423.Van Dap Tịnh Độ 52
Câu hỏi 111: Chọn Pháp Tu. Con vừa mới thọ tam quy ngũ giới, con muốn được sớm giác ngộ giải thoát, vậy con phải chọn pháp tu như thế nào? Và pháp môn nào dễ tu dễ thành đạt nhất, thưa thầy? Đáp: 1- Trong bảy phần tiến tới Giác Ngộ (Thất Giác Chi) Đức Phật dạy chọn pháp tu (trạch pháp) đứng hàng đầu. Mục đích tu học Phật là gì? Là lìa khổ được vui. Phải gấp rút rốt ráo lìa khổ, và phải gấp rút được cái vui cứu cánh, cái vui viên mãn. Muốn được vậy phải chọn pháp tu khế hợp (tương ưng; khế lý khế cơ) với: Căn tánh của chính mình Trình độ của chính mình Hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình Nguyện vọng của chính mình.
2- Niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ là pháp dễ tu, dễ chứng và mau thành đạo quả nhất. Phần 1: Vấn Đáp – Mục B : Niệm Phật Vãng Sanh 99 Phật giáo Trung Hoa và Việt Nam có mười Tông phái như sau: Luật Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Pháp Tướng Tông, Mật Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông, Tam Luận Tông, Câu Xá Tông, Thành Thật Tông. Hiện nay chỉ còn ba Tông Phái thịnh hành là: Tịnh Độ Tông, Thiền Tông và Mật Tông. Thiền Tông và Mật Tông chủ trương hành pháp tự lực nghĩa là tự dùng sức của chính mình để tu để tự chứng đắc. Tịnh Độ Tông hành pháp nhị lực (tự lực cộng thêm tha lực) nghĩa là ngoài sức của chính mình được cộng thêm sức gia trì của Phật A Di Đà và chư Phật trong mười phương. Kinh Đại Tập dạy: “Thời mạt pháp ức ức người tu hành, hiếm có người đắc đạo duy nhờ pháp niệm Phật (Tịnh độ Tông) mới thoát sanh tử (giải thoát)”. Tượng Pháp Quyết Nghi kinh dạy: “Sau khi Phật diệt độ là thời Chánh Pháp trong năm trăm năm trì giới kiên cố (thành tựu).
Thời Tượng Pháp một ngàn năm kế tiếp thiền định kiên cố. Sau đó thời Mạt pháp một muôn năm niệm Phật kiên cố”. Đức Thế Tôn nhập niết bàn đã hơn hai ngàn năm trăm năm mươi tám (2.558) năm. Như vậy chúng ta đi vào thời mạt pháp hơn một ngàn năm rồi, mà càng đi sâu vào thời mạt pháp thì căn cơ, đức trí chúng sanh càng thấp kém, nên tu các pháp môn khác lại càng khó chứng đắc.
Tổ thứ mười ba Ấn Quang đại sư dạy: “Chín pháp giới chúng sanh lìa pháp môn này (Tịnh Độ) thì trên chẳng viên thành Phật đạo. Mười phương chư Phật bỏ pháp môn này (Tịnh Độ) thì dưới chẳng thể lợi quần sanh”. Lá Thư Cực Lạc – Thích Minh Tuệ 100 Đức Thế Tôn dạy: “Mười phương chư Phật đều do niệm Phật mà thành Phật”
. Pháp môn Tịnh độ khế lý khế cơ (khế hợp, tương ưng) cho cả ba căn thượng, trung, hạ, là pháp môn dễ tu dễ chứng (dị hành đạo) nhất trong hết thảy pháp môn. Chư Tổ dạy: “Pháp môn Tịnh độ là con đường tắt trong tất cả các pháp môn, mà niệm Phật cầu vãng sanh là con đường tắt trong pháp môn Tịnh độ, vậy thì niệm Phật cầu vãng sanh là con đường tắt trong đường tắt.
