Niệm Phật Một Môn Thâm Nhập

 21.NIỆM PHẬT MỘT MÔN THÂM NHẬP

 XƯNG DANH NHẬP BÁO ĐỘ,
  CHÁNH NHÂN NIẾT BÀN

I- Bài kệ ‘Niết-bàn chánh nhân’ của Đại sư Thiện Đạo

Pháp Sự Tán của Đại sư Thiện Đạo dùng hình thức kệ tán để giải thích ý nghĩa trọng yếu của kinh A-di-đà, trong đó có bốn câu vô cùng nổi tiếng, cũng là để giải thích đoạn kinh nói về chánh nhân vãng sanh ‘ít thiện căn thì chẳng được vãng sanh, chấp trì danh hiệu nhất tâm bất loạn thì được vãng sanh’ trong kinh A-di da

Cực Lạc vô vi, Niết-bàn giới,
Tùy duyên tạp thiện, khó vãng sanh;
Vì thế Như Lai chọn pháp yếu,

Dạy niệm Di-đà chuyên càng chuyên.

  1. Niết-bàn Báo độ

Cực Lạc vô vi, Niết-bàn giới’, Đại sư Thiện Đạo phán định thế giới Cực Lạc là cảnh giới Báo độ, cảnh giới Niết-bàn. ‘Vi’ là tạo tác, ‘Vô vi’ là xa rời sự tạo tác của con người, là sự triển hiện tự nhiên của tánh công đức. Tất cả sự tạo tác, đều là hữu vi, không phải vô vi. Thí như chúng ta xây một tòa lầu, nó là pháp hữu vi, tương lai sẽ bị diệt; chúng ta xây một ngôi tự viện, tự viện này rồi cũng hư hao hoang phế theo thời gian, vì chúng đều là pháp hữu vi.

Chỉ có Phật tánh là vô vi, thế giới Cực Lạc là vô vi, là cảnh giới Niết-bàn. Niết-bàn thì bất sanh bất diệt, không suy không biến, pháp thường trụ như thế. Tất nhiên, việc này hơi khó lý giải, vì đây là cảnh giới của cõi nước Phật, vô cùng cao siêu mầu nhiệm, là cảnh giới mà nơi đó Phật tánh hoàn toàn triển hiện.

  1. Tạp thiện chẳng sanh

Cảnh giới của cõi Phật cao siêu mầu nhiệm như vậy, nên Đại sư nói ‘tùy duyên tạp thiện khó vãng sanh’ là để giải thích câu ‘bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh bỉ quốc’. Ngài dùng bốn chữ ‘tùy duyên tạp thiện’ để nói ‘thiểu thiện căn phước đức nhân duyên’.

‘Tùy duyên tạp thiện’ là gì? Tùy duyên là không chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà mà tùy theo hứng thú, sở thích, hoàn cảnh của mình, gặp cái này học cái này, gặp cái kia học cái kia; tạp là pháp này cũng tu, pháp kia cũng tu, mà các pháp tu đều là pháp thiện, nên gọi là ‘thiện’. Dùng sự tùy duyên tạp thiện của phàm phu chúng ta (Đại sư Đàm Loan gọi đó là ‘công đức không thật’), mà muốn vãng sanh về cõi Niết-bàn thì không thể nào! Vì thế, Đại sư  nói ‘khó vãng sanh’, e rằng các ngươi không thể vãng sanh!

Đại sư Thiện Đạo giảng rất uyển chuyển, ý của ngài là muốn chúng ta bỏ hẳn sự tùy duyên tạp thiện, mà chỉ nên chuyên tu niệm Phật.

  1. Chuyên niệm ắt sanh

Hai câu kế tiếp nói ‘Vì thế Như Lai chọn pháp yếu, dạy niệm Di-đà chuyên càng chuyên.

‘Vì thế Như Lai chọn pháp yếu’ tức là trong kinh A-di-đà nói đến ‘văn thuyết A-di-đà Phật’. Chúng ta nghe Phật Thích-ca-mâu-ni giảng nói danh hiệu Phật A-di-đà, đây là pháp trọng yếu mà Ngài đã chọn cho chúng ta. Tùy duyên tạp thiện thì khó có thể vãng sanh, Đức Thế Tôn khuyên chúng ta nên vãng sanh, nhưng phải nhớ rằng chúng ta giỏi lắm cũng chỉ có thể tu chút tùy duyên tạp thiện, nếu không thể vãng sanh, thì phải làm sao đây?

