13.BẤT LUẬN TỘI HAY PHƯỚC NIỆM PHẬT
ĐỀU ĐƯỢC VÃNG SANH
Thế nào là việc lớn của đời người
Tông Tịnh Độ lấy việc ‘vãng sanh về Tịnh Độ Phật A-di-đà’ làm tông chỉ. Vì thế, học tập pháp môn Tịnh Độ chính là lấy việc vãng sanh về thế giới Cực Lạc làm mục đích. Cũng có thể nói, mục đích học Phật của chúng ta là muốn vãng sanh về Tịnh Độ Di-đà. Hơn nữa, đây không chỉ là mục đích học Phật của chúng ta, mà cũng chính là mục đích cao nhất, duy nhất của chúng ta sanh ra làm người.
Nếu chúng ta không vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì nhất định sẽ đọa lạc trong luân hồi sanh tử ở thời vị lai, chẳng phải đọa một đời mà còn nhiều đời sau nữa.
Tất cả chúng sanh còn luân hồi trong sáu nẻo, thì có một việc lớn, đấy là ‘việc lớn của đời người’. Việc lớn này không mang tính tương đối, mà mang tính tuyệt đối.Cái
gọi là tính tương đối thì có lớn có nhỏ, nhưng tính tuyệt đối thì vượt qua lớn và nhỏ.
Đời người ở thế gian tuy có thành bại được mất, họa phước khổ vui, nhưng chỉ mang tính tạm thời, sẽ qua đi, không phải vĩnh hằng, cho nên đấy không phải là việc lớn; chỉ có sanh rồi lại chết, chết rồi lại sanh, không thể vĩnh viễn ở cõi người hoặc ở cõi trời, rốt cuộc một ngày nào đó sẽ đọa vào ba đường ác, đây mới là việc nghiêm trọng nhất, lớn nhất trong cuộc đời của chúng ta.
Làm thế nào để giải quyết việc lớn trong đời người.
Bởi vậy, mục đích tu hành, mục đích học Phật, là phải vãng sanh về thế giới Cực Lạc, phải giải quyết việc lớn luân hồi sanh tử trong sáu đường này. Vì thế, chúng ta phải có quan niệm: Chúng ta chẳng phải vì học Phật mà học Phật, chẳng phải vì tu hành mà tu hành, mà học Phật và tu hành là để giải quyết việc lớn của đời người.
Nhưng chúng ta muốn giải quyết việc lớn của đời người, đấy không phải là chuyện dễ. Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn nếu không nương vào pháp môn niệm Phật của tông Tịnh Độ, mà muốn giải quyết việc lớn này thì không thể được. Nếu hiểu rõ về tông Tịnh Độ rồi chuyên nhất niệm Phật, không những có thể giải quyết được việc lớn ngay đời này kiếp này, mà không cần đợi đến lúc lâm chung.
Niệm Phật là chánh nhân vãng sanh Tịnh độ
Tông Tịnh Độ cũng gọi là ‘tông Niệm Phật’ chứng tỏ niệm Phật chính là chánh nhân vãng sanh Tịnh độ. Có nhân
như thế nào thì tự nhiên được quả như thế đó, không cần phải miễn cưỡng, cũng không cần phải làm thêm điều gì cả; nếu như cần phải cố gắng, tạo tác, thì đấy chẳng phải là tự nhiên. Có câu nói ‘trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu’, không thể có nhân mà không có quả, hoặc trồng dưa được đậu, trồng đậu được dưa, như vậy thì không phù hợp với nhân quả.
Trong vũ trụ có tính nhân quả tự nhiên, niệm Phật là nhân, vãng sanh là quả, đây là nhân quả tự nhiên. Nhưng nếu không hiểu được đạo lý ‘niệm Phật chắc chắn được vãng sanh’ này thì e rằng sẽ mất đi đạo tâm, cho rằng tu học pháp môn Tịnh Độ cầu vãng sanh về thế giới Cực Lạc không hề dễ dàng chút nào, nhân đó mà bỏ đi việc tu học tông Tịnh Độ, và cũng không dám cầu vãng sanh về Tịnh Độ của Phật A-di-đà; hoặc là tuy thường xuyên niệm Phật, nguyện sanh về Tịnh Độ Phật A-di-đà, nhưng trong tâm lại bất an, có nhiều nỗi lo âu và sợ hãi. Đấy là không hiểu rõ đạo lý ‘niệm Phật nhất định vãng sanh’ nên mới có những nỗi lo âu bất an không đáng có như thế.