Tại sao dám nói như vậy? Vì “Niệm Phật vãng sanh một đời thành Phật”! Còn tu các pháp môn khác phải trải qua ba đại a tăng kỳ kiếp mới thành Phật đạo (hãy đọc sách Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh). Câu hỏi 18: Thối chuyển Tâm. Sao có một số người niệm Phật tinh tấn lắm, công phu có vẻ đắc lực lắm nhưng rốt cuộc thối tâm bỏ niệm Phật, vậy là do nguyên nhân gì?
Đáp: Nói chung người tu phải có trí tuệ, ý chí và nghị lực. Hành giả Tịnh Độ phải có đầy đủ ba món tư lương đó là Tín (trí huệ), Nguyện (ý chí) và hạnh (nghị lực). a) Trí huệ: Hành giả phải học để hiểu rõ luật nhân quả, thông suốt đạo lý của niệm Phật, biết phương pháp hành trì, biết cách đối trị, khắc phục và chịu đựng những chướng duyên, lại biết được công đức, lợi ích của sự niệm Phật, biết rành rẽ nỗi khổ của Ta Bà niềm vui nơi Cực Lạc.
Từ đây phát khởi niềm tin sâu xa (chánh tín) vào pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh. b) Ý chí: Trên bước đường tu tập, sau khi có niềm tin vững chắc rồi, phải lập nguyện, là chí thành, khẩn thiết nói lên sự khát khao, ao ước của mình, là quyết đời này vãng sanh Cực Lạc thành Phật độ chúng sanh.
Đây là lời thề, mà thề thì phải bền tâm vững chí gìn giữ, dù cho vật đổi sao dời, dù cho núi tan biển cạn, dù cho mất mạng, lời nguyền này quyết không thay đổi. Tâm bất biến, giữa dòng đời vạn biến (ý chí). c) Nghị lực: như người tìm của báu, đã biết nơi chốn, đã nắm bản đồ trong tay, giai đoạn chót là phải cất bước lên đường, cũng vậy hành giả Tịnh độ đã Tin sâu, nguyện thiết thì phải hành chuyên.
Hành giả nỗ lực tinh tấn hành trì, kiên định lập trường không dao độn mọi cám dỗ của Tông phái khác hay tà ma ngoại đạo, sẵn sàng chấp nhận mọi gian lao, nguy khốn, cuối cùng vượt qua mọi nội ngoại, minh ám…. khảo (đọc câu đáp 83-84 Phần thực hành, sách Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp). Quyết tâm chế phục phiền não, sang bằng, đột phá mọi chướng duyên, quyết hạ thủ công phu đến nơi đến chốn, (tối thiểu là đạt Bất Niệm Tự Niệm) như người leo núi quyết phải lên tới đỉnh.
Tóm lại, kẻ bỏ cuộc giữa đường vì thiếu trí huệ, ý chí và nghị lực (Tín, Nguyện, Hạnh). Lá Thư Cực Lạc – Thích Minh Tuệ 102 Câu hỏi 19: Bình Đẳng Tiếp Dẫn Trong đĩa DVD Tiếp dẫn vãng sanh bằng cách nào? Thầy nói Đức Phật bình đẳng tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc quốc, như vậy mọi người niệm Phật đều được vãng sanh phải không thưa Thầy? Đáp: Đúng vậy! Đức Phật A Di Đà từ bi bình đẳng tiếp dẫn mọi chúng sanh vãng sanh Cực Lạc quốc với điều kiện trước giờ phút lâm chung niệm danh hiệu Ngài.
Hành giả đương thời dù mỗi ngày niệm mấy chục ngàn câu Phật hiệu, mà trước giờ phút lâm chung, không niệm danh hiệu Ngài, Ngài cũng không tiếp dẫn vì không đúng bổn nguyện của Ngài. – Sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh có nêu rõ tám trường hợp điển hình khiến hành giả giờ phút cuối cùng cuộc đời không niệm được danh hiệu Ngài, nên mất phần vãng sanh (hãy đọc tiểu mục lý do không vãng sanh trong sách này).
