
346.Van Dap Tinh Do 41

Câu hỏi 56 Tâm là gì? Thế nào là Vọng tâm? Chân
Tâm? Tu Tâm làm sao?
Kính xin Thầy từ bi giải thích con rõ Tâm là gì?
Thế nào là vọng Tâm? Thế nào là chơn Tâm? Tu Tâm làm sao?
Đáp:
1- Tâm là gì?
Nói một cách ngắn gọn, đơn giản, hằng ngày chúng ta suy
nghĩ, phán đoán, quyết định, thương ghét, vui buồn, mừng giận, v.v…, tất cả những gì thuộc về tinh thần nhận thức đều gọi là Tâm. Nhà Phật gọi đó là vọng Tâm.
Biết nhận định chánh tà, chân giả đều do Tâm.Tâm chủ động (chỉ huy) hành động, tạo tác suốt cả đời người, làm cho đời sống trở nên thăng trầm, vinh nhục, an định hay loạn động.
2-Vongng Tâm Phân biệt chơn Tâm và vọng Tâm
Theo cảnh sanh diệt, chợt có chợt không, gọi là vọng
tâm. Cụ thể là buồn vui theo cảnh (thịnh suy, giàu
nghèo,…), bị động theo duyên trần (ngũ dục: tài, sắc,
danh, thực, thùy; lục trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc,
pháp) là vọng Tâm.
Phàm phu sống theo vọng Tâm tham lam, sân hận, si mê,
ích kỷ, đắm đuối với danh lợi, ái ân, trần cảnh, ngủ dục
của thế gian. Được, còn, cảnh thịnh thì vui. Mất, suy,
cảnh tàn thì buồn.
Chơn Tâm
Chân thật sáng suốt nhiệm mầu, rỗng rang, linh thông,
gọi là chân tâm. Cụ thể là an nhiên, tự tại trước mọi cảnh
thịnh, suy, tan, hợp, không bị động theo duyên trần (ngũ
dục = tài, sắc, danh, thực, thùy; Lục trần = sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp) là chơn Tâm.Thánh nhân đạt được
lẽ “sắc không” (sắc tức thị không), chẳng tham đắm cảnh
trần mộng huyễn, tự tại trước mọi cảnh thịnh, suy, tan,
hợp.
3- Tu tâm làm sao?
Nhà Phật ví Tâm như đất (Tâm địa). Đất ruộng không gieo
trồng lúa, hoa quả, cây trái, bỏ đất trống thì cỏ dại, cây gai sẽ mọc đầy. Cũng vậy, Tâm không tụng kinh, niệm Phật trì chú, tu hành thiện pháp thì cỏ phiền não tham sân si, ích kỷ, dục vọng,…, sẽ mọc đầy trong khoảnh vườn tâm.
Hiểu vậy, hành giả Tịnh độ cần chăm sóc vườn tâm của
mình bằng cách gieo trồng (niệm) Thánh hiệu A Di Đà đầy
ngập tâm địa (tạng thức) mình.
Liên tông Bát Tổ Liên Trì đại sư dạy: “Bí quyết niệm Phật
là NIỆM NHIỀU”.
Trong quyển Niệm Phật Thập Yếu (trang 254), Hòa
Thượng Thiền Tâm nói: “Lúc hành giả khởi niệm, thì mỗi
câu Phật hiệu đều đi sâu vào tạng thức (thức thứ tám), khi sức dồn chứa huân tập đã NHIỀU, tức câu niệm Phật từ nơi tạng thức tự phát hiện ra (khởi hiện hành) trong khi thức hoặc lúc ngủ. Đây gọi là cảnh giới “KHÔNG NIỆM TỰ NIỆM” (Bất Niệm Tự Niệm).
Mà Bất Niệm Tự Niệm, hiện tại giúp cho thân tâm mình
dần dần thanh tịnh, an lạc, giải thoát, mặc khác được bảo
đảm vãng sanh Cực Lạc (Kệ Niệm Phật-Hòa thượng Trí
Tịnh). Vãng sanh Cực Lạc thành Bồ Tát bất thối chuyển,
nhất sanh bổ xứ, một đời thành Phật. Thật Hạnh phúc biết dường nào!!!
