327.Van Dap Tinh Do 37
42.Hỏi: Bạch Thầy, chư Tổ Tịnh độ ca tụng một câu Nam-mô A-di-đà Phật bao gồm:
1- Ba tạng (Kinh, Luật, Luận), mười hai loại Kinh, những giáo lý cực tắc.
2- Một ngàn bảy trăm (1.700) công án Thiền, đường lối hướng thượng.
3 – Ba ngàn (3.000) oai nghi.
4- Tám muôn (80.000) tế hạnh.
5- Năm tông Thiền (Vân Môn, Pháp Nhãn, Tào Động, Quy Ngưỡng, Lâm Tế).
6- Tám giáo (Tạng giáo, Biệt giáo, Thông giáo, Viên giáo, Đốn giáo, Tiệm giáo, Mật giáo, Bất định giáo).
7- Một câu Nam-mô A-di-đà Phật là cốt tủy tinh hoa bốn mươi chín (49) năm thuyết pháp của Đức Thế Tôn.
Ca tụng như vậy có quá đáng không? xin Thầy từ bi giải thích cho!
Đáp: Những điều Liên hữu nói trên đúng lời chư Tổ Tịnh Độ dạy. Quý Ngài nói mà quí Ngài không giải thích lý do.
Trong Kinh A-di-đà nói: “Pháp môn Tịnh Độ là pháp khó tin (nan tín chi pháp)”. Pháp này đơn giản, nghĩa lý lại thâm sâu vi diệu, Đẳng Giác Bồ- tát cũng chưa hiểu rõ, chỉ có chư Phật mới hiểu hết. Ngài Lý Bỉnh Nam (Thầy của Pháp sư Tịnh Không) sau ba mươi năm hoằng dương Tịnh độ, Ngài nói trong sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật, Ngài mới hiểu ba chữ thôi. Vậy thì Minh Tuệ một chữ A còn chưa hiểu, làm sao dám giải thích.
Liên hữu thương tình nghĩ đến, Minh Tuệ xin góp ý:
-Câu Nam-mô A-di-đà Phật gồm cả bảy thứ ghi trên, không có nghĩa là câu danh hiệu Phật này cao hơn những thứ ấy, mà chỉ có nghĩa là những thứ ấy (tất cả Phật pháp) đều nằm trong câu Nam-mô A-di-đà Phật, (vì chỉ cần niệm một câu Nam-mô A-di-đà Phật mà cuối cùng có đầy đủ bảy thứ ấy), như Ngẫu Ích đại sư đã nói:
-“Tất cả Phật pháp lưu xuất từ Chân Tâm. Niệm Phật cuối cùng trở về với Chân Tâm. Bấy giờ một là tất cả, tất cả là một. (Ở trong đó).
-Tất cả Phật pháp (trong đó có Tịnh Độ) đều đưa đến mục đích cuối cùng là Giác ngộ giải thoát, thành Phật”.
Nhưng Tịnh Độ tông có những lợi điểm hơn, như sau:
a. Tông phái khác chỉ phù hợp riêng với những chúng sanh căn tánh bậc thượng (như Thiền tông). Còn Tịnh Độ tông phù hợp với tất cả chúng sanh (căn tánh bậc thượng, trung, hạ).
b. Pháp môn niệm Phật dễ tu (bất luận ai cũng tu được), dễ chứng (bảo đảm một đời thành Phật).
Như vậy, đối với Minh Tuệ, lời ca tụng trên không phải là quá đáng mà là quá đúng, quá hay.
43– Hỏi: Trong đĩa DVD Vãng sanh bằng cách nào? Thầy nói là quang minh của Phật A-di-đà chiếu khắp mười phương để tiếp dẫn người niệm Phật vãng sanh Cực Lạc. Tại sao chúng con không thấy?
Đáp: Quang minh của Phật A Di Đà tốt lành, làm lợi ích cho chúng sanh, là tôn quý nhất trong các quang minh (Quang trung cực tôn), là vua trong các chư Phật (Phật trung chi vương). Ngài còn có mười hai danh hiệu khác như là Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật, Thường Chiếu Quang Phật…
Gọi là thường chiếu, vì trong hết thảy thời, quang minh luôn chiếu khắp nơi Quí liên hữu không thấy vì bị vọng tưởng phân biệt, chấp trước (vô minh) ngăn che. Thí dụ như:
-Mặt trời luôn chiếu sáng, nhưng bị mây đen ngăn che nên mờ mịt, hoặc bị ph.ân nửa trái đất che khuất nên tối đen (ban đêm), hoặc người mù lòa nên không thấy Luon dien luon co, mà bóng đèn bị đứt nên không sáng đó thôi.