– Mặt khác, kinh nói có ba loại người không thể vãng sanh được: 1. Loại thứ nhất là tham sự hưởng thụ thế gian. 2. Loại thứ hai là thế trí biện thông, tà kiến thâm trọng. 3. Loại thứ ba là thủ tướng phân biệt, tình chấp sâu nặng. Vì sao ba loại người này không thể vãng sanh 1. Tham sự hưởng thụ thế gian.
Hạng người này không nhận thức được Ta Bà là vô thường, là khổ. Về Cực Lạc là siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, vĩnh viễn khổ não, hưởng khoái lạc tột cùng. Họ còn đắm mê dục lạc giả tạm của thế gian, nên không tu Tịnh độ. Dù có tu cũng lấy lệ mà thôi. Do đó trước giờ phút lâm chung họ còn đắm luyến Ta bà không niệm Phật được, nên không thể vãng sanh.
2. Thế trí biện thông, tà kiến thâm trọng. Hạng người này dựa vào sư hiểu biết thế gian, cống cao ngã mạn, không tin Phật pháp, bài bát luật nhân quả, nên họ không tu Tịnh độ. Do đó trước giờ phút lâm chung họ không niệm Phật được nên không thể vãng sanh.
Tình chấp sâu nặng nên bị dây ái dục trói buộc nên không vãng sanh được. Đức Thế Tôn nói thế là để cảnh giác, răn đe chúng ta đừng sa vào ba loại người này. Trước giờ phút lâm chung, được thiện trí thức khai thị, họ tỉnh ngộ, hồi đầu sám hối, xưng danh hiệu Phật A Di Đà, thì lập tức được Ngài từ bi tiếp độ. Nếu nói đến cách tiếp dẫn bằng hào quang, thì khi họ phát âm thanh danh hiệu Phật, tâm thanh này hòa nhập vào hào quang Phật, liền được tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.
Câu hỏi114 : Sám Hối và Niệm Phật. Con mỗi tháng đến chùa lạy Hồng Danh Sám hai lần vào ngày rằm và ba mươi âm lịch. Thỉnh thoảng đi lạy Thủy sám, Lương Hoàng Sám. Thế mà không hiểu tại sao con Lá Thư Cực Lạc – Thích Minh Tuệ 104 luôn gặp những điều bất như ý. Vậy kính xin Thầy chỉ dạy con bây giờ phải làm gì?
Đáp: 1- Đức Phật dạy từ vô thủy đến nay chúng sanh tạo vô lượng tội. Nếu những tội đó có hình tướng thì cả hư không, chứa cũng không hết. Sám hối phải đúng nghĩa, như pháp mới tiêu trừ được tội chứ không phải lạy nhiều mà hết tội đâu. Sám hối là ăn năn tội cũ, gngăn ngừa tội mới, thề, quyết không tái phạm. Chứ tuần này phát lồ sám hối, hôm sau tánh nào tật nấy, lại tái phạm, tuần sau lại phát lồ sám hối. Sám hối cách này, vô ích, tội chẳng tiêu mà ngày càng nhiều.