Vậy thì, không có lý do gì để mà chần chờ nữa! Chúng ta
phải lập tức hạ quyết tâm cao. Quyết tâm niệm Phật đạt Bất Niệm Tự Niệm, vãng sanh Cực Lạc, thành Phật cứu độ chúng sanh
Câu hỏi 56b: Con thường nghe quý Thầy nói tu Phật là tu
tâm, mà con không biết tâm là gì, ở đâu? Thế nào là vọng
tâm, chơn tâm? Tu sao gọi là tu tâm?
Đáp:
Cám ơn đạo hữu có câu hỏi rất hay. Tuy ngắn gọn nhưng
rất khó trả lời, vì tâm là “cái” trừu tượng, không hình,
không tướng làm sao giải thích “nó” là gì, và chỉ “nó” ở
đâu. Đạo hữu hỏi là tôi phải trả lời.
Tôi sẽ cố gắng trả lời ngắn gọn (vì nói nhiều quá đâm ra điên đầu). Ở đây chúng ta khảo sát lực dụng (hiện tượng) để biết bản thể (bản chất). Ví như chúng ta nhờ thấy sự cháy sáng của bóng đèn, hay sự vận hành của quạt máy mà biết rằng có dòng điện đi qua, chứ chúng ta đâu thấy dòng điện, phải không?
Vì điện không có hình tướng thì làm sao mà thấy, tâm cũng vậy. Kính xin đạo hữu cũng phải cố gắng kiên trì, động não để hiểu nhé!
1- Tâm là gì?
Hằng ngày chúng ta suy nghĩ, phán đoán, quyết định,
thương ghét, vui buồn v. v. . Tất cả những gì thuộc về tinh thần, nhận thức đều gọi là tâm, nhà Phật gọi đó là vọng tâm.
Tâm chủ động, chỉ huy tất cả hành vi tạo tác suốt cả đời
người, và làm cho cuộ đời trở nên hạnh phúc hay đau khổ. Đó là nói tổng quát
Giao ly cua nha Phat rộng sâu nhu, rừng, biển, pháp môn nhiều đến vạn thiên nhưng tất cả đều quy về tâm.sau day se phan tich ky hon Chỉ thuyết minh về tâm thôi mà hình thành một Tông phái gọi là Duy-Thức-Tông hay còn gọi là Pháp-Tướng-Tông.
Với những bộ kinh Đại thừa như Bát Nhã, Thủ Lăng Nghiêm, Lăng Già, Kim Cang… đều luận giảng về tâm.
Theo Duy thức học, Tâm có 8 tâm vương và 51 loại tâm sở.
Tám tâm vương như sau:
1 Nhãn thức hiểu biết bằng mắt.
2 Nhĩ thức hiểu biết bằng tai.
3 Tỷ thức hiểu biết bằng mũi.
4 Thiệt thức hiểu biết bằng miệng, lưỡi.
5 Thân thức hiểu biết bằng toàn bộ phận thân thể.
6 Ý thức hiểu biết bằng ý căn.
7 Mạt Na thức hiểu biết qua sự so đo chấp trước.
8 Tạng thức (Alaya thức) hiểu biết qua sự tàng trữ, bảo trì và xây dựng.
51 loại tâm sở, phân là 6 nhóm như sau:
1 Biến hành tâm sở gồm có 5 loại.
2 Biet Canh tam so co 5 loai
3 Thiện tâm sở gồm có 11 loại.
4 Căn bản phiền não tâm sở gồm có 6 loại.
5 Tùy phiền não tâm sở gồm có 20 loại.
6 Bất định tâm sở gồm có 4 loại.(xin đọc chi tiết ở sách
Duy thức học)
Tâm chỉ huy suốt cả đời sống con người. Thăng trầm, vinh nhục đều do tâm. Biết nhân định chánh tà, chân ngụy (giả) đều do tâm.
Vọng tâm là phần hiểu biết của phàm phu.
Chơn tâm là hiểu biết của Phật.