Tuy rằng quí liên hữu không thấy, không cảm nhận được, nhưng vẫn có lợi ích. Pháp sư Tịnh Không nói: “Nếu chúng ta không được Phật lực gia trì, thì không tài nào niệm Phật được”. Hưởng thụ lợi ích nhiều hay ít là tùy ở nơi mình. Như Kinh nói: “Đồng một cơn mưa mà sự hút nước nhiều hay ít tùy mỗi loại cây”.
44- Hỏi: Căn cứ vào sách, hai vị Tổ Tịnh Độ là: Pháp Nhiên thượng nhơn (Sơ Tổ Tịnh Độ tông Nhật Bản), và Ấn Quang đại sư, Tổ thứ mười ba của Tịnh độ tông Trung Hoa đều là Đại-thế-chí Bồ-tát hóa thân. Hai Ngài đều hoằng dương Tịnh Độ, nhưng tại sao hai lối giáo hóa của hai Ngài không giống nhau?
Đáp: Hoằng dương Phật pháp phải khế lý và khế cơ. Khế lý nghĩa là phải phù hợp với chân lý, hợp với lời Đức Thế Tôn truyền dạy. Khế cơ nghĩa là phải phù hợp với trình độ hiểu biết (căn cơ, căn tánh) của đối tượng chúng sanh. Tôi xin chứng minh:
1Theo Thiên Thai tông, công cuộc giáo hóa suốt một đời của Đức Phật Thích-ca đuợc chia làm năm thời kỳ như sau:
a/ Thời kỳ Hoa nghiêm, 21 ngày sau khi thành Đạo.
b/ Thời kỳ A hàm (Lộc uyển), 12 năm kế tiếp.
c/ Thời kỳ Phương đẳng, 8 năm kế tiếp.
d/ Thời kỳ Bát nhã, 22 năm kế tiếp.
e/ Thời kỳ Pháp hoa, Niết bàn, 8 năm kế tiếp.
Đức Thế Tôn sanh một thời, ở một nơi mà còn thuyết pháp chia làm năm thời kỳ như vậy. Dùng tám vạn bốn ngàn pháp môn để đối trị tám vạn bốn ngàn bệnh của chúng sanh.
2– Nhị vị Tổ sư, giáng sanh nhằm hai thời đại và hai nơi khác nhau như sau:
-Tổ sư Pháp Nhiên giáng sinh ở Nhật Bản năm 1133, vãng sanh năm 1212.
–Tổ sư Ấn Quang giáng sinh ở Trung Hoa năm 1860, vãng sanh năm 1940.
Do đó quý Ngài phải xiểng dương Tịnh Độ khác nhau cho hợp với căn cơ chúng sanh lúc bấy giờ. Điều này thật là hợp lý phải không?
45- Hỏi: Kinh A-di-đà nói: “Người sanh về Cực Lạc nghe tiếng chim kêu, nước chảy, gió reo đều vui mừng phát lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, muốn nghe Kinh gì thì được nghe Kinh nấy, không muốn nghe thì không nghe (dù là có tiếng). Những điều này sao lạ vậy, thưa Thầy?
Đáp: Kính xin giải đáp từng ý.
1- “Người sanh về Cực Lạc nghe tiếng chim kêu, nước chảy, gió reo đều vui mừng phát lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”.
Kinh Vô Lượng Thọ, phẩm Bồ Đề Đạo Tràng nói: “Nếu có chúng sanh thấy cây Bồ-đề, nghe tiếng, ngửi mùi, nếm vị trái cây, chạm phải ánh sáng, hình bóng nó, nghĩ đến công đức của cây, thì được sáu căn thanh triệt, không còn có các não loạn”. Cụ thể là:
– Mắt thấy cây.
– Tai nghe tiếng từ cây phát ra.
– Mũi ngửi được mùi hương.
– Miệng nếm vị trái cây.
– Thân chạm phải ánh sáng, bóng cây.