2- Luôn gặp những điều bất như ý. Đây là thuộc nhân quả, dịp khác tôi sẽ góp ý với đạo hữu. 3- Sau đây tôi sẽ trích dẫn lời Đức Thế Tôn, chư Thầy, Tổ dạy: a) Sám hối Kinh Tăng Nhất A Hàm: Làm hành động cực ác, biết hối hận thì thành nhỏ nhẹ. Ngày ngày sám hối không biếng nhác, như vậy có thể tẩy trừ tội căn của mình. Kinh Pháp Cú: Việc gì đã tạo, sau đó tự lãnh. Làm ác mà biết tự sửa, như khoan ngọc châu cứng. Kinh Tứ Thập Nhị Chương: Người có nhiều lỗi mà không tự ăn năn. Phút giây ngừng tâm sám hối thì tội lỗi liền đến thân. Như nước chảy về biển dần dần thành sâu rộng. Nếu người có tội lỗi tự rõ biết mình là quấy, cải ác làm lành, tội tự tiêu diệt. Như người bệnh được xuất mồ hôi, bệnh dần dần thuyên g[am
Kinh Đại Tập: Như áo dơ trăm năm, một ngày nào đó đem giặt thì được sạch sẽ. Như thế trong trăm ngàn kiếp đã tạo các nghiệp chẳng lành, dùng lực Phật pháp, khéo thuận suy nghĩ, một lúc nào đó trong ngày được tiêu diệt hết tội. Kinh Pháp Cú: Phạm lỗi mà chẳng phải ác, nếu biết hay truy vấn ăn năn là thiện. Đó là ánh sáng chiếu thế gian, như mặt trời không mây. Kinh Vị Tằng Hữu: Tâm trước làm ác như mây che mặt trời. Tâm sau khởi lành, như được tiêu trừ tăm tối. Kinh Tứ Thập Nhị Chương: Có ác mà biết chẳng phải, cãi đổi lỗi lầm thì được thiện, tội ngày được tiêu diệt, về sau được đắc đạo. Kinh Nghiệp Báo Sai Biệt: Nếu người tạo tội nặng mà biết thâm thiết tự trách mình, sám hối không tạo trở lại nữa, như thế có thể nhổ trừ hết gốc nghiệp. Kinh Niết Bàn: Thí như có ngàn cân hoa màu sắc như vàng, chẳng bằng một lượng vàng thật. Làm tội tuy nhiều chẳng bằng ít đức. Kinh Tâm Địa Quán: Nếu như pháp mà sám hối thì tất cả phiền não đều tiêu trừ. Cũng như lửa kiếp làm họa thế gian, thiêu đốt núi Tu di luôn biển cả. Sám hối có thể thiêu đốt rừng phiền não. Sám hối có thể sanh về cõi Thánh. Sám hối có thể được vui tứ thiền. Sám hối là mưa bảo châu ma ni. Sám hối có thể sống lâu như kim cang. Sám hối có thể vào được cung điện thường lạc. Sám hối có thể ra khỏi ngục Tam giới. Sám hối có thể làm hoa Bồ đề nở. Sám hối có thể được gương tròn lớn của Phật. Sám hối có thể đến chỗ bảo thành. Kinh Quán Phổ Hiền: Người muốn sám hối, phải nên rộng thỉnh Chư Phật khi tụng kinh, phải chí tâm triệt để phát nguyện, nguyện cầu phá hoại tất cả vọng nghiệp của thân tâm, trong mỗi mỗi niệm. Như thế các tội mới tiêu diệt. Kinh Quán Phổ Hiền: Tất cả nghiệp chướng đều do vọng tưởng sanh. Nếu người muốn sám hối, ngồi ngay ngắn tĩnh tâm quán tưởng thật tướng, các tội như sương móc, mặt trời trí tuệ hay tiêu diệt. Kinh Hoa Nghiêm: Xưa đã tạo ác nghiệp, đều do tham sân si từ vô thủy, thân miệng ý là nơi sanh ác nghiệp, tất cả nay con xin sám hối. Kinh Hoa Nghiêm: Lấy tứ hoằng thệ nguyện, kiến lập Bồ đề Tứ hoằng thệ nguyện là: Chúng sanh vô biên, nguyện độ hết. Phiền não vô tận, nguyện đoạn hết. Pháp môn vô lượng, đều