362.Trích Dẫn Tây Phương Xác Chỉ Của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát
Nếu niệm Phật chẳng thể nhất tâm thì chỉ dứt ý tưởng lo cầu đắc định, cứ từ từ niệm, cốt sao tiếng hợp với tâm, tâm nương theo tiếng.
Niệm lâu ngày, tự được các niệm lặng trong, tâm cảnh tuyệt chiếu, chứng nhập Niệm Phật Tam Muội. Nhưng thường ngày cần phải niệm cho nhiều, từ ngàn niệm đến vạn niệm. Tâm không gián đoạn thì căn khí mới dễ thành thục nhất. Nếu cưỡng ép tâm chuyên nhất thì trọn chẳng chuyên nhất nổi. * Kệ rằng: Nói ít một câu chuyện Niệm nhiều một câu Phật Ðánh chết được vọng niệm Pháp thân ngươi hiển lộ *
Tâm hành xứ diệt là chơn tâm thường trụ của chư Phật. Tâm hành xứ hữu là nghiệp tâm sanh tử của chúng sanh, chẳng có kẽ hở bằng tơ tóc. Nếu các ông có thể miên mật gia công, khiến cho cái tâm này không chút hở trống thì mới được tương ưng đôi phần.
Ðừng tu sơ sài nửa năm, mười tháng rồi tự cho là mình đã khổ tâm tu đạo, chẳng biết rằng đấy chính là điều chướng đạo, cần phải dè chừng. Hơn nữa, dẫu gia công tu tập mạnh mẽ nhưng nếu chưa đạt đến mức như tường đồng, vách sắt, đẩy chẳng đổ, dời chẳng lay thì vẫn chưa tạo thành một phiến [nhất tâm], chớ nên thấy có chút ảnh hưởng đã ngừng tay.
Ấy là nửa đường bỏ dở, đến nỗi phí hết công lao khi trước, chẳng lợi ích mảy may. Ðây chính là căn bịnh lớn của người học đạo, các ông chẳng nên không biết! Cần phải biết rằng: Phật pháp như biển cả, càng vào bên trong càng thấy sâu, dứt khoát chẳng thể dùng chút tri kiến nhỏ nhoi hòng lãnh hội được hết nổi. Phải tu tập suốt đời, gắng hết sức tu tập, đừng nghĩ là dễ dàng. * Niệm Phật Tam Muội là từ đại thế lực nơi tâm ông tạo thành chứ chẳng phải là do cái khác mà có.
Nay các ông niệm Phật suốt ngày đêm vẫn chẳng được nhất tâm, loạn tưởng vẫn còn cách trở chơn tâm đều là vì chưa tận lực dụng tâm. * Tâm vốn vô niệm, hễ niệm thì tưởng sanh. Tưởng ấy hư vọng, lưu chuyển sanh tử. Nên biết: Một câu A Di Ðà Phật đây chẳng từ tưởng sanh, chẳng từ niệm có; chẳng trụ vào trong hay ngoài; chẳng có tướng mạo thì các vọng tưởng chấm dứt.
Thân thanh tịnh vi diệu chơn thật của Như Lai chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng thể phân biệt. Niệm như thế thì phiền não trần lao liền chẳng đoạn, chẳng trói, chỉ là nhất tâm. Phải đạt nhất tâm mới gọi là chấp trì danh hiệu, mới gọi là nhất tâm bất loạn, Tịnh nghiệp thành tựu,
chứng ngay vào thượng phẩm. Phàm phu đời trược tâm trí cạn cợt, kém cỏi, chưa thể thâm đạt chí lý nên phát đại nguyện, nguyện sanh về Cực Lạc. Sau đó, chí thành khẩn thiết xưng niệm A Di Ðà Phật sao cho tiếng niệm duyên theo tâm, tâm duyên theo tiếng, tiếng và tâm nương dựa lẫn nhau như mèo rình chuột, lâu ngày chẳng mất thì nhập chánh ức niệm tam muội.