Khi Thích-ca-mâu-ni Như Lai khuyên chúng ta vãng sanh, thì Ngài đã tuyển chọn một phương pháp vãng sanh cho chúng ta rồi. Vì được Phật Thích-ca-mâu-ni tuyển chọn, nên pháp môn Tịnh Độ của chúng ta có một vị thầy rất cao minh, đó là Phật Thích-ca, Ngài đã đích thân chọn cho chúng ta, chọn một cách chuẩn xác, vững vàng,  không phức tạp, rất an lạc; không thể nào Đức Phật lại chọn cho chúng ta một cách sai sót, chập chờn.

Phương pháp mà Phật Thích-ca-mâu-ni đã chọn cho chúng ta, mọi người đều có thể làm được, lại là pháp thù thắng, là pháp hạng nhất, không phải là pháp hạng hai, hạng ba.

‘Pháp yếu’ mà Đức Phật đã chọn cho chúng sanh trong đời ác ngũ trược là pháp môn gì? ‘Dạy niệm Di-đà chuyên

càng chuyên’, tức là ‘chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật… nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn’,

 Đức Phật Thích-ca dạy chúng ta niệm Phật A-di-đà, nếu đã chuyên, còn phải chuyên hơn, một chữ ‘chuyên’ chưa đủ để diễn tả tấm lòng từ bi tha thiết của Phật Thích-ca-mâu-ni đối với chúng ta

– Chúng sanh trong đời ác ngũ trược, các con phải chuyên niệm Phật nghen!

– Dạ bạch Phật ! Chúng con hứa sẽ chuyên niệm Phật.

– Chuyên rồi, còn phải chuyên hơn nữa đó!        Một mực chuyên đến cùng, tâm chuyên, hành cũng chuyên, hôm nay chuyên, ngày mai cũng chuyên; ở trong chùa chuyên, ra khỏi chùa cũng phải chuyên, gọi là ‘Chuyên càng chuyên’.

Nói chung, đoạn kệ tán này nói lên hai việc: ‘Tùy duyên tạp thiện’ là ‘thiểu thiện căn phước đức nhân duyên’, không thể vãng sanh; nếu xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà chuyên lại càng chuyên, thì chắc chắn được vãng sanh, pháp môn này là Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã chọn sẵn cho chúng ta, đây chính là đa thiện căn phước đức.

II- Cực Lạc là cảnh giới Niết-bàn vô vi

Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Cảnh giới Tịnh độ Cực Lạc là cảnh giới Niết-bàn vô vi”.

‘Vô vi’ là xa rời sự tạo tác của con người. ‘Niết-bàn’, Niết là bất sanh, Bàn là bất diệt, bất sanh bất diệt cũng có nghĩa là vô vi. Có tạo tác thì có sanh diệt, có sanh diệt thì không phải chân lý, vì Niết-bàn là bất sanh bất diệt nên gọi là chân lý. Nếu có một món đồ vật tồn tại trên thế gian, thì món đồ này nhất định là do nhân duyên hòa hợp mà thành. Còn Niết-bàn thì lìa khỏi sự tính toán, đo đạc, đong đếm của loài người chúng ta, cảnh giới Niết-bàn này là cảnh giới bất khả tư, bất khả nghị, bất khả xưng, bất khả thuyết.
Chúng ta muốn vãng sanh về cảnh giới bất khả tư nghị, bất khả xưng và bất khả thuyết này, nếu y theo sự tu hành của chính mình, thì làm sao có thể vãng sanh về cõi đó được?  Vì nhân và quả không phù hợp nhau. Nếu như sự tu hành và công đức của chúng ta không phải Tam luân thể không thì tất cả toàn là phước đức hữu lậu. Đại sư Thiện Đạo giải thích dạng này là ‘thiện tạp độc, hạnh giả dối’, không thể nói là chân thật được. Vậy thì, sự chân thật nằm ở đâu? Chân thật chính là sáu chữ ‘Nam-mô A-di-đà Phật’.