nguyện học. Phật quả vô thượng, thệ nguyện thành. Kinh Quán Vô Lượng Thọ: Niệm một câu danh hiệu Phật A Di Đà diệt tám mươi ức kiếp trọng tội sanh tử. Tù vân Sám chủ nói: Các loại sám hối mỗi loại diệt một loại tội. Duy có Phật hiệu Di Đà diệt tất cả tội. Hồng Danh Sám, Lương Hoàng Sám, Thủy Sám không phải xuất phát từ kim khẩu của ĐứcThế Tôn mà là sáng tác của chư Tăng. Cổ Đức nói: Liễu Nghiệp chướng bổn lai không (Liễu ngộ rồi thì tội lỗi là không). Vị liễu ưng tu hoàn túc trái (chưa liễu ngộ thì phải đền trả nợ cũ). Kinh nói: Tội từ tâm khởi đem tâm sám Tâm được tịnh rồi,tội liền tiêu Tội tiêu tâm tịnh thảy đều không Thế mới gọi là chân sám hối. b) Niệm Phật Sơ Tổ Tịnh Độ Tông Nhật Bản Pháp Nhiên Thượng Nhân dạy: Muốn thoát sanh tử, hành giả Tịnh Độ phải chuyên tu Chánh định nghiệp (chuyên niệm Phật). Thập nhị Tổ Triệt Ngộ đại sư dạy: Niệm Phật mà còn có một niệm xen tạp, gián đoạn thì không phải là chấp trì danh hiệu mà Đức Phật dạy trong kinh A Di Đà. Pháp sư Tịnh Không cũng thường nhắc nhở: Niệm Phật phải niệm liên tục không xen tạp, không gián đoạn mới thành tựu được Tịnh nghiệp. Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát dạy: Xen tạp là điều tối kỵ của người niệm Phật. Kinh Lăng Nghiêm dạy: Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp đắc Tam Ma Địa (Nhất Tâm Bất Loạn). Đây là bậc nhất. (Tịnh niệm nối tiếp có nghĩa là không xen tạp không gián đoạn 4- Phải làm gì? Căn cứ vào lời dạy của ĐứcThế Tôn, chư Thầy, Tổ và Cổ Đức nói trên, thì: Đối với những vị mới tu còn tạp tu thì phải tích cực tham dự những buổi sám hối do các chùa tổ chức để được tiêu tội tăng phước hầu thăng hoa kiếp sống tới. Đối với những hành giả chuyên tu Tịnh Độ thì nên niệm Phật không xen tạp không gián đoạn, tịnh niệm nối tiếp, thanh tịnh hóa thân tâm để được tiêu tội tăng phước, đạt Bất Niệm Tự Niệm, nắm chắc đời này vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh theo đúng chí nguyện. Câu hỏi 115: Thờ Phật A Di Đà có cần dẹp hình Phật Thích Ca không? Từ xưa bàn thờ nhà con, con thờ hình Phật Di Đà đứng treo trên vách tường, phía dưới, trên bàn thờ, con thờ hình Phật Thích Ca ngồi. Nay theo lời thầy nói Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư dạy: Hành giả chuyên tu thì chỉ lễ bái, tán thán cúng dường Phật Di Đà mà thôi. Nếu lễ bái, tán thán cúng dường Phật khác là tạp tu, mà tạp tu một ngàn người tu may ra có vài người vãng sanh. Còn chuyên tu thì trăm người tu trăm người vãng sanh, vạn người tu vạn người vãng sanh. Con quyết định chuyên tu để được vãng sanh, nếu con dẹp hình Phật Thích Ca thì con sợ mang tội, mà con để lại thì con mang lỗi không chuyên mà là tạp tu. Vậy con phải làm sao? Đáp: Câu hỏi này rất khó trả lời vì tôi không thể nói dẹp hay để lại, vì dẹp cũng được không dẹp cũng được, vậy là ba phải? Sau đây tôi sẽ lần lược góp ý: a) Tổng quát Nhà Phật dạy: Các pháp bất định nghĩa là không cố định, nó tùy duyên mà biến chuyển (thay đổi). Kinh Niết Bàn dạy: Y nghĩa bất y ngữ nghĩa là hiễu theo nghĩa, chớ chấp cứng (không kẹt cứng) vào ngôn ngữ, văn tự. Tất cả chư Phật đồng một bản thể. Phật Phật đại đồng. Kinh Pháp Cú dạy: Định tâm một chỗ việc gì cũng xong. