Van Dap Tinh Do 43

 

363.Van Dap Tinh Do 43

 

Cau hoi 66  Thien va Tinh co the song tu khong hay Tu Thiền Kiêm Tu Tịnh?
Quý Thầy dạy Thiền Tịnh song tu. Trong câu đáp 71 Thầy
nói: Thiền từ cua không vào Đạo, Tịnh từ cửa có vào Đạo.
Có, không trái nhau làm sao song tu được, thưa Thầy?

Đáp:
Đúng rồi! Thiền từ cửa không (vô môn) vào Đạo, Tịnh từ
cửa có (hữu môn) vào Đạo. Có, không trái nhau theo nghĩa
đen không thể song tu được. Ta thử phân tích như sau:
1. Hành giả Thiền T ông tọa thiền phải giữ tâm vắng lặng
(tĩnh lự) để dẹp trừ vọng niệm, vọng tưởng, nếu hành giả
niệm Phật (tâm không vắng lặng) thì đâu đúng nghĩa là
thiền!
2. Hành giả Tịnh độ Tông ngồi bán già hay kiết già theo
Thiền Tông mà không niệm Phật thì đâu đúng nghĩa Tịnh
độ Tông!
3. Có người nói: “ngồi thiền niệm Phật”, ngồi

 

 Thiền thì đâu
có niệm Phật, bằng như niệm Phật thì đâu phải ngồi Thiền
(tọa thiền), ngồi tư thế thiền (kiết già, bán già) để niệm Phật
đúng danh xưng là Tĩnh tọa niệm Phật.
4. Tịnh thiền tạm gọi song tu. Người tu niệm Phật đạt sự
Nhất Tâm Bất Loạn (Tịnh độ) và đắc định (thiền định), nên
có thể tạm gọi Tịnh thiền song tu.
5. Người tu Thiền Tông mà chưa đắc định thì không đúng
danh xưng tu thiền.
6. Người tu niệm Phật mà chưa đạt Bất Niệm Tự Niệm
(Niệm Lực TươngTục) thì không đúng nghĩa chấp trì danh
hiệu (Kệ Niệm Phật, Hương Quê Cực Lạc).
7. Người tu Thiền Tông sau khi dac định (thiền định) muốn
bảo đảm liễu sinh thoát tử nên kiêm tu niệm Phật cầu vãng
sanh Cực Lạc (Tịnh độ Tông), thì mạnh như mãnh hổ thêm
sừng.

Tóm lại, Thiền Tịnh không thể song tu được, vậy thì nên
nói tu thiền kiêm tu Tịnh, thì chính nghĩa hơn.

Câu hỏi 67: Thần Thông và Cảm Ứng.
Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư khi Ngài niệm Phật, mỗi câu Phật
hiệu là có một hóa Phật từ miệng bay ra, và trước khi bỏ
báo thân, Ngài leo lên cây dương liễu trước chùa, từ ngọn
cây Ngài gieo mình xuống đất, thân Ngài nhẹ nhàng, từ từ
bay xuống tới mặt đất với tư thế kiết già mà viên tịch. Vậy
hai hiện tượng này do thần thông hay cảm ứng, thưa Thầy?
Đáp:
Hai hiện tượng nói trên do cảm ứng mà cũng do thần thông.
Như Ngài Lý Bĩnh Nam (Thầy của Pháp sư Tịnh Không)
nói: thần thông hay cảm ứng đều do định lực thành tựu.
1- Cảm ứng
Nhà Phật nói: Có cảm thì có ứng, cảm sâu sắc, ứng hiện
tiền, cảm ứng đạo giao nan tư nghì. Lại nữa, Thiện Đạo đại
sư là hóa thân của Phật A Di Đà thì cảm ứng là việc tự
nhiên thôi.
2- Thần thông
Thiện Đạo đại sư đã chứng đắc Niệm Phật Tam Muội.
Trong Kệ niệm Phật, Hòa thượng Trí Tịnh nói: Người
chứng đắc lý Niệm Phật Tam Muội thì hiện tại còn ở đây là
Đại Bồ Tát rồi, vậy thì thần thông cũng là việc tự nhiên
thôi.

Câu hỏi 68 Nói về Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát.
Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát là hai vị Bồ tat hau can Phat A Di Da nhung con chua rõ ý nghĩa và chức năng của quý Ngài?.