III- ‘Tùy duyên tạp thiện’ không thể vãng sanh

       Cực Lạc vô vi, Niết-bàn giới,
       Tùy duyên tạp thiện, khó vãng sanh;

Tùy duyên là gì? Mỗi người tùy theo duyên phận của chính mình gọi là tùy duyên. Thí như người gần gũi Mật tông, lấy công đức học Mật giáo để hồi hướng vãng sanh; người học Thiền thì lấy cảnh giới thiền hồi hướng vãng sanh; người theo Thiên Thai, dùng nhất tâm tam quán hồi hướng vãng sanh; người theo Hoa Nghiêm, dùng Nhất niệm thập pháp giới quán hồi hướng vãng sanh; người học Duy Thức, dùng ngũ trùng duy thức quán để hồi hướng vãng sanh.

Tất cả các pháp mà mỗi người đã theo học ở các tông phái đều là ‘tạp’, vì mỗi một tông phái đều không giống nhau nên gọi là ‘tạp’, gọi là ‘tùy duyên tạp thiện’.

Đại sư Thiện Đạo nói, muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc Niết-bàn, ‘tùy duyên tạp thiện e rằng khó vãng sanh’, ‘e rằng’ nghĩa là không thể nào, không thể nào vãng sanh, vì nhân và quả không phù hợp nhau

IV- Khuyên chuyên niệm danh hiệu được vãng sanh

Vậy thì, phải làm thế nào để được vãng sanh đây?

‘Vì thế Như Lai chọn pháp yếu’: Đức Phật Thích-ca đã khai thị trong kinh A-di-đà, pháp căn bản nhất để vãng sanh thế giới Cực Lạc gọi là ‘pháp yếu’ (pháp quan trọng), đó là ‘văn thuyết A-di-đà Phật, chấp trì danh hiệu’, cũng là ‘Vì thế, Như Lai chọn pháp yếu, dạy niệm Di-đà chuyên càng chuyên’. Phật Thích-ca-mâu-ni khuyên dạy chúng ta phải chuyên xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà. ‘Chuyên’ tức là nhất tâm, chuyên càng chuyên là chuyên lại càng chuyên hơn nữa.

V- ‘Chuyên càng chuyên’ có ba tầng ý nghĩa

‘Chuyên càng chuyên’ có ba tầng ý nghĩa:

Nghĩa thứ nhất là ân cần, tức là, vì việc này vô cùng quan trọng, e rằng chúng ta quên mất, e rằng chúng ta không hiểu tường tận, nên Ngài dặn đi dặn lại nhiều lần, một lần chưa đủ, còn phải lần thứ hai, lần thứ hai chưa đủ còn phải lần thứ ba, cho thấy việc này vô cùng quan trọng.

Nghĩa thứ hai, chữ ‘chuyên’ ở phía trước, chỉ bày cho chúng ta phải xả bỏ năm loại tạp hạnh, chuyên tu năm loại chánh hạnh, vậy mới gọi là chuyên. Chữ ‘chuyên’ của ‘càng chuyên’ ở phía sau, nghĩa là trong năm loại chánh hạnh, Ngài muốn chúng ta chuyên tâm nương theo chánh định nghiệp, chuyên xưng danh của Phật. Bốn loại trợ nghiệp khác khai triển ra là để chúng ta nương theo chánh định nghiệp.

Mục đích khai triển bốn loại trợ nghiệp này, là vì ngài muốn cho chúng ta thể ngộ được nhất hướng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Nếu chúng ta đã thể ngộ được cần phải nhất hướng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, thì chẳng phải bốn trợ nghiệp này đều hòa vào trong câu xưng niệm danh hiệu hay sao? Cho nên, chữ ‘chuyên’ cuối cùng, tức là gác lại bốn trợ nghiệp, chỉ  nương theo chánh định nghiệp xưng danh mà thôi

Bốn loại trợ nghiệp đã hòa vào trong chánh định nghiệp là thế nào? Chúng ta thường hay ra qui định mình cần phải tụng bao nhiêu bộ kinh, phải tĩnh tọa quán tưởng thế giới Cực Lạc, đồng thời phải lễ bao nhiêu lạy, đồng thời còn phải tán thán, cúng dường… nhưng giờ đây chúng ta đã biết rồi, ối chà! Thì ra chỉ cần xưng danh hiệu sáu chữ, thì đã phù hợp với bản nguyện của Phật A-di-đà, đã là chánh nhân để vãng sanh rồi, chẳng thiếu gì nữa cả.