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nhất thiết duy tâm tạo” hay “vạn pháp duy tâm”, tạm dịch tất cả do tâm làm ra (tạo) hay muôn pháp đều do tâm, mà người đời nói: “Tâm tưởng sự thành” nghĩa là nghĩ cái gì ra cái nấy. b) Dẹp hay không dẹp? Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư, Ngài dạy: Hành giả chuyên tu thì chỉ lễ bái, tán thán cúng dường Phật Di Đà mà thôi, vì tâm chúng sanh vốn đã loạn động, nếu lễ bái… nhiều vị Phật, làm thêm phân tâm, Ngài muốn gom tâm hành giả vào duy nhất Phật A Di Đà hầu dễ được nhất tâm (Định tâm một chỗ việc gì cũng xong). Ngài là hóa thân của Phật A Di Đà, về mặt đời mà nói Ngài đã đắc Niệm Phật Tam Muội, đã nhập Pháp môn bất nhị thì đâu còn phân biệt chấp trước, Ngài thừa hiễu Phật Phật đại đồng thì chắc chắn là Ngài đâu có kỳ thị Thích Ca và Di Đà. Như vậy nếu không Lá Thư Cực Lạc – Thích Minh Tuệ 110 dẹp cũng đâu có lỗi là tạp tu. Mặt khác nếu liên hữu nhìn hình Phật ngồi dưới (Thích Ca) là Phật Di Đà, thì đâu có phân tâm, không cần dẹp để y vậy cũng tốt thôi. Nếu liên hữu quyết định dẹp, Phật Thích Ca đâu có bảo liên hữu thờ Ngài, thờ hay không thờ là quyền của liên hữu, đâu có can dự gì đến Phật, phàm phu thì chấp trước, lỗi, phải, giận hờn, Phật là bậc toàn giác đâu còn giận hờn (khi không thờ Ngài), thế thì đâu có tội với Ngài. Nếu liên hữu đem hình này biếu tặng cho bạn đạo đang cần hình để thờ thì đâu có tội mà là thêm phước. c) Tội lỗi Tội, lỗi tự tánh vốn không, tùy theo mê, ngộ mà hiện tướng bất đồng (sai khác). Kinh nói: Tội từ tâm khởi, đem tâm sám Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu, Tội tiêu tâm tịnh thảy đều không, Thế mới thật là chân sám hối. Cổ Đức nói: – Liễu, nghiệp chướng bổn lai không, tạm dịch: liễu ngộ đạo, tánh của tội là không. – Vị liễu, ưng tu hoàn túc trái, tạm dịch: chưa ngộ đạo, phải đền trả nợ cũ. Vậy thì tội hay không tội là do mê (tâm nhiễm ô) hay ngộ (tâm thanh tịnh) của chính mình, đừng sợ tội mà chỉ sợ mình muê mà thôi. Sợ mình mê thì hãy cố gắng tu để ngộ. đạo hưu tu niệm Phật, niệm Phật đạt lý Nhất Tâm Bất Loạn, tâm thanh tinh tội liền tiêu (tánh của tội là không). Tóm lại dẹp hay không dẹp hoàn tonhàn do tâm của liên hữu quyết định. Điều quan trọng trước mắt là hãy dõng mãnh tinh tấn hành trì niệm Phật, hiện đời không đạt lý Nhất Tâm Bất Loạn thì cũng được Bất Niệm Tự Niệm. Khi mãn báo thân này, vãng sanh Cực Lạc sẽ giải tỏa được vô lượng tội lỗi tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay.
Trich Sách Lá Thư Cực Lạc
Thich Minh Tuệ