Vãng sanh về thế giới Cực Lạc là nương vào công đức của câu danh hiệu ‘Nam mô A-di-đà Phật’, nương vào nguyện lực bi tâm của Phật A-di-đà. Đã như vậy, thì bất luận là người thế nào đi chăng nữa chỉ cần niệm Phật đều có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, điều căn bản là không nên có bất kì những lo âu và sợ hãi không cần thiết, bởi vì niệm Phật thì chắc chắn vãng sanh, đây là lẽ tự nhiên.
Nội dung hôm nay tôi giảng, hoàn toàn là căn cứ theo tác phẩm của Đại sư Thiện Đạo để trình bày.
Đại sư Thiện Đạo là tông Tổ của tông Tịnh Độ
Đại sư Thiện Đạo là vị cao tăng ở thời nhà Đường, từ xưa tương truyền là hóa thân của Phật A-di-đà. Đại sư Thiện Đạo hiệu là ‘Hòa thượng Quang Minh’, tại sao vậy? Bởi vì mỗi khi niệm Phật, từ trong miệng của Đại sư phóng ra ánh sáng của Phật, niệm một tiếng danh hiệu Phật thì có một luồng ánh sáng của Phật, mỗi tiếng mỗi tiếng danh hiệu Phật thì mỗi tiếng mỗi tiếng phát ra ánh sáng của Phật, cho nên người đương thời khen ngợi, tôn xưng ngài là ‘Hòa thượng Quang Minh’.
Vị Tổ sư nào kiến lập tông phái Tịnh Độ? Đó chính là Đại sư Thiện Đạo. Đại sư Thiện Đạo đã kết cấu giáo lý của tông Tịnh Độ một cách có tổ chức, có hệ thống, làm hoàn bị yếu tố mà một tông phái cần phải có đủ. Nếu như không có Đại sư Thiện Đạo, dù nói niệm Phật cầu vãng sanh thế giới Cực Lạc là thuộc về tông Tịnh Độ, nhưng lại thiếu đi tính tổ chức, cũng không có giáo lý thuần chánh ở bên trong.
Nói cách khác, nếu không dựa vào giáo lý của Đại sư Thiện Đạo để hiểu rõ về tông Tịnh Độ, mà chỉ căn cứ theo sự giải thích của các vị Đại đức khác, thì người niệm Phật không thể nào đạt được sự an tâm chân chính.
Pháp môn Tịnh Độ chính là khiến cho chúng ta hiện tại được an tâm, hiểu rõ và tin tưởng chỉ cần niệm Phật không thay đổi thì nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đời sau sẽ ở thế giới Cực Lạc, mau chóng thành Phật, từ cõi đời xấu ác, khổ lụy nơi thế giới Ta-bà này mà cao đăng về Tịnh Độ Phật A-di-đà, vĩnh viễn xa lìa không còn liên quan gì đến sáu nẻo luân hồi nữa.
Đại sư Thiện Đạo giải thích kinh A-di-đà
Văn ‘bất luận tội hay phước’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (trang 250, Thiện Đạo Đại sư toàn tập gọi tắt là ‘Thiện toàn’) nói: “Tất cả hàng phàm phu, bất luận tội phước nhiều hay ít, thời gian lâu hay gần, có thể trên đến suốt cả trăm năm, dưới đến một ngày, bảy ngày nếu nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh, chắc chắn không hoài nghi”.
Văn ‘chánh định nghiệp’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (trang 251, Thiện toàn) nói: “Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà”.
Hai đoạn văn này là giải thích nội dung quan trọng nhất trong kinh A-di-đà.
Kinh văn trong kinh A-di-đà rất ngắn, tổng cộng có một nghìn tám trăm năm mươi tám chữ, văn cú rất trong sáng, ngắn gọn, tuyệt vời, và cũng là một bộ kinh thường tụng niệm trong các thời khóa sớm tối ở tự viện.
Nội dung kinh A-di-đà nói gì? Đại ý có ba điểm:
Điểm thứ nhất, giới thiệu về sự trang nghiêm thanh tịnh ở thế giới Cực Lạc chỉ có vui mà không có khổ, dạy chúng
ta sanh tâm ngưỡng mộ, khuyên chúng ta nguyện sanh về thế giới Cực Lạc.
Điểm thứ hai, nói về phương pháp vãng sanh, cũng chính là chánh nhân vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Điểm thứ ba, nói về chư Phật trong mười phương đều dị khẩu đồng âm, chủ động khen ngợi Đức Phật Thích-ca-mâu-ni và chứng minh cho Ngài, đồng thời hướng dẫn khuyến khích chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Vì thế, hai đoạn văn này của Đại sư Thiện Đạo, trên một đoạn gọi là văn ‘Tựu nhân lập tín’, dưới một đoạn gọi là văn ‘Tựu hạnh lập tín’.
