
337.Van Dap Tinh Do 38
47- Hỏi: Chúng con vừa lần chuỗi niệm Phật vừa nghe quý Thầy giảng pháp, có được không, thưa Thầy?
Đáp: Đây cũng là một kiểu bệnh của Phật tử. Tôi xin góp ý, có những trường hợp sau đây:
1- Nếu liên hữu vừa nghe pháp, mà tay lần chuỗi lia lịa để biểu diễn, hoặc để nói lên rằng ta niệm Phật không gián đoạn. Đó là tự dối mình, dối bạn, dối Thầy, dối Tổ, dối luôn Bồ-tát và chư Phật. Việc này lại còn là nuôi lớn cái ta, sanh cống cao ngã mạn, tự nó thiêu hủy hết công đức tu hành của mình. Đây là điều tối kỵ!
2- Nếu liên hữu thật tình muốn vừa niệm Phật vừa nghe giảng pháp, kết quả sẽ không tốt do tâm vô nhị dụng, cụ thể như sau:
a. Về niệm Phật: Tay lần chuỗi, miệng niệm Phật mà tâm không có Phật, vì tâm đang nghe pháp. Đó là “hữu khẩu vô tâm”. Tổ Đức Nhuận nói: “Niệm Phật như vậy (hữu khẩu vô tâm) thì thét cho bể cuống họng cũng vô ích”.
b. Về nghe pháp: Lỗ tai nghe Thầy giảng pháp mà không tác ý,(vì ý mắc bận chỉ đạo tay lần chuỗi), thì cái nghe này không biết, không hiểu gì cả, gọi là “thính bất văn” nghe lỗ tai bên này lọt qua lỗ tai bên kia, thật vô ích.
Trường hop vua lan chuỗi vừa nghe pháp đúng với câu xưa nói: “bắt cá hai tay, thì hỏng cả hai” là vậy!
3-Vậy thì phải làm sao?
Liên hữu nên chọn một trong hai như sau:
– Nếu liên hữu thấy cần chuyên tu để được nhập tâm, hay huân trưởng mức nhập tâm, hoặc bất niệm tự niệm, thì nên ngồi nhà hạ thủ công phu là thượng sách.
– Nếu liên hữu nhận thấy cần bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệm hành trì Tịnh Độ, thì nên đi nghe giảng pháp (xin đọc 2 câu đáp 23B và 41B).
Tại sao vậy? Vì:
a. Về niệm Phật. Tiếng niệm Phật phải rành rẽ, rõ ràng, chắc thiệt. Chắc thiệt nghĩa là tâm và tiếng hiệp khắn nhau, tâm phải duyên theo tiếng, tiếng phải ở trong tâm, tâm tiếng là một, hoặc nói cách khác, tiếng ở đâu tâm ở đó.
Nói rộng là “thân, khẩu, ý” đều niệm Phật. Được vậy, mới mong nhập tâm, thành tựu Tịnh nghiệp, vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh. (Xin đọc sách niệm Phật đạt bất niệm tự niệm, phần IV-Thực hành).
b. Về việc nghe giảng pháp. Tam huệ học là văn, tu, tu. Nghe giảng pháp là văn huệ học. Người nghe cần có kỹ thuật thực hiện, cụ thể là khi nghe giảng pháp cần phải:
– Xả bỏ tâm chấp trước (không chấp người giảng là Hòa thượng,Thượng Tọa, Đại đức, Tăng, Ni, cư sĩ, không cần là người phải nói lưu loát, bóng bẩy, văn chương, vui tánh, dễ thương,…). Nên nhớ! Ta đến để học pháp (không phải xem kịch, hay nghe đại nhạc hội, mà cần chọn lựa danh ca, tài tử…), chỉ cần người giảng pháp thế nào khiến ta có thể lãnh hội và thực hành cho có hiệu quả tốt nhất. Kinh Niết bàn dạy: “Y pháp bất y nhân”.
– Buông bỏ mọi kiến giải, giữ cái tâm không (trống rỗng) không suy nghĩ, so đo, tính toán, phân biệt đúng sai, hay dở. Chỉ một mực lắng nghe kỹ,
ghi nhận đầy đủ vào tâm những lời pháp, Thí dụ: Như cái ly phải trống không, khi đổ nước mới vào được. Bằng như ly đã đầy nước rồi (kiến giải), nếu đổ thêm, nước sẽ tràn ra hết (không lãnh hội được).
Như con bò, nó cạp (gặm) cỏ, cạp (gặm) được bao nhiêu liền nuốt vô bụng hết cho no, (không nhai nhấp gì cả).