Phàm phu sống theo vọng tâm tham lam, sân hận, si mê,
ích kỷ, đắm đuối với danh lợi, ái ân, trần cảnh, ngũ dục
(ắc, tài, danh, thực, thùy) của thế gian. Được, còn cảnh
thịnh thì vui. Mất, suy cảnh tàn thì buồn. Buồn vui theo
cảnh, bị động theo duyên trần là vọng Đạt được lý sắc không, chẳng tham đắm cảnh trần mộng huyễn, tự tại trước cuộc đời thịnh suy, tan hợp thì đó là chơn tâm, tức là tâm Phật.
Tâm Phật thì giác ngộ không đắm nhiễm, mê chấp.Tâm Phật thì từ bi, hỷ xả, lợi tha, bình đẳng, tự tại, giải thoát, an nhiên trước cảnh còn mất.Nhận định rõ tâm biết đâu là chơn, là vọng.
Thật sống với chơn tâm là người đã đạt đạo, chứng quả. Tâm địa một khi không còn phân biệt đắm nhiễm duyên trần, mà thể nhập với pháp tánh bao la hòa đồng với vũ trụ, không còn hạn hẹp trong giả tướng còn mất, thịnh suy ấy là chơn tâm.
Chon tam thi tu tai vo ngai, khong con chap truoc, phan biet,nhan nga, day kia, mat, con ,tot xau, thuong ghet…day chinh la tam Phat
Kinh Hoa nghiêm nói: “Tâm, Phật, Chúng sanh tam vô sai
biệt. Mê thị chúng sanh, ngộ tức Phật”. Nghĩa là tâm ta,
tâm Phật và tâm chúng sanh cả ba đều không sai khác. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật
Tâm mê là tâm vọng động. Tâm ngộ là tâm thanh tịnh.
Đủ biết phàm phu tục tử khổ lụy, đọa đày đều do tâm.
Thánh nhân từ bi giải thoát tự tại cũng đều do tâm.
Kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói: “Nhất thiết chúng sanh
giai hữu Phật tánh”. Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Nhưng chúng sanh không thắng nổi dục vọng (lòng ham muốn hư dối, không có thật tánh), không khắc phục được loạn động của phàm tâm, nên tâm bị lu mờ, không hiện bày.
Chẳng khác nào nước biển vốn im lặng, bị gió thổi, chao động mà thành sóng. Chúng sanh, tâm vốn thanh
tịnh mà bị nhiễm ngũ dục thế gian (sắc, tài, danh, thực,
thùy) mà sanh phiền não buộc ràng.
Tâm Phật như trăng sáng, trăng mờ bị mây. Tâm Phật
như guong sáng, gương lu bởi bụi trần. Gió thổi mây bay,
trăng trở lại sáng, Lau sạch bụi thì gương trong. Mây, bụi
có đến đi, còn mất, tánh sáng của trăng, gương muôn đời
vẫn sáng. Không vì mây, bụi mà bản chất sáng của trăng,
gương hoen ố.
Cũng vậy, Phật tâm muôn đời sáng suốt giác ngộ, vẫn tồn tại nơi chúng sanh. Nhưng chúng sanh mê chấp, lại giong ruổi theo dục tình (buồn giận, thương ghét…), trần cảnh (thịnh suy, còn mất,…) mà quên đi Phật tâm nơi mình, giong ruổi truy cầu, không trở về sống lại với bản tâm, Phật tánh thường tại nơi mình.
Như đứa con nghe lời dụ dỗ của bạn ác (dục tình, trần cảnh) bỏ cha mẹ ra đi sống lang thang thành kẻ cùng tử. Như đứa trẻ được cha mẹ giấu ngọc (chơn tâm Phật tánh) trong vạt áo mà không biết, lại đi ăn xin đầu đường xó chợ.
Cũng vậy mỗi chúng sanh đều có chơn tâm Phật tánh nơi minh nhung khong chịu sống với Phật tâm chơn tánh, để được tự tại giải thoát an vui, mà lại đắm đuối chạy theo vọng thức, bị ngũ dục ái ân, danh lợi, tình đời cuốn lôi nhận chìm, trầm luân khổ hải muôn kiếp không dứt.