‘Tựu nhân lập tín và Tựu hạnh lập tín’ là căn cứ vào Người có thể tin tưởng và hạnh có thể tin tưởng, để kiến lập tín tâm cho hàng phàm phu chúng ta vãng sanh.
Tựu nhân lập tín
‘Tựu nhân’ là y theo người nào? Là y theo Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, chẳng phải là vị Bồ-tát, A-la-hán hoặc người khác. Sự từ bi và trí huệ của Phật đã đạt đến viên mãn, cho nên gọi là Người có đầy đủ đại bi, dùng lời của Phật mà nói thì do lòng đại bi đầy đủ nên kiến lập tín tâm vãng sanh, đây chính là ‘Tựu nhân’, y theo Đức Phật Thích-ca để kiến lập tín tâm, cho đến y cứ vào chư Phật trong mười phương để kiến lập tín tâm.
Văn ‘Tựu nhân lập tín và Tựu hạnh lập tín’ trong Quán kinh sớ (trang 250-252, Thiện toàn) nói:
“Lại nữa, chư Phật trong mười phương sợ rằng chúng sanh không tin lời Phật Thích-ca nói, nên các Ngài đồng
tâm, cùng một lúc hiện tướng lưỡi rộng dài trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới nói lời thành thật: ‘Chúng sanh các ông đều nên tin lời Phật Thích-ca nói, khen ngợi, chứng thật:
Tất cả hàng phàm phu, bất luận tội phước nhiều hay ít, thời gian lâu hay gần, có thể trên đến suốt một trăm năm, dưới đến một ngày, bảy ngày, nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh, chắc chắn không hoài nghi!’. Thế nên, một mình Đức Phật Thích-ca nói thì tất cả Đức Phật trong mười phương đồng chứng minh sự việc này. Đây gọi là Tựu nhân lập tín”.
Đoạn này là văn ‘Tựu nhân lập tín’, y theo Phật Thích-ca-mâu-ni cho đến lời khai thị và chứng thật của chư Phật trong mười phương để kiến lập tín tâm.
Tựu hạnh lập tín
‘Tựu hạnh’ là hạnh gì? Đại sư Thiện Đạo nói:
“Kế đến ‘Tựu hạnh lập tín’ nhưng hạnh thì có hai loại:
Một là chánh hạnh. Hai là tạp hạnh.
Nói về ‘chánh hạnh’ là hành giả chuyên căn cứ vào kinh nói về hạnh vãng sanh, đây gọi là chánh hạnh. Tại sao vậy?
Bởi vì nhất tâm chuyên đọc tụng các kinh như Quán kinh, kinh A-di-đà, kinh Vô Lượng Thọ.
Nhất tâm chuyên chú tư duy, quán sát, ức niệm về Y báo và Chánh báo trang nghiêm cõi nước Phật A-di-đà.
Nếu lễ thì nhất tâm chuyên lễ Phật A-di-đà.
Nếu miệng xưng thì nhất tâm chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.
Nếu tán thán cúng dường thì nhất tâm chuyên tán thán cúng dường Phật A-di-đà. Đây gọi là chánh hạnh.
Lại nữa, y cứ theo chánh hạnh này, lại có hai loại:
Một là ‘nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bốn uy nghi đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà’.
Nếu căn cứ theo những hạnh lễ bái, đọc tụng v.v. thì gọi là ‘trợ hạnh’. Ngoài hai hạnh chánh và trợ này ra, thì các điều thiện khác đều gọi là ‘tạp hạnh’.
Nếu tu hai hạnh chánh và trợ trước thì tâm thường gần gũi, ức niệm không gián đoạn, đây gọi là vô gián.
Nếu tu tạp hạnh sau thì tâm thường gián đoạn, tuy có thể hồi hướng vãng sanh, nhưng cũng đều gọi là hạnh xen tạp”.
Đoạn này là văn ‘Tựu hạnh lập tín’ y cứ theo ‘bản nguyện niệm Phật’ của Phật A-di-đà để kiến lập tín
tâm.
Giải thích về phương pháp vãng sanh
Văn ‘tạo tội hồi tâm’ trong Quán niệm pháp môn (trang 360, Thiện toàn): “Tất cả hàng phàm phu tạo tội chỉ cần hồi tâm niệm Phật A-di-đà, nguyện sanh về cõi Tịnh độ, trên suốt cả trăm năm, dưới đến bảy ngày, một ngày, mười tiếng, ba tiếng, một tiếng…, lúc sắp mạng chung, được Phật và thánh chúng tự đến tiếp dẫn liền được vãng sanh”.
Văn ‘niệm Phật chắc chắn vãng sanh’ trong Vãng sanh lễ tán (trang 540, Thiện toàn): “Nếu có chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hoặc bảy ngày đến một ngày, dưới đến mười tiếng, cho đến một tiếng, một niệm…thì chắc chắn được vãng sanh”.