– Ý nghĩ nhớ đến công đức của cây.
Như vậy thì sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý đều được thanh tịnh, thoát mọi khổ não.
-Kinh Vô Lượng Thọ Phẩm công đức ao nói: “Nếu những chúng sanh cõi kia (Cực Lạc) đến tắm trong nước ấy (nước tám công đức) thì nước làm cho khai hiển thần thức, thân thể vui sƣớng”. “Khai hiển thần thức” nghĩa là khai hiển thần trí sẵn có trong thức tánh, tức là minh tâm kiến tánh vậy.Nuoc tam cong duc gột rửa cấu nhiễm của thân tâm, khiến tinh thần sảng khoái, thân thể an vui gọi là “thân thể vui sướng”.
Nho minh tâm kiến tánh, thân tâm thường thanh tịnh, an lạc, luôn nghĩ đến Tam Bảo. Nên dù nghe tiếng gì như chim kêu, nước chảy, gió reo… đều sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng là vậy.
2- “Muốn nghe Kinh gì, thì được nghe Kinh nấy”.
-Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nhất thiết duy tâm tạo”.
-Kinh Pháp Cú dạy: “Tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác các pháp…”.
-Người đời nói: “Tâm tưởng sự thành”.
-Pháp môn niệm Phật như sau:
Trước tiên dùng nhĩ căn niệm Phật, nghĩa là dù có nhiều cách khác nhau. Có cách gọi là “Tất cả niệm Phật” hoặc “Toàn thân niệm ghe bất cứ tiếng gì đều giả tá là tiếng niệm Phật. Ví dụ: Khi nghe tiếng mõ: „cốc, cốc, cốc, cốc”, ta cứ nghĩ là “A-di-đà Phật”, liên tục như vậy chừng năm, mười phút sau, ta không còn nghe “cốc, cốc, cốc, cốc” nữa mà là nghe “A-di-đà Phật”.
Bản thân tôi và một số liên hữu chùa Tịnh Luật áp dụng kết quả như ý (100%). Ta-bà đầy ưu bi, khổ não, phàm phu sát đất, nhĩ căn ô nhiễm nặng nề, nhưng chúng ta vẫn giả tá tiếng mõ thành tiếng niệm Phật được, huống hồ gì về Cực Lạc, sáu căn thanh tịnh rồi, thì nghe mọi âm thanh đều có thể khởi tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng quá dễ dàng thôi.
–Hoa Thuong Quảng Khâm nói: “Ngày đêm sáu thời, tất cả tạp âm như chim kêu, xe chạy Ngài đều nghe là tiếng niệm Phật” (sách Lắng Nghe Tiếng Hát Sông Hằng – Pháp sư Đạo Chứng).
Vậy thì, người ở Cực Lạc thân tâm thanh tịnh, minh tâm kiến tánh rồi, dù là tiếng gì, muốn nghe Kinh, thì được nghe Kinh đâu có chi là lạ!
3- “Nghe Kinh gì theo ý muốn”.
-Đức Bổn sư Thích-ca không học Phật pháp nơi vị thầy nào cả, mà trong bốn mươi chín năm ròng rã giảng pháp không ngăn ngại. Những thánh giáo ấy hoàn toàn lưu xuất từ chân tâm của Ngài. Bởi vậy, trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng nói: “Nào ngờ tự tánh vốn đầy đủ các pháp”.
Liên Tông cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư cũng đã nói:“Tất cả Phật pháp lưu xuất từ Chơn Tâm”.
-Kinh Hoa nghiêm dạy: “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ, đức tướng Như Lai, nhưng vì vọng tưởng, phân biệt, chấp trước ngăn che, nên Phật tánh không thể hiện bày”.
-Kinh cũng dạy: “Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không sai khác (tam vô sai biệt)”.
Những lý lẽ trên chứng minh rằng tất cả Phật pháp là cái vốn sẵn có trong tâm của chúng sanh. Khi chúng sanh dẹp sạch vô minh (vọng tưởng, phân biệt, chấp trước), đủ duyên, chúng (Phật pháp) sẽ hiện bày như ý.
Hiểu vậy, người ở Cực Lạc thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, muốn nghe Kinh gì thì được nghe Kinh nấy (từ tâm lưu xuất) là việc đương nhiên không gì kỳ lạ cả.