Đức Phật thương xót kiếp trầm luân của muôn loài, nên
Ngài thốt ra lời tâm nguyện trong kinh Pháp Hoa: “Ta ra
đời vì một đại sự nhân duyên lớn.
Đó là khai mở chỉ bày cho chúng sanh thấy rõ Phật tánh, chơn tâm để ngộ nhập tri kiến Phật của chính mình”. Nên Đức Phật đã dành suốt 49 năm cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, thức tỉnh người đời giác ngộ, để quay về chơn tâm Phật tánh của chính mỗi người.
Chúng sanh vì đắm mê ngũ dục, sống theo vọng thức, tham lấy cái giả, mà đành xa lìa chơn tâm, bỏ đi cái thường lạc tự tại, nên phải vùi sâu kiếp kiếp trầm luân.
Tóm lại, nói một cách ngắn gọn là: Tất cả sự nhận thức
phân biệt hàng ngày của ta là hình bóng của tâm hay là
vọng tâm. Chừng nào đối với ngũ dục lạc (sắc, tài, danh,
thực, thùy) không sanh tâm đắm nhiễm, không vui buồn
phiền khổ theo sự thịnh suy, mất còn, vinh nhục… (trần
cảnh), ấy là chơn tâm. Hay nói cách khác không mê chấp là chơn tâm.
2- Tâm ở đâu?
Trong kinh Lăng Nghiêm, A Nan Tôn Giả đã bao phen
bối rối khi Đức Phật hỏi tâm ở đâu? Đủ thấy tâm mật ảo vi diệu đến là dường nào.
Chân tâm không hình, không tướng nhưng rộng khắp hư không, trùm khắp pháp giới.
Vì không hình, không tướng nên không thấy Tâm ở đâu.
Vì rộng khắp hư không, trùm khắp pháp giới nên chỗ nào
cũng có Tâm (tâm ở khắp mọi nơi).
Chư Tổ nói: Ta Bà ở trong tâm ta. Cực Lạc cách đây
mười vạn ức cõi Phật vẫn ở trong tâm ta. Tuy thân sống ở Ta Bà mà tâm hiện có mặt ở Cực Lạc (duy tâm Tịnh độ),
do vậy vãng sanh không khó, trong nháy mắt là đến Cực
Lạc.
3- Tu sao gọi là tu tâm?
Tu là sửa. Tu tâm là sửa (chuyển hóa) vọng tâm trở về chơn tâm, hầu mau giác ngộ giải thoát.
Mỗi Tông phái có cách tu khác nhau. Tịnh độ tông thì tu
như sau:
Chư Tổ dạy miệng niệm Phật tâm phải có Phật, nghĩa là
tiếng ở đâu tâm phải ở đó, tâm tiếng khắn nhau.
Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm
nối tiếp, đắc Tam Ma Địa (Nhất Tâm Bất Loạn). Đây là bậc
nhất”.
Kinh Di Giáo dạy: “Tâm là chủ năm căn. Thế cho nên
các ông phải khéo chế ngự tâm. Tâm thật đáng sợ, đáng sợ hơn cả rắn độc, thú dữ, giặc cướp, lửa to”.
Nhiếp trọn sáu căn là mắt tai mũi lưỡi thân ý không dính mắc sáu trần là sắc thinh hương vi xúc pháp, nhờ vậy mà sáu căn không bị nhiễm ô, đây là chế ngự tâm, nên tâmđược thanh tịnh.
Gìn giữ tâm ý một ngày phước đức vô lượng như kinh
Mạ Ý dạy: “Làm trăm ngôi chùa Phật không bằng làm sống một người. Làm sống người trong mười phương thiên hạ không bằng gìn giữ tâm ý một ngày”.
Tịnh niệm nối tiếp thì vọng niệm, vọng tưởng không
khởi lên được, thế là tâm được thanh tịnh.
Như trên đã nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh
nhưng bị dục vọng và loạn động che mờ, nên Phật tánh
chơn tâm không thể hiện bày. Niệm Phật, một lần xưng
danh hiệu Phật là một lần đánh thức Ông Phật tự tánh của chính mình và nhờ công đức oai thần của Thánh hiệu giúp cho thân tâm hành giả dần dần thanh tịnh (kinh Niệm Phật Ba La Mật).
