
1. Trong các bộ kinh mà Phật Thích Ca tuyên thuyết trong suốt 49 năm, mỗi bộ kinh ngài chỉ giảng qua một lần mà thôi. Riêng Kinh Vô Lượng Thọ (bộ kinh chính của hành giả tu Tịnh Độ) ngài giảng đến 5 lần vì khi kết tập kinh điển các vị tổ sư thấy có 5 quyển Kinh Vô Lượng Thọ với nội dung tuy giống nhau nhưng bố cục lại hoàn toàn khác nhau.
(Sau này lão cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập tất cả 5 cuốn kinh ấy lại làm thành 1 cuốn hoàn chỉnh như chúng ta có ngày nay. Đây là cuốn Kinh Vô Lượng Thọ hoàn chỉnh nhất vì nó bổ sung cho nhau những khiếm khuyết cũng như ưu điểm của riêng từng cuốn.) Yếu chỉ của Kinh Vô Lượng Thọ là khuyên bảo chúng sinh nên cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của việc sanh về Tây Phương Cực Lạc to lớn đến dường nào nên đức Thích Ca Mâu Ni Phật mới giảng đi giảng lại nhiều lần như thế, không như những cuốn kinh khác ngài chỉ nói qua một lần rồi thôi.
2. Trong thế giới Hoa Tạng các bậc đại thượng thủ bồ tát như Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền đều là Đẳng Giác Bồ Tát sắp thành Phật. Thế mà cả 2 vị đều nguyện sanh về Tây Phương để sớm viên thành Phật quả. Trong kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, Đức Phổ Hiền phát kệ thệ nguyện rằng: “Nguyện cho tôi khi sắp lâm chung, trừ sạch hết thảy bao chướng ngại; tận mắt thấy Phật A Di Đà, tức được vãng sinh nước Cực Lạc.” Thiết nghĩ chúng ta chỉ là phàm phu không thể nào sánh bằng 2 vị ấy thì không thể không nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc sao đặng?
3. Ở các thế giới Tịnh độ khác, mỗi thế giới chỉ có một vị bồ tát Nhất Sanh Bổ Xứ (tức hậu bổ Phật hay còn gọi là vị Phật tương lai sẽ thay thế vị Phật hiện tại.) Tại thế giới Ta Bà của chúng ta đang ở hiện có 1 vị hậu bổ Phật, đó là ngài Di Lặc bồ tát. Bồ tát Di Lặc hiện đang ở tại cung trời Đâu Xuất, ngài đã được Phật Thích Ca thọ ký sau này sẽ trở xuống cõi trần và trở thành vị Phật tương lai. Riêng tại Tây Phương Cực Lạc số lượng bồ tát Nhất Sanh Bổ Xứ như bồ tát Di Lặc nhiều không thể đếm xuể (theo Kinh A Di Đà). Người vãng sanh về nơi ấy ngày đêm thường được kề cận các vị đại bồ tát này để học hỏi nên đường đạo tiến rất nhanh, sớm tiến đến quả vị Phật.
4. Tu theo pháp môn Tịnh Độ rất dễ tu chỉ cần Tin sâu vào pháp môn mình tu, Nguyện thiết tha được sanh về Tây Phương Cực Lạc, và chăm chỉ Hành trì niệm Phật là được. Người tu Tịnh Độ không cần phải đoạn hết nghiệp của mình (tham, sân, si) mà có thể vượt khỏi luân hồi, siêu thoát 3 cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới) để về cõi Tịnh của Phật A Di Đà là Tây Phương Cực Lạc. Tu theo các pháp môn khác người tu bắt buộc phải diệt trừ tận gốc tất cả nghiệp chướng của mình mới có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử.
5. Tất cả các thế giới của các chư Phật, chỉ riêng có Phật A Di Đà đến tiếp dẫn người lúc lâm chung về cõi Tịnh Độ của mình. Ngoài ra không có 1 vị Phật nào khác làm điều này.
6. Thế giới Tây Phương Cực Lạc thành tựu do nguyện lực của đức Phật A Di Đà gom hết tất cả các ưu điểm trong 210 ức cõi Phật khác lại mà thành. Thế cho nên cõi nước của A Di Đà Phật ưu việt hơn tất cả các thế giới của các chư Phật khác. Nơi ấy chỉ có toàn những điều vui mà không bao giờ nghe đến điềm khổ nên được gọi là Thế Giới Cực Lạc.
