Chấp tay nhất niệm Di Đà
Thành kính dâng lên lời cầu nguyện “Nam Mô A Di Đà Phật”, xin hồi hướng công đức tụng kinh niệm Phật đến những Bồ Tát đã vãng sanh và tất cả chúng sinh trong mười phương thế giới.
Một trong những duyên khởi đưa tôi tới sự học hỏi pháp môn Tịnh Độ là lần đi cúng thất đầu tiên của bác tôi, sau nghi thức tụng kinh và cúng cơm cho bác, mọi người đều đứng dậy tản mác ra sân để sau đó vào dùng cơm trưa. Tôi thơ thẩn đi tới góc phòng nơi có bàn kinh sách để cho phật tử thỉnh kinh, tôi chợt thấy ở một góc bàn có cuốn sách nhỏ tựa đề “Lắng nghe tiếng hát sông Hằng” của Pháp sư Đạo Chứng được dịch thuật bởi Thích Minh Quang. Tò mò cầm lên xem tôi thật sự cãm động bởi tấm lòng từ bi chân thành của một vị bác sĩ chuyên trị ung thư, cô đã chứng kiến nổi đau khổ của nhân sinh trong cuộc hành trình vô thường của kiếp người.
Sự cảm thông sâu sắc của một vị chuyên khoa đứng trước ngưỡng cửa sinh tử cũng phải cúi đầu với căn bệnh của thế kỷ mà con người chẳng may gánh chịu. Khi mà những kiến thức và kinh nghiệm y khoa không thể nào xoa dịu được cơn đau đớn của thân xác và nổi niềm tuyệt vọng của bệnh nhân, cũng trong khi đó có một số hoàn cảnh mà thân nhân và gia đình người bệnh qúa mỏi mệt chán nản và sẳn sàng buông bỏ chấp nhận cầu mong giờ phút ra đi của người bệnh. Pháp sư với tấm lòng của một bồ tát đã tha thiết hướng tâm mình đến Đức A Di Đà Phật xin ngài từ bi tiếp dẩn họ về quê hương ngài, nơi cỏi tịnh độ đầy an lạc và nơi đó con người không còn thọ khổ, nơi đó con người không còn dính mắc với những nghiệp báo trói buộc con người trong thân xác vô thường tạm bợ nay còn mai mất. Nơi vùng đất an dưỡng đó con người không còn phải trôi lăn trong mạng lưới chằn chịt của luân hồi nghiệp lực khó có ngày ra khỏi. Con người đã nhờ tha lực của Đức Phật A Di Đà và mười phương chư phật để có thể vãng sanh vào những đóa sen ngát hương lành mà Phật Pháp là suối nguồn hạnh phúc.
Cuốn sách nhỏ của pháp sư Đạo Chứng làm tôi xúc động mảnh liệt vì đó không phải là những câu chuyện hư cấu, mà mỗi câu chuyện là một bài học nhân sinh thật chứng từ cuộc đời mà những con người đã sống với thân bệnh và kinh nghiệm đầy đau đớn được viết ra để cho chúng ta hôm nay những người còn đang khoẻ mạnh, còn nhìn thấy trời xanh mây trắng, còn ngửi được hương thơm của hoa hồng, còn ăn những thức ăn ngon, phải bắt đầu giật mình tỉnh thức. Đó là hồi chuông vang lừng kêu gọi chúng ta hẫy quay về với chính mình, hẫy sống thật trong từng giây phút, hẫy chấp nhận cuộc đời bằng con mắt biết ơn vì chúng ta vẫn còn đang sống trong vòng tay thân ái của gia đình và quyến thuộc.
Xin mỗi ngày thức dậy bằng nụ cười, tập buông bỏ những gì bất như ý vì mai nầy khi chúng ta ra đi sẻ không mang theo được gì ngoại trừ một tâm thức như như hằng sống và những nghiệp lực của chính chúng ta.
Tôi nhớ tới một bài thơ của thầy Thích Tâm Thiện:
Người từ vô tận tái sinh
Đi qua trần thế mang tình nhân gian
Rồi từ cuộc mộng vừa tan
Quê hương một độ bàng hoàng ra đi
Ngày về bạc tóc hài nhi
Nắng chiều nhẹ đỗ thầm thì trên vai
Giã từ giấc mộng thiên thai
Vô biên ngày ấy Như Lai gọi về.