4- Không muốn nghe thì không nghe (dù có tiếng).
– Người đời, khi thinh trần (âm thanh) tác dụng vào nhĩ căn (lỗ tai) nếu có tác ý thì sẽ nghe biết và phân biệt là tiếng gì. Bằng như không tác ý thì có nghe nhưng không biết, không phân biệt được là tiếng gì, gọi là “thính bất văn” (nghe mà không nghe, vì nghe mà không biết, thì coi như không nghe).
– Bản thân tôi và một ít liên hữu chùa Tịnh Luật đã áp dụng cách nói trên, gọi là “lấy động tu tịnh” để huân trưởng mức nhập tâm, thành quả như ý. (Xin đọc sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh -Phần V-Nhập tâm).
– Hành giả Tịnh nghiep dat Sự nhất tâm bất loạn, khi nhiếp tâm thì ngoài âm thanh danh hiệu Phật, không còn nghe bất cứ âm thanh nào khác. Người nhập Diệt thọ tưởng định, không còn nghe hay biết gì cả.
– Cư sĩ Bàng Long Uẩn, vợ và con (4 người) cùng hai vị thiền sư là Quang Huệ và Giới Diễn khi không còn muốn sống, liền thâu thần nhập diệt. Người ở Ta-bà này mà muốn chết là chết liền còn được thay
Qua những sự việc trên, chúng ta thấy rằng, người ở Cực Lạc, thân tâm đã thanh tịnh, làm chủ được mình, dù có tiếng, nhưng không muốn nghe thì không nghe, là việc hết sức bình thường, không có gì kỳ lạ cả
46– Hỏi: Con theo đạo Chúa, tình cờ con được đọc sách của Thầy, con muốn niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc. Không biết Phật có rước con không, và con có cần qui y Tam Bảo không, thưa Thầy?
Đáp: Chư Phat Dai tu Dai bi thương chúng sanh còn hơn cha mẹ thương con một. Do đó: Phật A-di-đà đã tu vô lượng kiếp để tạo dựng cõi Cực Lạc. Cực Lạc là vui sướng, hạnh phúc (an lạc) cùng cực, (từ “khổ” còn không có, nói chi đến cảnh khổ). Ăn, mặc, ở, tùy theo ý muốn mà hiện hữu (tùy tâm sở hiện). Phương cách tu hành, thì hàng ngày chúng sanh nơi đây được hai vị Bồ-tát Quán-thế-âm, Đại-thế-chí và Phật A-di-đà trực tiếp chỉ dạy. Người nơi này sống vô lượng kiếp với những điều thuận lợi tối thắng, hầu tiến tu mãi (không thoái chuyển) cho đến ngày thành Phật.
– Phật Thích-ca ân cần chỉ dạy, nhắc nhở chúng sanh niệm Phật A-di-đà, phát nguyện vãng sanh để sớm thành Phật, cứu độ chúng sanh.
–Người tu Tịnh Độ phải có đủ ba món tư lương là Tín, Nguyện, Hạnh, phải đáp ứng đúng điều kiện vãng sanh mà các Kinh A-di-đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã nói rõ (Xin đọc sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh) thì chắc chắn đƣợc đức Phật A-di-đà tiếp dẫnN
Đức Phật A-di-đà từ bi, bình đẳng tiếp dẫn không bỏ sót một chúng sanh nào hành theo đúng bổn nguyện của Ngài. Chúng sanh đây là không phân biệt Phật tử hay không phải Phật tử, không hạn cuộc ở con người mà bao gồm muôn loài có sự sống. Điển hình chim két niệm Phật vẫn được vãng sanh. (Xin xem, hoặc nghe DVD Tiếp dẫn vãng sanh bằng cách nào?).
Như vậy nếu quý vị niệm Phật cầu vãng sanh, mà giữ câu Phật hiệu đến giờ phút cuối cùng cuộc đời, thì chắc chắn được Phật A-di-đà tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc quốc.
Còn việc thọ tam qui, không bắt buộc, tuy nhiên nếu đủ duyên thì nên thọ, sẽ được nhiều lợi ích hơn (Xin đọc câu đáp 74A).
Trich Sach Tinh Do Thuc Hanh Van Dap
Thich Minh Tue