Cho dù chúng ta tụng kinh, đương nhiên phải chuyên nương theo ba bộ kinh Tịnh độ, mà ‘ba bộ kinh Tịnh độ’ này nói về điều gì? Nói về ‘cho đến mười niệm’ trong nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà, vậy thì sau khi chúng ta y giáo phụng hành,  há chẳng phải nên thực hành ‘cho đến mười niệm’—tức là nhất tâm xưng danh hay sao?

Vì thế, ngay lúc muốn tụng kinh mà nghĩ đến niệm Phật, chúng ta cũng sẽ nói: ‘Đi niệm Phật thôi!’. Quán tưởng, lễ bái, tán thán cúng dường đều cũng vậy, đi niệm Phật thôi! Vì tất cả đều hòa vào trong một câu danh hiệu này rồi. Vì thế ‘chuyên càng chuyên’ nghĩa là phải xả bỏ tạp hạnh quay về chánh hạnh, gác lại trợ nghiệp mà chuyên tu chánh định nghiệp.

Nghĩa thứ ba, chữ ‘chuyên’ phía trước là chuyên một hạnh xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật; chữ ‘chuyên’ phía sau là chuyên một dạ, một dạ không hai lòng. Đó là có lòng tin không nghi ngờ. Xưng niệm câu danh hiệu này, bất luận chúng ta trên đến suốt cả cuộc đời xưng danh, dưới đến mười câu, năm câu, một câu, một niệm xưng danh, tuyệt đối đều được vãng sanh thế giới Cực Lạc, lòng tin này gọi là ‘chuyên càng chuyên’.

Vì thế, ba tầng ý nghĩa này có nghĩa là nhất hạnh nhất tâm. Chữ ‘chuyên’ phía trước, là tin nhận không nghi ngờ về sự cứu độ của Phật A-di-đà, trong tâm lãnh thọ sự cứu độ của Ngài, sau đó thì như Đại sư Thiện Đạo đã nói: ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’, cuối cùng chỉ chuyên một hạnh xưng danh này.

Nếu cuối cùng đã chuyên một hạnh này rồi, thì thậm chí còn vượt hơn những điều đã nói ở trên như tín, nghi, mê, ngộ, tự lực, tha lực, chúng ta đều chẳng quan tâm đến nữa, mà trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, mỗi khi cứ mở miệng ra là: Nam-mô A-di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…

Tín, nghi, tự lực, tha lực đã nói lúc trước, đều là nói cho người sơ cơ mới nhập môn ở giai đoạn ban đầu, bây giờ thì trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ đều xưng niệm một câu danh hiệu, tín nguyện hạnh v.v., đều có đầy đủ trong sáu chữ danh hiệu này rồi.

‘Chuyên càng chuyên’ có ý nghĩa thâm diệu như thế, và đây chính là ý nghĩa chân thật của câu ‘nhất tâm bất loạn’.

Đại sư Thiện Đạo là hóa thân của Phật A-di-đà, nên khi ngài khai thị pháp môn Niệm Phật này thì đều mang ý nghĩa trùng trùng vô tận.

Đại sư giải thích: “Văn thuyết A-di-đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhất nhật, thất nhật, nhất tâm bất loạn”, điều này phù hợp với nội dung ý nghĩa của nguyện thứ 18.

VI- Xưng danh niệm Phật là bản nguyện của Phật A-di-đà

Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Bốn mươi tám nguyện rộng lớn có nhiều môn, chỉ riêng niệm Phật là gần gũi hơn hết” (Hoằng thệ đa môn tứ thập bát, thiên tiêu niệm Phật tối vi thân).

Ý nói là: 48 nguyện rộng lớn mà Phật A-di-đà đã phát ra, trong đó chỉ có nguyện thứ 18 là gần gũi nhất với bản thân Ngài. Nguyện thứ 18 nói rằng: “Chí tâm tin ưa, muốn sanh về nước Tôi, cho đến mười niệm”. Niệm Phật cho đến mười niệm là nguyện thứ 18, gần gũi nhất với Phật A-di-đà, là bản hoài của Ngài, là chánh nhân để chúng sanh vãng sanh thế về giới Cực Lạc, cho nên nói ‘chỉ riêng niệm Phật là gần gũi nhất’.

