thỏ cũng nên thành Phật”.
Trong giáo lý của Tông Thiên Thai nói :
“Hạnh hay thành tựu trí, hạnh đầy thì trí tròn; trí hay hiển lý, lý tận cùng thì trí lặng lẽ. Đạo lý quan hệ lẫn nhau, không phải là không có sự hưng phế.
Do quyền biến mà hiển bày chân thật, chân thật được xác lập, quyền biến không còn. Từ vọng tỏ rõ chân, chân được thành tựu thì vọng cũng sẽ tiêu diệt. Quyền biến và hư vọng đã lặng lẽ, chân thật cũng rỗng không, chẳng phải hư vọng chẳng phải quyền biến thì cái gì chân, cái gì thật?”.
Đại sư Pháp Dung ở núi Ngưu Đầu nói: “Nếu nói do tu hành mà được, đó chính là tạo tác chẳng phải chân thật. Nếu nói tánh Phật vốn có thì vạn hạnh chỉ là sự lập bày suông mà thôi”.
38 Hỏi:
Tất cả phàm phu thường ở nơi định, cần gì thực hành quán Sổ tức, không dây mà tự trói?
Đáp
Nếu nói về Pháp Tánh Tam Muội thì ai mà chẳng đầy đủ. Nếu bàn về môn định cứu cánh, chỉ có Phật mới đạt đến rốt ráo. Bậc Bồ Tát Đẳng Giác còn không biết, kẻ phàm phu tâm tán loạn sao có thể dò xét?
Thế nên, Bồ Tát Văn Thù nói:
“Ví như người học bắn tên, từ thô đến tế, về sau bắn đâu trúng đó. Ta cũng như vậy, ban đầu thực tập chánh định chuyên nhất một cảnh, về sau vào chánh định vô tâm mới được thường ở nơi định trong tất cả thời”.
Cho nên các pháp quán Bất tịnh, quán Giả, Sổ tức diệu môn đều là bến bờ đưa đến nơi cam lồ, con đường thẳng tắt ra khỏi sanh tử.
Tổ sư Long Thọ nói:
Quán xét trong Thập lực của Phật có hai lực lớn nhất:
– Do nghiệp lực nên vào trong sanh tử.
– Do định lực nên ra khỏi sanh tử.
Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói:
“Cứu mạng cho tất cả mọi người trong tứ thiên hạ, chẳng bằng đoan chánh tâm ý trong khoảng một bữa ăn”.
Vì vậy, Chân như còn ở trong ràng buộc, hôn trầm tán loạn đều đầy đủ; Chân như ra khỏi sự ràng buộc, định và tuệ mới tỏa sáng.“
Chung và riêng rõ ràng, trước sau không lẫn lộn, tại sao lại cho Lý là phải, chẳng lẽ chỉ trích Sự là sai
Trich Sach Van Thien Dong Quy LTLT Vinh Minh Thien Su
Thich Minh Tue