– Đến khi liên hữu về nhà, liên hữu mới nhớ lại những lời pháp đã học, nghiền ngẫm suy tư, tìm hiểu nghĩa lý sâu xa, thấy cách thực hành tuyệt diệu. Khi mình chấp nhận được rồi, thì đương nhiên pháp đó thật sự biến thành pháp của mình (trước kia nó là pháp của pháp sư).
Đây gọi là tư huệ. Văn huệ chỉ là giai đoạn đầu để tiến tới tư huệ. Sau đó ta đem ra ứng dụng tu hành. Đây gọi là tu huệ. Giai đoạn sau cùng này (tu huệ) mới thật sự hữu ích.
Như con bò ban ngày cạp cỏ, nuốt đầy bụng để rồi tối về chuồng ói ra, nghiền nhai nát cỏ (nhai lại), để biến thành chất dinh dưỡng nuôi thân vậy.
Tóm lại, “vì tâm vô nhị dụng” tâm không thể làm hai việc cùng một lúc, nên cần chọn một trong hai, hoặc niệm Phật hoặc nghe pháp.
48- Hỏi: Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Người vãng sanh Hạ phẩm hạ sanh phải mười hai đại kiếp hoa sen mới nở”. Một đại kiếp là một triệu ba trăm bốn mươi bốn ngàn (1. 344.000) năm, mà mười hai (12) lần như vậy, là mười sáu tỷ một trăm hai mươi tám triệu (16.128.000. 000) năm. Thời gian quá ư là dài, đó là cách tính ở Cực Lạc hay ở Ta-bà?
Đáp: Quả địa cầu ta ở, hình tròn, nó tự quay tròn và quay xung quanh mặt trời. Khi nó đang quay, phân nửa hướng về mặt trời, nhận ánh sáng rực rỡ, ta gọi là ban ngày. Phân nửa còn lại bị khuất bóng, nên tối ta gọi là ban đêm. Nước Mỹ nằm ở phần phân nửa bên này của trái đất, còn nước Việt Nam nằm ở phân nửa phần bên kia, nên ở Mỹ ban ngày thì ở Việt Nam là ban đêm và ngược lại, có ngày đêm là vậy đó. Trái đất tự quay một vòng là một ngày đêm, và quay xung quanh mặt trời một vòng là một năm.
Thế giới Cực Lạc không có mặt trời. Hào quang của Phật A-di-đà sáng gấp trăm ngàn vạn ức lần ánh sáng mặt trời, cộng thêm ánh sáng của chư Bồ-tát, thánh chúng… nên thế giới này luôn luôn sáng, không bao giờ có tối, thì làm gì có ngày, đêm, năm, tháng, kiếp?
Mười hai đại kiếp nói trên là ước tính theo thời gian ở Ta-bà, nói cho dễ hiểu vậy thôi.
Quán Kinh nói: “Sanh Hạ phẩm thượng sanh, bốn mươi chín ngày hoa sen nở, ta gặp hai Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí để nghe Pháp”.
Cùng là Hạ phẩm mà Hạ phẩm thượng sanh và Hạ phẩm hạ sanh, nhưng thời gian hoa nở cách biệt quá xa (16.128.000. 000 năm, so với 49 ngày), mười sáu tỷ một trăm hai mươi tám triệu năm so với bốn mươi chín ngày.
Hiểu được vậy, Minh Tuệ tôi tin rằng quý vị sẽ:
– Trân quý thời gian, tranh thủ từng phút, từng giây để niệm Phật, hầu vãng sanh, tối thiểu phải là Hạ phẩm thượng sanh, bốn mươi chín ngày sau hoa sen nở. Còn vãng sanh Hạ phẩm hạ sanh phải chờ mười sáu tỷ một trăm hai mươi tám triệu
(16.128.000.000blank16.128.000.000) năm hoa sen mới nở. Như vậy thời gian quá dài!
– Không quá khiêm nhường ở Hạ phẩm thượng sanh mà phải là Thượng phẩm thượng sanh. (Xin đọc sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh).
49- Hỏi: Kinh Quán Vô lượng Thọ nói: “Quang minh của Phật A-di-đà soi khắp các cõi ở mười phương, thâu nhiếp tất cả chúng sanh niệm Phật”. Như vậy người không niệm Phật, quang minh của Phật có thâu nhiếp không?
Đáp: Mặt trời, mặt trăng chiếu soi khắp đại địa, sơn hà, (tất cả đất đai, sông, ngòi) nhưng vì nước đục, mặt trời, mặt trăng không hiện bóng, chớ không phải là chẳng có mặt trời, mặt trăng phải không?
Ban ngày người mù lòa cũng không thấy mặt trời, vậy do ở mặt trời hay ở người mù?