Ngay trong 48 nguyện, chỉ có nguyện thứ 18 là nêu lên niệm Phật, còn 47 nguyện kia không hề đề cập đến niệm Phật ‘cho đến mười niệm’.

Đại sư Thiện Đạo lại nói: “Chỉ có niệm Phật được ánh sáng Phật nhiếp hộ, nên biết bản nguyện mạnh vô cùng” (duy hữu niệm Phật mông quang nhiếp, đương tri bản nguyện tối vi cường chỉ có những chúng sanh nào xưng danh niệm Phật, mới nhận được ánh sáng từ bi của Phật A-di-đà nhiếp hộ, nếu không xưng danh niệm Phật thì không có, nên nói ‘chỉ có niệm Phật’.

Tại sao ‘chỉ có niệm Phật mới được nhiếp hộ’ vậy? Vì bản nguyện Phật là mạnh hơn hết. Niệm Phật là nguyện thứ 18, niệm Phật bản nguyện là duyên lớn nhất và mạnh nhất.
Những điều vừa nói trên là điểm thứ hai của đại ý kinh A-di-đà, đó là  phương pháp vãng sanh.

PHẦN II – NĂM CHÁNH HẠNH VÀ NĂM TẠP HẠNH

I- ‘Tịnh độ môn’ và ‘Thánh đạo môn’

Người muốn giải thoát sanh tử luân hồi, thì cần phải học Phật và tu hành thì mới có thể được. Tám tông phái trong đạo Phật có thể chia làm hai pháp môn chính là Tịnh độ môn và Thánh đạo môn. Tịnh độ môn là niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc, mãi mãi xa lìa lục đạo luân hồi, ở cõi Tịnh độ trực tiếp thành Phật, sau khi thành Phật rồi, quay thuyền từ trở về thế giới Ta-bà, cho đến các thế giới trong mười phương, phân thân trăm nghìn ức, rộng độ chúng sanh, pháp môn này gọi là pháp môn Tịnh Độ.

Ngoài pháp môn Tịnh Độ ra, các tông phái khác như tông Thiên Thai, tông Tam Luận, tông Hoa Nghiêm, Thiền tông, Mật tông, Luật tông đều thuộc về Thánh đạo môn. Thánh đạo môn nghĩa là nhờ vào sức tu hành của chính mình ở thế giới Ta-bà, đời này chưa thành, đời sau tái lai, đời sau không thành, đời sau nữa tái lai, đó gọi là Thánh đạo môn. Phương pháp phán định này là phán định theo giáo lý của Tịnh độ môn.

Chúng ta học Phật là muốn giải quyết đại sự này, muốn đạt được mục đích này. Vấn đề kế tiếp là nên chọn Thánh đạo môn hay Tịnh độ môn? Chúng ta cần phải xem xét kỹ càng căn cơ của chính mình. Học theo Thánh đạo môn hay học theo Tịnh độ môn mới có thể đạt được mục đích? Nếu chúng ta thực sự xem xét kỹ căn cơ của chính mình, thì sẽ phát hiện ra mình không đủ tư cách để học Thánh đạo môn. Đã không đủ sức để học, mà đi theo Thánh đạo môn thì chúng ta còn phải tiếp tục luân hồi thêm nữa.

   II- Học Thánh đạo môn là nhờ vào tự lực đầy đủ giới định huệ được thành Phật

Vì Thánh đạo môn là quá trình nhờ vào sức lực của chính mình mà tu ‘giới định huệ’. ‘Giới’ là ‘ngũ giới’ thông thường hay nói, hoặc ‘tại gia bồ-tát giới’; người xuất gia thì có ‘tỳ-kheo giới’, ‘tỳ-kheo ni giới’, hoặc ‘xuất gia bồ-tát giới’.Chỉ nói riêng về ngũ giới: Trong cuộc sống hàng ngày mà chúng ta có thể giữ được trọn vẹn không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu, thì cũng chẳng dễ dàng gì.

Ví dụ như giới không vọng ngữ, trong lòng chúng ta biết rõ là phải chân thành thanh tịnh, lời nói đi đôi với việc làm, tâm và miệng nhất như, vọng ngữ là phạm giới, nhưng vẫn hay nói vọng ngữ, nhất là người buôn bán làm ăn, trong suốt cuộc đời của họ hầu như mỗi ngày đều vọng ngữ, vì họ cần làm ăn buôn bán, không thể không vọng ngữ.