7. Nếu ở tại thế giới Ta Bà của chúng ta hiện tại để tu thì phải mất đến 3 đại A Tăng Kỳ (vô lượng kiếp) mới thành Phật. Vì kiếp người ở thế gian chỉ vỏn vẹn vài chục năm hay cao lắm là 100 năm. Khi chết đi đầu thai làm kiếp khác lại quên mất việc tu hành của mình đời trước nên đường tu có khi tiến lúc lùi trong vô số kiếp. Nếu được sanh về Tây Phương Cực Lạc, tuổi thọ của con người nơi ấy dài vô lượng nên chỉ trong 1 đời có thể tu chứng thành Phật quả.
8. Trong Tịnh Độ tông chỉ có vỏn vẹn 13 vị tổ. Nhưng trong đó có đến 2 vị là hóa thân của Phật (Thiện Đạo đại sư và Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư đều là hóa thân của Phật A Di Đà) và 1 vị là hoá thân của đại bồ tát (Ấn Quang đại sư là hóa thân của Đại Thế Chí bồ tát).
9. Các vị bồ tát, các thánh hiền trong kinh luận đều hết sức tán dương, khen ngợi, cũng như khuyến khích tu pháp môn Tịnh Độ. Ngài Thiện Đạo Hoà Thượng nói rằng: “Tu pháp môn Niệm Phật ngàn người tu không sót một.” Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ thiền sư – một vị cao tăng đích truyền về tông Pháp Nhãn – dạy rằng: “Tu Tịnh Độ muôn người tu muôn người về.” Văn Thù Sư Lợi bồ tát dạy: “Trong các pháp môn của đức Phật không môn nào qua môn Niệm Phật. Niệm Phật là vua trong các pháp môn.” Quan Thế Âm bồ tát cũng dạy rằng: “Niệm Phật hơn các hạnh khác.” Mã Minh đại sĩ – tổ thứ 12 của Thiền tông Ấn Độ – trong Đại Thừa Khởi Tín Luận có ghi rằng: “Chuyên tâm niệm Phật là phương tiện tối thắng của đức Như Lai.” Long Thọ bồ tát – tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ – cho rằng: “Niệm Phật Tam Muội có đầy đủ trí tuệ, có vô lượng phước đức, đoạn trừ tất cả phiền não, độ tất cả các chúng sanh, và sanh ra vô lượng Tam Muội khác cho đến Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội.”
10. Điều kiện để một chúng sinh sanh về các thế giới Tịnh độ khác như cõi Tịnh Độ của Bồ tát Di Lặc và Tịnh độ của Phật A Súc là rất cao, và chỉ trông cậy vào sức tu của chính mình hay tự lực. Trong khi điều kiện vãng sinh về cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà đơn giản chỉ cần nhất tâm niệm Phật với đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh, đặc biệt là được nương nhờ tha lực của Phật A Di Đà tiếp dẫn theo như lời nguyện thứ 18 của ngài trước khi thành Phật:
“Khi ta thành Phật, nếu chúng sinh mười phương muốn sinh về nước ta, xưng danh hiệu ta, nhẫn đến tối thiểu là mười niệm*, nương vào nguyện lực của ta, nếu như không được vãng sinh, ta thề không giữ ngôi Chánh Giác.”
* Ghi chú: 10 niệm tức là 10 hơi niệm danh hiệu của ngài: A Di Đà Phật



“Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh mười phương muốn sinh về nước ta, xưng danh hiệu ta, nhẫn đến tối thiểu là mười niệm*, nương vào nguyện lực của ta, nếu như không được vãng sinh, ta thề không giữ ngôi Chánh Giác.”
Theo Niệm Phật Tông Yếu của Ngài Pháp Nhiên Thượng Nhân thì:
Niệm Phật hoàn toàn không có hình thức. Chỉ cần biết rằng: “Hễ xưng Danh hiệu Đức Phật A Di Đà thì được sinh sang cõi Cực Lạc ”, do đó chí tâm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” để cầu vãng sinh. Không cần để ý đến vọng niệm, tán loạn… mà chỉ chuyên cần xưng Danh hiệu. Nếu thường xưng Danh hiệu thì do công đức của Phật Danh, vọng niệm tự dừng, tán loạn tự yên, tam nghiệp (thân, khẩu, ý) tự điều hòa, nguyện tâm tự phát.