Tổ thứ chín Ngẫu Ích đại sư dạy, hành giả niệm Phật là tu
Tam vô lậu học (Giới Định Huệ) và tu Lục độ (Bồ Tát
hạnh) như sau:
Người chơn niệm Phật:
1. Buông bỏ cả thân tâm thế giới là đại bố thí;
2. Không còn khởi tâm giận mê là đại trì giới;
3. Không so đo phải quấy hơn thua là đại nhẫn nhục;
4. Không gián đoạn xen tạp là đại tinh tấn;
5. Không để vọng tưởng buông lung là đại thiền định;
6. Không bị đường lối khác làm mê hoặc là đại trí huệ.
Đây cũng là pháp tu giúp tâm được thanh tịnh. Mà Tâm
thanh tịnh thì chơn tâm Phật tánh hiển lộ, vãng sanh
Thượng Phẩm.
Câu hỏi 57: Thời Chánh Pháp, Tuợng Pháp, và Mạt Pháp.
Kính xin Thầy từ bi giải thích cho con rõ thế nào là thời
Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp?
Đáp:
Trong Pháp Hoa Nghĩa Sớ, ngài Gia Tường đã viết: “Phật
tuy đã nhập diệt, nhưng pháp nghi chưa bị biến đổi, thì gọi
là thời Chánh pháp. Phật nhập diệt đã lâu, giáo pháp sai lạc
dần, thì gọi là thời Tượng pháp. Dần dần chuyển thành
càng kém hơn nữa thì gọi là thời Mạt pháp”.
Bản sớ giải kinh Nhân Vương Hộ Quốc của ngài Thanh
Long cũng có câu: “Có giáo, có hạnh, có người chứng quả,
thì gọi là Chánh pháp. Có giáo, có hạnh, không người
chứng quả thì gọi là Tượng pháp. Chỉ có giáo, không hạnh,
không người chứng thì gọi là Mạt pháp”.
Về thời gian của các thời Chánh pháp, Tượng pháp, Mạt
pháp, các kinh cũng nói sai khác. Ða số các vị cổ đức chấp
nhận thuyết: Chánh pháp là năm trăm năm sau khi Đức
Phật nhập diệt, Tượng pháp lâu một ngàn năm sau đó và,
Mạt pháp là một vạn (10.000) năm (thuyết Mạt pháp lâu
đến một vạn năm là như trong kinh Ðại Bi nói). Như vậy,
ta có thể ước chừng rằng, Phật pháp chỉ còn tồn tại khoảng hơn tám ngàn năm nữa
Câu hỏi 58: Tự Phật và Tha Phật là ai?
Kính xin Thầy từ bi giải thích cho con rõ Tự Phật và Tha
Phật là ai? Sự liên hệ giữa hai vị Phật này?
Đáp:
Tự Phật là vị Phật của tự tánh. Tha Phật là vị Phật khác
– Kẻ mê thấy có Tự Phật và Tha Phật, hai vị Phật khác
nhau.
– Người ngộ (có trí Bát nhã, thấu rõ chân đế) thì Tự Tha
đều là hý luận, (đều là không)
– Khi Tự-Tha chỉ là một (tự tánh Di Đà), Phật, ta cùng mất
hết, thì mới thật sự là thấy Phật! Lúc ấy, Phật luôn trong
tâm tưởng ta, ta luôn trong tâm tưởng của Phật, hết thảy chỉ là một thể.
– Tự cũng chính là Tha, Trọn khắp pháp giới. Ai
đạt đến đây mà niệm Phật thì tự tại vãng sanh.tha cũng chính là Tự, chẳng hư, chẳng thật, chỉ là một Chân Như
Câu hỏi 59 Tạp Tu và Chuyên Tu
Kính bạch Thầy, như trong sách Thầy có nói về Chánh
hạnh niệm Phật, không nên xen tạp, như hàng ngày công
khóa sáng tối của con như sau: 7 biến Chú Đại Bi, kế đến
niệm Phật 1 tiếng, kế đến 1 biến Bát Nhã Tâm kinh, và kếđến 7 biến Chú Vãng Sanh, và sau cùng là hồi hướng. Nvậy có được xem là chuyên tu, hay phải cắt bỏ luôn về việc niệm Chú?