Ngay cả giới không trộm cắp, tức là không lấy những đồ vật không nên lấy, thậm chí vượt ngoài việc tiêu dùng của mình, cũng tính là trộm cắp; trong công ty sử dụng con tem, bao thư, giấy viết thư, cũng tính là trộm cắp; đồ vật công cộng hoặc của người khác, nhỏ như cây kim sợi chỉ, lớn như tiền bạc, tự ý lấy đi, cũng tính trong phạm vi trộm cắp. Chúng ta dùng chiếc gương ngũ giới để soi lại lời nói và hành vi của mình, thì sẽ thấy rằng chúng ta rất dễ phạm giới.

Cũng như giới không sát sanh, có trực tiếp, gián tiếp cho đến thấy giết vui theo. Chúng ta không ăn chay, thì cho dù không sát sanh nhưng cũng mắc phải tội gián tiếp sát sanh, vì chúng ta ăn thịt, cho nên người ta mới giết súc vật lấy thịt để bán, vì chúng ta mà họ sát sanh.

Trên đây chỉ nói sơ lược về ‘ngũ giới’ mà đã như vậy rồi, huống hồ chi ‘thập thiện’, cho đến những giới vi tế hơn. Kinh Địa Tạng ghi:

‘Diêm-phù chúng sanh, cử chỉ động niệm, vô bất thị nghiệp, vô bất thị tội.

Chúng sanh trong cõi Diêm-phù-đề, cử chỉ, suy nghĩ, đều là nghiệp, đều là tội.

Nếu như chúng ta cậy tự lực để học Thánh đạo môn, nhất định phải trì giới, mà trì giới không thanh tịnh là đã kết ác duyên với chúng sanh rồi, đời sau phải trở lại để trả nợ cho dứt cái nhân duyên này. Muốn thoát ly lục đạo luân hồi thì phải giữ giới thanh tịnh, không vướng mắc với chúng sanh, nếu không, phạm giới rồi thì chỉ có một hướng là đọa lạc vào ba đường ác mà thôi.

Nói về ‘định’, tu định thấp nhất phải đạt mức ‘Dục giới định’, tức là tâm mình từng giờ từng khắc làm chủ được, có khả năng giữ gìn thanh tịnh, việc đến xử lý ngay, việc qua rồi không giữ lại vết tích, đối với chúng ta thật chẳng dễ gì làm được.

Còn “Sắc giới định”, ‘Vô sắc giới định’ của sơ thiền, nhị thiền trở lên, trong số những người học Phật, bất luận xuất gia hay tại gia, rất ít người tu thành tựu.

Thời đại gần đây, nổi tiếng nhất là lão Hòa thượng Quảng Khâm và lão Hòa thượng Hư Vân. Lão Hòa thượng Quảng Khâm không phải là người học Thiền, nhưng ngài đã từng có kinh nghiệm nhập định trong rừng sâu, cuối cùng lão Hòa thượng Quảng Khâm hiểu ra rằng, cho dù có kinh nghiệm thiền định cũng không thể nào thoát khỏi sanh tử luân hồi, nên lúc về già, ngài cũng chú trọng đến việc niệm Phật, hoằng dương pháp môn Tịnh Độ.

Còn lão Hòa thượng Hư Vân là người học Thiền, có kinh nghiệm nhập định vài lần. Tuy giảng về Thiền, nhưng ngài cũng giảng đạo lý của pháp môn Tịnh Độ, vì ngài hiểu rằng tu thiền không thích hợp với căn cơ của đại chúng.

‘Huệ’ là chỉ cho việc ‘minh tâm kiến tánh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải’. ‘Minh tâm kiến tánh’ là đạt đến cảnh giới khai ngộ, giác ngộ, đã chứng chân lý và Phật tánh, trên thế gian này mấy ai có thể đạt đến? Cho đến ‘thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải’ thì càng khó hơn nhiều.

  III- Học Tịnh độ môn là nương vào tha lực, vãng sanh Tịnh độ để thành Phật
Từ những điều nói trên có thể biết, nhờ tự lực tu hành, chỉ khi đầy đủ giới, định, huệ mới có thể liễu thoát sanh tử, đây là Thánh đạo môn, chúng ta có khả năng tu hay không? Chỉ xét riêng về điểm này thôi, thì có thể hiểu được là chúng ta tu không nổi, học không thành.