Bài thơ của thầy muốn nói gì? Phải chăng chúng ta những con người ở cỏi ta bà nầy dù tóc có bạc vẩn luôn ẩn hiện hình ảnh của một hài nhi hiện diện chuẩn bị cho một cuộc tái sinh vô tận, để rồi lại tiếp nối cuộc sống trên những vùng đất nước khác, và sẽ có một ngày cũng phải từ giã cỏi đời dù là một giấc mộng thiên thai. Ngày đó chúng ta lại quay về đâu?
Câu hỏi đó cứ lập đi lập lại cho đến một ngày tôi tiếp cận với Tịnh Độ mà hộ niệm cho người sắp mất là một pháp môn thù thắng mà bản thân tôi vô cùng trân trọng cho phước duyên được đứng trước giờ sanh ly tử biệt của các vị đạo hửu và gia đình. Từ giờ phút nầy tôi xin được gọi các vị ấy là Bồ Tát, đây lại là một nhân duyên khác trong trùng trùng duyên khởi mà tôi đã nhận và học từ hai vị ni sư là ni sư Như Như và ni sư Từ Bình.
Trước hết tôi xin hai vị ni sư thứ lổi cho tôi khi viết về người, vì do các ni sư không muốn được nhắc tới. Do một cơ duyên tôi được biết ni sư Như Như qua điện thoại và được biết ni sư hiện tu theo Tịnh Độ. Lúc bấy giờ tôi hoàn toàn không một mẩy mây kiến thức gì về các pháp môn trong Phật giáo. Là một phật tử Việt Nam với truyền thống gia đình thờ Phật, trọng tăng, cúng bái tổ tiên và chăm sóc bố mẹ là bổn phận con cái. Tôi cũng ít khi đi chùa, lập bàn thờ tại gia, và từ nhỏ theo mẹ tụng Linh Cãm Chân Ngôn của Bồ Tát Quán Thế Âm. Khi bé khoảng sáu hay bẩy tuổi, trong nhà có cuốn kinh tụng sám bìa nâu và trang giấy củ kỷ vàng sậm vì khói hương làm tôi đặc biệt yêu thích và thích nhất là bài sám Di Đà:
Muốn đi có một đàng nầy
Nhứt tâm niệm Phật khó gì thoát ra
Vậy khuyên phải niệm Di Đà
Hồng danh sáu chữ thật là rất cao
……..
Tôi học thuộc lòng bài sám khá dài ấy và những khi thích chí thường lấy ra ca hát om xòm, có một lần chợt nhiên tôi tự hỏi “ tại sao muốn đi có một đàng nầy? Và tại sao niệm Phật lại khó thoát ra?”
Tôi cứ mang nỗi niềm thắc mắc ấy mà không biết hỏi ai, cho tới hơn bốn mươi năm sau, khi được hầu chuyện cùng ni sư Như Như qua điện thoại, ni sư rất từ bi luôn luôn khuyên nhủ chúng tôi hẩy dốc một lòng niệm Vạn Đức Hồng Danh của A Di Đà Phật và vượt thoát ra khỏi biển sanh tử luân hồi. Lúc ấy tôi nhớ lại bài sám ngày xưa và như đốm lửa nhỏ bừng sáng lớn dần và rực rở trong tâm thức tôi. Ni sư là vị thầy gởi cho tôi rất nhiều kinh sách Tịnh Độ, qua đó tôi học được rất nhiều, và nhờ thế tôi tìm thấy hình ảnh một vị tổ sư mà tôi đã mong tìm.