Bởi thế:
“ Khi nguyện tâm còn yếu, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi tâm tán loạn nhiều, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi vọng niệm sinh khởi, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi thiện tâm phát sinh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi bất tịnh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi thanh tịnh, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi tam tâm còn thiếu kém, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi tam tâm hiện khởi, cũng Nam Mô A Di Đà Phật.
Khi tam tâm thành tựu, cũng Nam Mô A Di Đà Phật ”.
Đây là phương tiện để chắc chắn được vãng sinh, xin ghi khắc vào tâm can chớ quên.
Người làm biếng Niệm Phật là người đánh mất đi vô lượng châu báu.
Người siêng năng Niệm Phật là người khai mở vô biên sáng suốt.
Nên dùng cái tâm cầu vãng sinh mà tương tục Niệm Phật.
“Pháp Nhiên Thượng Nhân chính là Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất thời Bổn Sư Thích Ca Phật đã nhắc tên tới 36 lần trong Kinh Phật Thuyết A Di Đà Kinh”
Kinh A Di Đà nói: “Không thể do chút ít thiện căn, phước đức,
nhân duyên mà được vãng sinh Cực Lạc. Xá Lợi Phất! Nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe đến Đức Phật A Di Đà, bèn
chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày,hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày,một lòng không loạn, người đó đến lúc mạng chung, Phật A Di Đà, cùng các thánh chúng hiện đến trước mặt. Người đó lúc mất, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà”.
Ngài Thiện Đạo giải thích đoạn văn này như sau:
Cực Lạc vô vi cõi Niết Bàn
Tùy duyên, tạp thiện khó vãng sanh
Nên Đức Như Lai lựa pháp yếu
Khuyên niệm Di Đà, chuyên thật chuyên
Bảy ngày bảy đêm không gián đoạn
Khởi hạnh lâu dài lại gắng thêm
Lâm chung, thánh chúng cầm hoa đến
Thân tâm phấn khởi, sinh sen vàng
Ngồi lên chứng đắc vô sinh nhẫn
Liền được đưa đến trước Pháp Vương
Bồ tát tranh nhau đắp y pháp
Chứng ngôi bất thoái, nhập Tam Hiền.
Niệm Phật tốt hơn hết chúng ta theo Pháp Kim Cang Trì Danh tức là niệm Danh Hiệu trong thầm lặng bằng ngôn ngữ của tâm, ngôn ngữ của ý. Tuy không niệm ra tiếng nhưng tâm lại nghe được tiếng, đó là tiếng nói hay ngôn ngữ của tâm, gọi là ý ngôn, mỗi chữ mỗi câu đều nghe được rất rõ ràng. Niệm Phật bằng cách này thì từ từ tâm sẽ hướng về một cảnh, ngoại duyên từ từ bị cắt đứt đạt được cảnh này thì trong Tịnh có Thiền trong Thiền có Tịnh vì vậy mà các vị Tổ Sư nói Thiền Tịnh vốn không hai nhưng chẳng phải một vì một bên dùng tự lực một bên nương Phật lực rốt ráo cuối cùng là đến bờ giải thoát. Còn khi ở chổ vắng lặng ta niệm bằng miệng nhưng tiếng thì chỉ thì thầm nơi cửa miệng tâm tai nghe được tức là miệng niệm, tai nghe, tâm tưởng theo từng chữ từng chữ niệm.
Còn như thiện hữu hỏi: Niệm Phật lớn tiếng thì sao? Cũng tốt nhưng như thế làm hao tổn khí lực, niệm Phật cốt là để đạt nhất tâm bất loạn, niệm, niệm mà không niệm.
Nguyện hồi hướng cho tất cả chúng sanh người người niệm Phật đều có thể một lòng một dạ niệm Phật cầu vãng sinh, một đời thành tựu để chẳng cô phụ đại từ bi nguyện của đức Di-đà, cũng chẳng quên ơn dạy dỗ với sự lao nhọc và ân cần chỉ dạy của các ân sư.
Nam Mô A Di Đà Phật
Trích Đường Về Cõi Tịnh
Thích Minh Tuệ