Đáp:
Quán Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí Bồ Tát la hai bac dai si cao rot bac  nhat  tr\ong coi Cuc Lac Oai than quang minh, công đức lợi sanhcua hai vi nay vượt xa các bậc

thánh khác. Hai vị Bồ Tát này đều đã từng ở trong Ta Bà thế giới  tu Bồ Tát hạnh, được vãng sanh về cõi Cực Lạc,
làm gương cho mười phương nhân dân, phổ nguyện chúng
sanh cầu sanh Tịnh Ðộ. Hai vị Bồ Tát làm như vậy vì các
ngài có nhân duyên sâu đậm với chúng sanh cõi này. Hai
Ngài hiện đang ở nơi cõi này, làm lợi lạc lớn lao: Do la nhiep thu chang bo nguoi niem Phat, khien ho lia tam do,dac vol thuong luc, cung sanh Cuc Lac

1- Quán Thế Âm
Quán Thế Âm còn được gọi là Quán Tự Tại.
Vị Bồ Tát này dùng thiên nhĩ thông xem xét, thấy người
poi xưng niệm danh hiệu của ngài, thì rủ lòng từ bi cứu độ,
nên hiệu là Quán Thế Âm.
Và do Ngài quán sát khắp pháp giới, tùy theo cơ duyên
từng người, mà tự tại dẹp khổ, ban vui, nên Ngài cũng có
hiệu là Quán Tự Tại.
Tên Quán Thế Âm là nói về Bi; tên Quán Tự Tại là nói về

tri Vi dai Bo Tat nay cung voi Dai The Chi Bo Tat dung hau hai ben Phat A  Di  Ðà, giúp Phật giáo hóa chúng sanh,
thường được gọi là Tây Phương Tam Thánh.

Hiển giáo coi Quán Thế Âm Bồ Tát là đệ tử của Phật A Di
Ðà, Mật giáo thì coi Ngài là hóa thân của Phật A Di Ðà.
Lại nữa, Quán Âm Ðại Sĩ vốn chính là Chánh Pháp Minh
Như Lai.
Như kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Ðại Bi Tâm Vô Ngại Ðà
Ra Ni dạy: “Quán Thế Âm Bồ Tát, sức oai thần chẳng thể
nghĩ bàn, trong vô lượng kiếp về quá khứ, đã từng thành
Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Ðại bi nguyện
lực, vì muốn phát khởi hết thảy Bồ Tát, vì để an lạc thành
thục các chúng sanh, nên hiện làm Bồ Tát”.\

Trong kinh Quán Âm Tam Muội, Đức Thích Ca Như Lai
nói: “Quan Am thanh  Phật trước ta, tên là Chánh Pháp
Minh Như Lai, ta la đệ tử khổ hạnh [của Ngài]”

Kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng nói: Quán Thế Âm Bồ Tát,
trong vô lượng kiếp trước, ở nơi đức cổ Phật Quán Âm
Như Lai, thọ pháp “Như Huyễn Văn Huân Văn Tu Kim
Cang Tam Muội”. Từ Văn, Tư, Tu nhập tam ma địa, xoay
trở lại nghe chính nơi tự tánh, đắc Vô Thượng Ðạo.

Kinh Bi Hoa nói, Quán Thế Âm Đại Sĩ sẽ tiếp nối Phật A
Di Đà làm giáo chủ của Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, với
danh hiệu là Phổ Quang Công Ðức Sơn Vương Phật.
Quán kinh bảo: “Bồ Tát này thân cao tám mươi vạn ức na
do tha do tuần, thân màu tử kim, đỉnh có nhục kế, cổ có
viên quang mỗi phương diện đều trăm ngàn do tuần. Trong
viên quang có năm trăm Hóa Phật như Thích Ca Mâu Ni.
Mỗi mỗi Hóa Phật có  nam trăm Hóa Bồ Tát và vô lượng
chư Thiên làm thị giả.