Một thời gian sau đạo hửu Lisa gọi cho biết có một ni sư tới từ Đài Loan và hiện bà đang giảng pháp tại nhà sư tỷ Alice, bà đã từng tu Thiền hơn hai mươi năm, nhưng sau nầy bà tu theo Tịnh Độ và bà chuyên hộ niệm giúp người vãng sanh. Đây là một đề tài rất khó nói vì ai nghe tới đều không thích biết, thường thì trong cuộc sống ai cũng muốn vui, ít ai muốn buồn, hơn nữa lại là một đề tài rất buồn cho những người chưa hiểu gì về Tịnh Độ, nói thẳng ra là nói về sự chết, và bà đang cần một người thông dịch cho các phật tử Việt Nam có cơ hội được nghe được hiểu, vì vậy đạo hửu Ngọc đảm nhiệm phần Việt dịch. Ban đầu tôi cũng ngại đi nghe, nhưng sau khi đạo hửu Ngọc thuật lại kinh nghiệm sâu sắc sống thực của ni sư, tôi quyết định dành buổi chiều thứ sáu đến tham dự, đó là lần giảng thứ hai của ni sư cho các nhóm phật tử khác nhau. Khi tôi tới niệm Phật đường của các đạo hửu người Đài Loan thì thấy mọi người đã nghiêm chỉnh xếp hàng để chào đón vị Pháp sư. Niệm Phật đường nằm trong một khu vực toàn là văn phòng của các bác sĩ, luật sư ngoại quốc, nếu đứng ngoài nhìn vào không ai có thể ngờ có một niệm Phật đường u nhã tại đây.
Ni sư đã dùng phim “Ghost” (Linh Hồn) như là phần dẩn nhập bắt đầu của bài giảng và từ điểm đó Ni sư cho thấy con người dù ở bất cứ một tôn giáo nào một sắc dân nào khi chết đều đứng trước cảnh giới của một linh hồn đang bơ vơ bối rối vì vừa thoát ra khỏi thân xác. Nếu con người lúc còn sống đã sớm thức tỉnh để tu học, để biết rằng sự sống rất là quý báu, thân người rất hiếm được và dùng thì giờ để học hỏi quán chiếu giai đoạn cuối cùng mà kiếp nhân sinh phải đối diện thì lúc đó con người không còn sợ sệt đau khổ để vui vẻ tiến tới vùng ánh sáng Chân Thiện Mỹ, Đạo Phật Tịnh Độ đã hướng dẩn con người sống tích cực tại hiện đời trong việc hoà đồng hướng thiện buông bỏ tham ái sân hận cho kiếp sống hiện tại và sẳn sàng an nhiên tự tại lúc ra đi. Trong khi đó vẩn rất từ ái không quên dẩn dắt hộ niệm những chúng sanh còn non nớt trên hành trình cuối đời. Người theo đạo Phật cũng nên biết thêm khi Đức Thích Ca Mâu Ni còn tại thế đã tuyên xưng thế giới cực lạc của Đức Phật Vô Lượng Quang A Di Đà Phật là thù thắng hơn hết cho chúng sanh ở cỏi Ta Bà. Cũng nhờ thế Hoàng Hậu Vi Đề Hi trong bối cảnh của một thảm kịck gia đình có người con nghịch tử đã xin Phật chỉ dậy và an tâm ra đi để cuối cùng đắc qủa và Tịnh Độ là một con đường nhanh nhất có thể giúp con người chuyển phàm thành Thánh.
Những bài học sau của Ni Sư trong tuần lể bà còn ở lại tiểu bang của chúng tôi là những bài học quý giá vô cùng, bà dùng những đoạn phim của những lần hộ niệm do chính bà đảm nhiệm để dậy cho chúng tôi phải thành kính cám ơn những Bồ Tát vãng sanh, đã cho phép đem hình ảnh và giờ phút lâm chung của họ ra làm bài học sâu sắc cho chúng tôi. Mỗi lần nhắc đến họ Ni Sư luôn luôn thành kính đảnh lể. Có những Bồ Tát mang trên ngưởi những căn bệnh khổ không thế nào tà xiết được. Như một vị Bồ Tát với căn bệnh ung thư để lại những lổ hổng sâu ăn đến độ có thể nhìn thấy trong người, những lổ hổng nầy luôn luôn nhóp nhép như miệng người không ngừng nghỉ. Trong những giờ phút đau khổ. Bồ Tát ấy do một Phúc duyên được nghe đến Ni Sư và mời bà đến hộ niệm để rồi ra đi trong bình tỉnh đó là những hình ảnh cảm động đã khiến đại chúng rơi lệ.