* Người tu Tịnh nghiệp: đi, đứng, nằm, ngồi, đứng lên, ngồi xuống, ăn uống đều nên hướng về phương Tây thì sự cơ cảm dễ thành, căn cảnh dễ thuần thục. Trong thất chỉ bày một tượng Phật, một quyển kinh, một lò hương, một cái bàn, một cái giường, một cái ghế, chẳng được bày nhiều thứ khác. Trên sân cũng quét dọn thanh tịnh để đi kinh hành không trở ngại gì.
Cần giữ cho tâm này chẳng vướng bận mảy may gì, quên hết muôn mối lo, trống rỗng, chẳng biết có thân, chẳng hay có đời, cũng chẳng biết việc mình đang làm ngày nay làđạo, ngày càng cách xa đời, mới xu hướng Tịnh nghiệp được. Lúc bình thời ông đã có thể buông bỏ sạch hết thảy sự, trong ý niệm co việc tu hành.
Ðược vậy thì ngày càng gần với hẳng còn chút vướng mắc nào thì khi đại hạn xảy đến, thanh thản, thảnh thơi, chẳng có ý tưởng lưu luyến con cái, nuối tiếc tấm thân, con cháu, há chẳng phải là hành vi của bậc đại trượng phu ư?
Bởi vậy, ông nên nhất ý tu hành, chẳng còn dính mắc điều gì khác nữa. Ðó chính là điều then chốt nhất. Còn như cách thức Tịnh tu thì chẳng ngoài hai chữ ‘chuyên cần’. Chuyên là chẳng làm chuyện gì khác. Cần chẳng bỏ uổng lúc nào. Nay ông sáng dậy liền tụng một quyển kinh Di Ðà, trì một ngàn câu A Di Ðà Phật, đối trước Phật hồi hướng, niệm bài Nhất Tâm Quy Mạng vì bài này lời lẽ giản dị nhưng ý nghĩa súc tích
Ðấy chính là công khóa trong một thời. Nếu như lúc sơ khởi, thân tâm còn chưa yên thì mỗi ngày chỉ hành trì bốn thời. Ðã hơi yên thì dần dần tăng đến sáu thời, lại tăng dần đến mười hai thời: tụng được mười hai quyển kinh, niệm danh hiệu Phật một vạn hai ngàn tiếng. Trong lúc hồi hướng lại lễ Phật trăm lạy, cũng có thể chia làm bốn thời.
Ðấy là thường khóa mỗi ngày. Những lúc khác chẳng cần tính vô số ấy. Dù niệm thầm hay niệm ra tiếng đều phải nhiếp tâm niệm chắc chắn mà thôi… Trong pháp trì danh, cần phải mỗi câu mỗi chữ, tâm và tiếng phải nương theo nhau, chẳng được xen tạp mảy may ý niệm thế tục. Lâu ngày thành thục, quyết định được vãng sanh Cực Lạc, ngồi trên hoa sen báu, đạt lên địa vị Bất Thối
Nếu năm tháng tuổi già chưa hết, do ông đã chứng đắc như thế, ông sẽ dạy dỗ đại chúng hòng báo ân sâu của Phật. * Khi tụng kinh phải đều đặn, bình tịnh, đừng hoãn đãi, đừng gấp gáp, chẳng nhanh, chẳng chậm. Niệm Phật cần phải từng tiếng ứng theo tâm, chẳng thô tháp, chẳng lao chao, chẳng hư phù, chẳng trầm trệ mà niệm.
Ðến lúc hồi hướng, chẳng phải là tụng bản văn Hồi Hướng một lượt là xong, mà phải từ trong tâm mình phát ra lời nguyện Ðại Bồ Ðề chơn chánh, chí thành khẩn thiết, nguyện khắp hết thảy chúng sanh cùng vãng sanh Cực Lạc, nhưng tâm mình chẳng chấp trước hệt như hư không.
Ðấy gọi là hồi hướng. Lại khi tịnh tọa, nên phản quán thâm cứu: Phật chính là tâm ta, tâm này là Phật, chẳng cần phải cầu tự bên ngoài, đúng như tâm mà trụ, không năng, không sở. Quán sát đúng đắn, chắc chắn như thế không còn có niệm khác thì gọi là tu hành tam muội.