Trong ánh sáng toàn thân hiện tất cả sắc tướng của chúng
sanh trong ngũ đạo. Trên đỉnh có thiên quang bằng tỳ lăng

già ma ni bửu. Trong thiên quang có một Hóa Phật, đứng
cao hai mươi lăm do tuần. Mặt của Quán Thế Âm Bồ Tát
như màu vàng diêm phù đàn. Lông trắng giữa hai mày đủ
màu thất bửu, chiếu ra tám vạn bốn ngàn thứ ánh sáng. Mỗi
mỗi ánh sáng có vô lượng vô số trăm ngàn Hóa Phật. Mỗi
mỗi Hóa Phật có vô số Hóa Bồ Tát làm thị giả, biến hiện tự
tại khắp thập phương thế giới.

Cánh tay màu như hoa sen hồng có tám mươi ức ánh sáng
vi diệu làm chuỗi đeo. Trong chuỗi đeo, ánh sáng ấy khắp
hiện tất cả sự trang nghiêmgón, mỗi mỗi đầu ngon co tam

vạn bốn ngàn lằn dường như ấn văn.

Mỗi mỗi lằn có tám vạn bốn ngàn ánh sang anh sang ay mem diu chieu khap tat ca.Bo tat dung tay bau nay tiep dan chung sanh

Lúc Bồ Tát cất chân lên, dưới lòng bàn chân có tướng thiên buc  luân tự nhiên hóa thành năm trăm ức đài quang minh.

Lúc để chân , có hoa xuốngkim cương ma ni rải rắc tất cả,không chỗ nào là chẳng đầy khắp. Các tướng khác nơi thân

Bồ Tát đầy đủ những hình hảo như thân Phật không khác,
chỉ có nhục kế trên đỉnh và vô kiến đảnh tướng chẳng bằng
Thế Tôn. Ðây là tướng sắc thân chơn thiệt của Quán Thế
Âm Bồ Tát”.

Quán Thế Âm Bồ Tát được đời xưng tụng là vị “Quán Thế
Âm Bồ Tát Cứu Khổ Cứu Nạn”. Như Phẩm Phổ Môn, kinh
Pháp Hoa có nói: Chúng sanh khổ não “nhất tâm xưng
danh thì Quán Thế Âm, ngay lập tức, [Ngài] liền xem xét
âm thanh ấy, đều giải thoát cho cả”. Kinh còn nói: “Vị Bồ
Tát Ma Ha Tát này hay ban sự vô úy cho kẻ đang trong sợ
hãi, nạn gấp nên thế giới Ta Bà này gọi ngài là đấng Thí
Vô Úy

Vì vậy, “gặp lúc cấp nạn, rơi vào khủng bố” chỉ cần chí
thành quy hướng Quán Thế Âm Ðại Sĩ, thiết tha chân thành
trì danh ngài thì đều được giải thoát.
2- Ðại Thế Chí Bồ Tát
Ðại Thế Chí Bồ Tát là một vị Bồ Tát đại trí, đại thế lực có
thể đến hết thảy chỗ, nên hiệu là Ðại Thế Chí. Theo kinh
Lăng Nghiêm, Ðại Sĩ “dùng tâm niệm Phật nhập Vô Sanh
Nhẫn… chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai… Nay
ở trong cõi này (Ta Bà) nhiếp người niệm Phật quy về Tịnh
Ðộ”. Ngài cùng với Quán Thế Âm Bồ Tát là hai vị hiệp sĩ
của Phật Di Ðà.

Quán kinh nói: “[Vị Bồ Tát này] dùng ánh sáng trí huệ
chiếu khắp hết thảy, khiến họ lìa tam đồ, đắc vô thượng
lực. Vì vậy, vị Bồ Tát ấy hiệu là Ðại Thế Chí”.
Kinh Bi Hoa nói: “Do ông nguyện giữ lấy tam thiên đại
thiên thế giới, nên nay ta đặt tên ông là Ðại Thế Chí”.
Kinh Tư Ích cũng nói: “Ta (tức Ðại Thế Chí Bồ Tát) đặt
chân xuống liền chấn động tam thiên đại thiên thế giới và
cung điện ma, nên có tên là Ðại Thế Chí”.