Ni Sư đã dậy chúng tôi đức kham nhẩn vì người bệnh Ni Sư đã cúi mình thấp nhất để qua được những sự chống đối từ gia đình, từ những người con khác tôn giáo tín ngưỡng đã hết sức gây khó khăn, ngay cả vận động những đứa trẻ nhỏ ngây thơ trong việc chống báng bà. Nhưng vì lòng từ bi thương xót người bệnh yếu ớt đang trông chờ được tiếp dẩn về quê hương an lạc mà họ hằng mong ước, bà đã cúi đầu cúi đầu và dùng tấm lòng trong sáng bất vụ lợi cùng tình thương như đại hải để rồi cuối cùng họ phải cảm phục và đều đồng ý để bà hộ niệm theo lời yêu cầu của cha mẹ (đến đây tôi xin nhắc tới vì lòng tự tôn, tự ái mà có những người con hay thân nhân đã gây đau khổ vô cùng với người bệnh mà không biết rằng họ đã gieo ác nghiệp tại hiện đời).
Cẩn trọng trong từng hành động một cách trân trọng, ni sư dậy chúng tôi phài rất hết sức nhẹ nhàng, phài luôn luôn trong chánh niệm để hiểu rằng trong khoảng hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau khi mất người vảng sanh rất cần sự thanh tịnh, dù một tiếng động nhỏ, một lời nói chuyện lao xao, bước chân khẻ chạm vào thành giường, tiếng nước mở ở buồng bên cạnh v..v.. cũng làm người ra đi đau đớn vô cùng. Thế nên phải vô cùng chú ý để tránh tạo ra bất cứ khuấy động không cần thiết nào, ngoại trừ tiếng tụng kinh hộ niệm và lời khai thị giúp cho người vãng sanh sáng suốt, buông bỏ bi ai luyến ái mà cùng hòa với tấm lòng chân thành cùa những liên hửu hộ niệm để nhất tâm hướng về vô lượng quang minh cùa Đức Phật A Di Đà.
MỘT ĐẠO HỪU MAY MẮM
Có một đạo hửu đã hơn chin mươi tuổi trong những ngày đầu ni sư đến giảng dậy, cụ cố gắng nhờ con dẩn tới, cụ mang theo một bình dưỡng khí, xe đẩy, đi trong hơi thở khó khăn, nhưng cụ rất hoan hỷ được đến tu học. Chỉ vài ngày sau người con gái gọi tới yêu cầu xin ni sư đến hộ niệm vì cụ sắp ra đi. Do nhân duyên ấy ni sư phải hủy bỏ bài giảng hôm đó để đi với một số phật tử đã xin phép ni sư cho họ cùng đi hộ niệm. Vì là lần đầu đi hộ niệm nhóm Phật tử có nhiều lúng túng nhưng với tấm lòng chân thành mọi người nhất tâm hộ niệm và cụ ra đi trong cát tường viên mãn. Lần hộ niệm ấy làm ni sư rất cãm động thấy chân tình tha thiết vì người của các phật tử Việt Nam Ni Sư đã dành trọn hai tối giảng thêm về đề tài vãng sanh cho một số phật tử muốn tu học về vãng sanh Tịnh Độ, và tôi cũng có cơ duyên tham học. Mặc dầu cả ngày đã giảng pháp, Ni Sư vẩn từ hòa giảng dậy qúa nửa đêm vì thì giờ của bà ở đây không còn nhiều.
Tuần tới Ni Sư phải chuẩn bị lên đường đi Texas, nguyên nhân toàn chuyến đi nầy của ni sư bắt nguồn từ việc lo liệu của một phật tử người Đài Loan. Do vì mấy năm trước mẹ của ông ta đau nặng làm ông ấy phải thu xếp công việc về xứ chăm sóc cho mẹ. Nhờ có người giới thiệu ông tìm lên am nhỏ của Ni Sư trên núi và tha thiết mời người xuống để giúp hộ niệm cho mẹ để bà có thể ra đi trong an lành. Nhận thấy tấm lòng chí hiếu của ông, Ni Sư và người đệ tử duy nhất đã phải tới nhà của ông cùng giúp hộ niệm cho mẹ ông trong hai tháng sau đó bà cụ đã vãng sanh trong thoại tướng. Ông xin cúng dường một số tịnh tài nhưng ni sư cương quyết từ chối, bà cho biết cuộc sinh hoạt đơn giản hằng ngày của bà đã đầy đù và bà không nhận thêm bất cứ sự cúng dường nào từ việc hộ niệm.
Nhã Lan Thư
Thích Minh Tuệ