Cũng vậy, Đức Phật A-di-đà bình đẳng, không phân biệt, dùng vô biên đại từ (lòng từ rộng lớn không bờ mé và không điều kiện) phóng quang khắp các cõi ở mười phương để thâu nhiếp tất cả chúng sanh.
Nhung chúng sanh không niệm Phật, thiếu sự cơ cảm, không tiếp nhận quang minh, thì xem như không thâu nhiếp. (Có cũng như không). Vì thế, Kinh Lăng Nghiêm nói: “Chư Phật từ mẫn niệm chúng sanh như mẹ trông nhớ con. Nếu con cứ bỏ đi, thì mẹ dù nhớ cũng không biết làm sao được!”.
50- Hỏi: Chúng sanh ở các cõi trong mười phương đồng vãng sanh cùng một lúc, nhiều vô số kể, làm sao Phật A-di-đà tiếp dẫn một lúc cho kịp, rồi về Cực Lạc chỗ đâu ở cho đủ?
Đáp: Không những một số chúng sanh, mà giả dụ toàn thể tất cả chúng sanh ở các cõi trong mười phương đồng vãng sanh cùng một lúc, nhiều vô số, vô số kể, Đức Phật A-di-đà vẫn tiếp dẫn kịp một lúc và về Cực Lạc ở vẫn chưa hết chỗ. Tôi xin chứng minh:
1-Kinh Vô Lượng Thọ, phẩm 21 Bảo Liên Phật Quang nói: “Lại nữa, hoa sen báu mọc khắp thế giới. Mỗi đóa sen có trăm ngàn ức cánh. Mỗi một hoa sen tỏa ra ba mươi sáu trăm ngàn ức tia quang (sáng). Trong mỗi tia quang, xuất hiện ba mươi sáu trăm ngàn ức Phật. Mỗi một vị Phật, lại phóng ra trăm ngàn ánh sáng, chiếu khắp mười phương, nói pháp vi diệu. Các chư Phật ấy, mỗi vị an lập, có vô lượng chúng sanh trụ trong chánh đạo của Phật”. Chúng ta thấy, trong bài kệ Tán Phật, có câu:
“Quang trung hóa Phật vô số ức”. Vô số ức Phật như vậy làm sao mà không thể tiếp dẫn hết thảy chúng sanh vãng sanh chứ? (Đây là nói Hóa thân Phật tiếp dẫn).
2- Kinh Quán Vô Lượng Thọ, phẩm 9- Phật Thân Quán, nói: “Vô Lượng Thọ Như Lai có tám muôn bốn ngàn tướng, mỗi tướng có tám muôn bốn ngàn vẻ đẹp tùy hình, mỗi vẻ đẹp lại có tám muôn bốn ngàn tia sáng. Những tia sáng ấy soi khắp các cõi ở mười phương, thâu nhiếp tất cả chúng sanh niệm Phật”. Vô lượng quang minh Phật tiếp dẫn như vậy làm gì có chuyện tiếp dẫn không kịp?
(Đây là nói Quang minh Phật tiếp dẫn)
3-Kinh Vô Lượng Thọ, Phẩm 11- Quốc Giới Nghiêm Tịnh nói: “Cõi Cực Lạc thế giới công đức vô lượng, trang nghiêm đầy đủ… vàng ròng làm đất, bằng phẳng, rộng rãi bao la chẳng thể hạn lƣợng, vi diệu, lạ lùng, đẹp đẽ, thanh tịnh trang nghiêm, vượt trội hết thảy các thế giới trong mười phương”.
Tâm tịnh, cõi nước tịnh, tâm bình thì cõi nước bình, do tâm địa bình đẳng nên đại địa bằng phẳng. Vãng sanh luận nói: “Rốt ráo như hư không, rộng lớn không ngằn mé” đây là diễn tả ý rộng rãi bao la chẳng thể hạn lượng nói trên. Sách Luận chú giảng: “Như hư không” là ý nói chúng sanh tuy đông, nhưng vẫn như hư không.
Căn cứ những dẫn chứng trên, ta thấy làm gì có việc không đủ chỗ ở cho chung sanh khi ve Cuc lac
Chớ lấy phàm trí đo lường công đức của Phật, không khéo, sự nghi ngờ này gây chướng ngại cho việc vãng sanh!
Tổ sư Pháp Nhiên dạy: “Vãng sanh là việc của Phật làm. Niệm Phật là việc của mình làm”. Phật đã thệ nguyện tiếp dẫn, thì để đó Phật lo. Ta lo chuyện viễn vông chi cho vô ích! Điều đáng lo là, mình niệm Phật sao cho được nhập tâm, đạt Bất niệm tự niệm để được bảo đảm vãng sanh, mới quan trong hon ca
Trich Sach Tinh Do Thuc Hanh Van Dap
Thich Minh Tue