Ðại Nhật Kinh Sớ, quyển 5 chép: “Giống như quốc vương,
đại thần trong đời oai thế tự tại, nên ngài tên là Ðại Thế
Chí. Vị thánh giả ấy (tức Ðại Thế Chí Bồ Tát) đã đạt được
địa vị đại bi tự tại đến như thế, nên có tên như vậy”.
Quán kinh lại bảo: “Ðại Thế Chí Bồ Tát. Bồ Tát này thân
lượng lớn nhỏ đều đồng như Quán Thế Âm Bồ Tát. Viên
Quang mỗi mặt đều một trăm hai mươi lăm do tuần, chiếu
hai trăm năm mươi do tuần. Ánh sáng toàn thân chiếu toàn
thân quốc độ màu tử kim. Chúng sanh có duyên thảy đều

được thấy. Chỉ thấy ánh sáng một lỗ lông của Bồ Tát này
liền thấy quang minh tịnh diệu vô lượng chư Phật mười
phương, vì vậy nên đặt hiệu Bồ Tát này là Vô Biên Quang.
Dùng ánh sáng trí huệ chiếu khắp tất cả, khiến lìa tam đồ
được vô thượng lực nên Bồ Tát này có tên là Ðại Thế Chí”.
Thiên Quang của Ðại Thế Chí Bồ Tát có năm trăm hoa báu,
mỗi mỗi hoa báu có năm trăm đài báu, trong mỗi mỗi đài,
tướng dài ngắn của quốc độ thanh tịnh vi diệu chư Phật
mười phương đều hiện rõ

Nhục kế trên dỉnh như hoa bát đầu ma, trên nhục kế có một bình báu đựng các ánh sáng

khắp hiện Phật sự. Các thân tướng khác như Quán Thế Âm
không khác. Lúc Ðại Thế Chí Bồ Tát đi, thập phương thế
giới tất cả chấn động. Ðương lúc bất động có năm trăm ức
hoa báu, mỗi mỗi hoa báu trang nghiêm cao rõ như Cực
Lạc thế giới.

Lúc Bồ Tát này ngồi, quốc độ thất bửu đồng
thời dao động. Từ Hạ phương Kim Quang Phật thế giới
nhẫn đến Thượng phương Quang Minh Vương Phật thế
giới, trong khoảng giữa ấy, vô lượng vô số phân thân Vô
Lượng Thọ Phật, phân thân Quán Thế Âm Bồ Tát, phân
thân Ðại Thế Chí Bồ Tát, thảy đều vân tập Cực Lạc thế
giới, chật đầy hư không, ngồi tòa liên hoa, diễn nói diệu
pháp độ khổ chúng sanh.

Câu hỏi 69Tu thiền là tu tắt, tu Tịnh độ là tu vòng?
Có phải Tu thiền là tu tắt, tu Tịnh độ là tu vòng, phải không
thưa Thầy?

Nghĩ đơn giản là vậy, nhưng thực tế là ngược lại. Tại sa

Đáp:
vậy?
1- “Tu thiền trực chỉ nhơn tâm kiến tánh thành Phật”, đây là
lý thuyết ứng dụng ở thời tượng pháp. Hiện nay là thời mạt
pháp, căn cơ chúng sanh ngày càng hạ liệt nên không thấy
nh được. Một đời không thành tựu, phải tu nhiều đời mà
cũng chưa chắc thựu, (Tượng Pháp Quyết Nghi kinh)
sao nói là tu tắt đượcành t

!.2- Tu Tịnh độ nếu là thượng căn thượng trí, đời này đắc Lý

Niệm Phật Tam Muội (Lý Nhất Tâm Bất Loạn) thì là đại
Bồ Tát rồi, có thần thông tự tại vãng sanh (Kệ Niệm Phật
của Hòa Thượng Trí Tịnh), sao nói là tu vòng được! Mặt
khác, dù là hạ căn hạ trí, niệm Phật đạt Bất Niệm Tự Niệm
bảo đảm vãng sanh, mà vãng sanh thì một đời thành Phật,
sao nói là tu vòng được!

vậy Tứ tu là gì, thưa Thầy? trì danh niệm Phật để một đời này vãng sanh Cực Lạc
Thành Phật cứu độ chúng sanh.

Câu 70 Tứ tu là gì?
Cổ đức  da noi: “ Hanh gia Tinh do nen hanh hanh phap Tu tu. Vay Tu tu la gi  Thua thay

Dap Tu tu la bon phap do Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư đề xướng,

như sau:
1. Cung kính tu;
2. Vô dư tu
3. Vô gián tu;
4. Trường thoi tu

Trich Sach La Thu Cuc Lac

Thich Minh Tue

 

 

 

Viết một bình luận