Cẩn thận chớ quên mình, tâm nguội lạnh như đã chết, kẻo lại lạc vào tri kiến của ma tà ngoại đạo. Ngồi tịnh tọa một thời như vậy xong liền đứng dậy đi kinh hành, rồi lại trì tụng theo thứ tự. Nếu cứ gấp gấp gáp gáp làm liền một hơi, cho là đã hoàn tất khóa tụng của một ngày nhưng rốt cục thành ra tụng niệm cẩu thả, chẳng phải là tu hành chơn chánh vậy.
Ðại để, người học đạo chẳng tuân lời tri thức răn dạy thì nhất định sẽ nhọc nhằn nhưng vẫn vô ích, chưa được lâu đã nản. Cẩn thận, cẩn thận!
Thêm nữa, đối với những thứ chánh báo, y báo trang nghiêm cõi Tịnh Ðộ được giảng trong các kinh, ông phải giảng, tụng minh bạch. Giả sử lúc tịnh tọa hoặc kinh hành hoặc khi lễ tụng, nếu như Tịnh Ðộ hiện tiền thì hiểu biết rành rẽ, chẳng bị dị cảnh mê hoặc
. * Phàm hết thảy tướng nhân ngã, tướng danh lợi, tướng sân hỷ v.v… trong thế gian chẳng phải chỉ phát xuất từ nơi thân, mà nó phát xuất từ lưới trần dằng dặc từ trước. Hễ tâm vướng mắc đôi chút liền tạo thành nhân duyên chướng đạo. Ông cần phải hiểu rõ như thế!
Ông chỉ cần thân lễ A Di Ðà Phật, miệng tụng A Di Ðà, tâm niệm A Di Ðà, chẳng hề có chút mảy may ý niệm nào khác liền sạch làu trần cấu, xé nát lưới trần, sanh về cõi Cực Lạc. * Nếu lo thân mình bị ràng buộc trong lưới rập thế sự, ý niệm chẳng được thanh tịnh thì chỉ cần phát nguyện xa lìa, cầu giải thoát, đem tâm khăng khăng quy hướng thế giới Cực Lạc gặp Phật A Di Ðà thay cho cái tâm bon chen danh lợi liền có thể dứt trần lao, bước trên đường giác.
* Nói chung, người tu Tịnh Ðộ kỵ nhất là xen tạp. Thế nào là xen tạp? Tức là vừa tụng kinh, vừa trì chú, vừa kết hội, lại ưa nói đôi chút về sự khẩn yếu của Thiền, lại ưa bàn những chuyện cát hung, họa phước, thấy thần, gặp quỉ. Ðấy chính là xen tạp. Ðã xen tạp thì tâm chẳng chuyên nhất. Tâm chẳng chuyên nhất thì khó thấy Phật vãng sanh, phí uổng cả một đời. Nay ông chớ nên làm như thế, chỉ khẩn thiết trì một câu A Di Ðà Phật, cầu sanh về Cực Lạc.
Lâu ngày công hạnh thành tựu, mới là chẳng sai lầm vậy. * Có bịnh vẫn còn chưa chết thì nên dứt mọi buộc ràng, an tâm đoan tọa, niệm thân vô thường, niệm thế vô thường. Tất cả vọng duyên buông bỏ xuống hết, từ từ niệm một câu A Di Ðà Phật, tự nhiên lục trần chẳng sanh, nhất tâm thanh tịnh thì chẳng những lành được căn bịnh trong đời này mà căn bịnh sanh tử cũng nhờ đó được dứt khỏi.
Nhận định:
Bồ Tát minh thị: Cách thức tu hành chẳng ngoài hai chữ: Chuyên là chẳng làm việc nào khác, Cần là chẳng hề bỏ uổng lúc nào, lâu ngày thành thục, quyết định được sanh về Cực Lạc.
Ðủ thấy: nếu có thể đem cái tâm quy hướng Cực Lạc đánh đổi cái tâm bon chen danh lợi, buông xuống vạn duyên, nhiếp tâm niệm nhiều thì dần dần sẽ nhập Niệm Phật Tam Muội, lâm chung quyết sanh Cuc Lac
Trich Sach Niem Phat Phap Yeu
Thich Minh Tue