Đáp:
Như vậy là tạp tu rồi, bởi những lý do sau:
1- Tụng Chú Đại Bi và Bát Nhã Tâm kinh không phải là
Chánh hạnh mà là Tạp hạnh. Hãy đọc Tuyển Trạch Bổn
Nguyện Niệm Phật Tập tác giả Pháp Nhiên Thượng Nhơn
(Chương hai – Hai hạnh). Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư dạy:
“Tạp tu ngàn người tu may ra có vài người vãng sanh;
Chuyên tu vạn (10.000 nguoi tu, van nguoi vang sanh
2- Tụng Chú Đại Bi, Bát Nhã Tâm kinh và chú Vãng Sanh
là BỊ xen tạp và gián đoạn rồi. Hòa thượng Đức Niệm
dạy: “Nấu nước sắp sôi tắt lửa để nguội, tiếp tục nấu nước sắp sôi tắt lửa để nguội v.v… nấu như vậy suốt đời nước vẫn không sôi.
3- Ngài Lý Bỉnh Nam là thầy của Pháp sư Tịnh Không nói:
“Câu Nam Mô A Di Đà Phật hay A Di Đà Phật là vua trong
các chú” (Tuyết Hư Lão Nhơn Tịnh Độ Tuyển Tập). Như
vậy đâu cần trì chú vãng sanh để mắc lỗi “Bị xen tạp bị
gián đoạn”.
4– Niệm Phật phải niệm không xen tạp không gián
đoạn, đậy là bí quyết của Tịnh độ tông, đã được Đức Thế
Tôn và chư Thầy, Tổ dạy:
.Kinh Lăng Nghiêm: “Nhiếp trọn sáu căn tịnh niệm nối
tiếp, đắc Tam Ma Địa bậc nhat
Van Thu Su Loi Bo tat , Nhi To Thien Dao ,Thap Nhat to Tĩnh Am, Thập nhị tổ Triệt Ngộ đại sư đồng dạy như thế
(Hương Quê Cực Lạc).
Pháp sư Tịnh Không đã dạy và thường nhắc nhở Phật tử, bạn đồng tu như thế.
Minh Tuệ thì “Y giáo phụng hành”.
Kính mong đạo hữu sáng suốt nhận định, cương quyết hành trì đúng theo sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn, chư Thầy Tổ, hầu sớm đạt Bất Niệm Tự Niệm, bảo đảm Vãng Sanh, một đời thanh Phat
Câu hỏi 60: Tu sao để Tâm được thanh tịnh?
Bạch Thầy, tu sao để tâm được thanh tịnh, thưa Thầy?
Đáp:
Tâm thanh tịnh là tâm tịch tịnh nghĩa là vắng lặng, dứt hết
phiền não, không còn cấu nhiễm. Muốn được vậy phải tu
tâm bình đẳng, nghĩa là không còn thấy giỏi dở, cao thấp,
sang hèn, giàu nghèo. Muốn được bình đẳng thì phải dứt
trừ tâm Phân biệt, cái thấy hai bên (Nhãn kiến nhị nguyên), so sánh ta người, có không, thiện ác, đẹp xấu, lớn nhỏ, rộng hẹp, hơn thua, phải quấy. Muốn không phân biệt thì đừng chấp trước. Chấp trước do vọng tưởng sanh. Dứt trừ vọng tưởng không gì hơn niệm Phật. Vậy pháp tu đơn giản, dễ hành mà kết quả nhanh chóng là niệm Phật, niệm Phật thuần thục liền thành tựu tâm thanh tịnh.
Kinh Niem Phat Ba La Mat noi ; Neu co chung sanh nao chi thanh xưng niệm danh hiệu A-di-đà Phật, thì uy lực bất khả tư nghì của danh hiệu khiến cho tâm thể thanh tịnh mà chúng sanh ấy không hề hay biết”.
Trich Sach La Thu Cuc Lac
Thich Minh Tue