Ở ngay trước mắt ta là hầm lửa ba đường ác, phải làm sao đây? Còn pháp môn Tịnh Độ thì thế nào? Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn hoàn toàn nương nhờ vào oai lực của Phật A-di-đà, để xa lìa sáu nẻo luân hồi. Như trước đã nói, mục đích của đời người là ở việc học Phật pháp, mà mục đích của việc học Phật là để vượt khỏi sáu đường sanh tử luân hồi, đồng thời tiến thêm một bước để thành Phật.

Mục đích này chia làm phần ngắn hạn và dài hạn, việc học Phật cuối cùng là vì mục đích dài hạn nghĩa là thành Phật, nhưng mục đích ngắn hạn là giải quyết sanh tử luân hồi cần phải hoàn thành trước, nếu không, thân người đều khó được, thì nói gì đến việc thành Phật?

Vì thế, mục đích của việc học Phật, ngắn hạn là phải xa lìa lục đạo luân hồi, đồng thời phát bồ-đề tâm, hành Bồ-tát đạo, từng bước từng bước một đi về cảnh giới Phật.

Còn Thánh đạo môn như trên vừa nêu, muốn xa lìa lục đạo luân hồi, cần phải tu tập giới, định, huệ, mức độ thấp nhất là phải chứng được sơ quả Tu-đà-hoàn. Sơ quả Tu-đà-hoàn tuy chưa thể lập tức vượt khỏi sáu nẻo luân hồi, nhưng vị đó sẽ không đọa vào ba đường ác nữa, mà còn có phước báo bảy lần sanh lên trời, bảy lần sanh vào nhân gian, sau thời gian vãng lai bảy lần này, vị đó sẽ đạt đến địa vị tứ quả A-la-hán, vượt hẳn sanh tử luân hồi.

Nếu muốn thành Phật thì cần phải hồi Tiểu hướng Đại, phát bồ-đề tâm để hành đạo Bồ-tát, những hạnh nan hành năng hành, nan nhẫn năng nhẫn, sau đó từng bậc từng bậc bước lên từ Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, cuối cùng đạt đến Đẳng giác, Diệu giác rồi thành Phật, nhưng khi thực hành thì vô cùng khó khăn, lại phải trải qua khoảng thời gian lâu dài vô cùng.

Bồ-tát Long Thọ từng nói, Thánh đạo môn thuộc về Nan hành đạo, chỉ cậy vào sức mình, giống như đi bộ trên đất liền, rất gian khổ, hơn nữa thời gian rất dài, vô cùng khó khăn; Tịnh độ môn là nương nhờ vào sức của Phật A-di-đà, nương vào tha lực, giống như đi tàu thủy, không cần phí nhiều sức lực, một khi đến giờ thì liền tới bờ kia. Nương vào oai lực của Phật A-di-đà được vãng sanh Tịnh độ, về thế giới Cực Lạc để thành Phật, đó là Tịnh độ môn.

 

Cậy vào sức mình ở thế giới Ta-bà này, đời đời kiếp kiếp tu hành để liễu thoát sanh tử, vượt khỏi luân hồi cho đến thành Phật, đó là Thánh đạo môn; chúng ta là người học Phật, cần phải hiểu rõ sự khác nhau giữa hai pháp môn này, để khi học sẽ không bị lẫn lộn mơ hồ.

Tịnh độ môn là pháp môn hoàn toàn nương nhờ vào tha lực Phật A-di-đà, chỉ cần chúng ta đừng cho rằng, nếu không cần nỗ lực, mà chỉ hoàn toàn nương vào Phật lực thì thiếu chí khí, không nên có quan điểm như vậy. Vì chúng ta biết rằng, ngay cả năm giới mình còn giữ không được trọn vẹn, thì còn nói gì đến có sức hay không có sức?

Chính mình bất lực, vô năng, thì phải nương vào Đức Phật A-di-đà đại từ đại bi, chứ chẳng phải nói về các vị Phật, các vị Bồ-tát, các vị La-hán khác, thế thì, trong đời này kiếp này có thể xa lìa lục đạo luân hồi, vãng sanh Tịnh độ thành Phật, sau đó độ khắp chúng sanh trong mười phương.

(Còn Tiếp)

Trích Bản Nguyện Niệm Phật

Thích Minh Tuệ

Viết một bình luận