Hai đoạn văn này cũng là pháp ngữ cốt tủy để giải thích kinh A-di-đà. Vừa đề cập đến kinh A-di-đà có ba điểm quan trọng, trong đó điểm quan trọng thứ hai chính là phương pháp và chánh nhân của sự vãng sanh.
Kinh A-di-đà nói:
Không thể đem chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi nước kia. Nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nghe danh hiệu Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì người ấy lúc sắp mạng chung được Đức Phật A-di-đà và chư thánh chúng hiện trước mặt người ấy. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A-di-đà.
Kinh Phật là kinh do Đức Phật Thích-ca nói, Phật thông đạt chân lý vũ trụ nhân sanh, vì thế những gì trong kinh Phật nói đều biểu đạt chân lý vũ trụ nhân sanh. Nhưng chúng ta là hàng phàm phu, tuy đọc tụng kinh điển do Đức Phật Thích-ca dạy, nhưng sự vãng sanh thì không hiểu rõ, thậm chí đọc sai, hiểu sai. Từ xưa đến nay có nhiều Đại đức chú giải kinh A-di-đà, nhưng chưa chắc chính xác hoàn toàn, cho nên cần phải có sự chọn lựa. Và chúng ta chọn lựa sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo, bởi vì ngài tương truyền là hóa thân Phật A-di-đà, hơn nữa ngài còn chứng ngộ được Niệm Phật tam-muội. Kinh điển mà Đại sư Thiện Đạo chú giải là do Đức Phật thị hiện đến chỉ dạy, gia trì, cho nên hoàn toàn có thể tin tưởng đáng để y cứ theo.
Mấy đoạn kinh văn này, Đại sư giải thích rất trong sáng và ngắn gọn, vừa đọc liền hiểu được ngay, không khiến cho mọi người xem khó hiểu hoặc hiểu nước đôi, hay cần phải có sự suy đoán.
Tiếp theo y cứ vào văn ‘bất luận tội hay phước’ của Đại sư Thiện Đạo, để đối chiếu với văn kinh của kinh A-di-đà, đồng thời giải thích sơ qua.
Giải thích ý nghĩa của hàng phàm phu
Tất cả hàng phàm phu, bất luận tội phước nhiều hay ít.
Hai câu này là giải thích câu ‘nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân’ trong kinh A-di-đà đã nói.
‘Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân’, Đại sư Thiện Đạo giải thích là ‘tất cả hàng phàm phu’; bất luận tội phước nhiều hay ít, đều thuộc về thiện nam tử, thiện nữ nhân.
Quán niệm pháp môn cũng nói: “Tất cả hàng phàm phu tạo tội, chỉ cần hồi tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về Tịnh độ”.
Nói như vậy thì kinh A-di-đà ghi: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân”, sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo chính là ‘tất cả hàng phàm phu, chỉ cần hồi tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện sanh về Tịnh độ’, như thế thì Đức Phật Thích-ca khen ngợi người ấy là thiện nam tử, thiện nữ nhân’, chỉ cần hồi tâm niệm Phật, chính là ‘thiện nam tử , thiện nữ nhân’, mà người ấy trước kia là phàm phu tạo tội, cũng chính là phàm phu tội ác trong sanh tử.
Giải thích một ngày hoặc bảy ngày
Bất luận thời gian lâu hay gần, chỉ cần trên suốt cả trăm năm, dưới đến một ngày hoặc bảy ngày.
Đây là sự giải thích ‘hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hoặc bảy ngày’ trong kinh A-di-đà.
Giải thích nhất tâm bất loạn
Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà
Đây là giải thích ‘chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn’ trong kinh A-di-đà.
‘Chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn’ rất nhiều người đọc lầm, hiểu sai. Tại sao? Bởi vì họ không có căn cứ theo sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo. Nếu như căn cứ theo sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo thì ‘nhất tâm bất loạn’ rất dễ hiểu, chính là ‘nhất tâm chuyên niệm’.
Như vậy, ai xem cũng hiểu, ai làm cũng được, kể cả người không được sự giáo dục, người không biết chữ, căn khí chậm chạp, trí huệ thấp kém, cũng có thể làm được thậm chí ngay cả loài chim Anh vũ, Bát ca cũng đều làm được cả.
Sự giải thích về ‘nhất tâm bất loạn’, có người giải thích về Sự nhất tâm và Lý nhất tâm là đoạn trừ phiền não, vô minh. Có người giải thích là Thanh tịnh tâm, hoặc tiến vào thiền định, có đầy đủ công phu an định. Nếu không như vậy thì cũng phải công phu thành phiến, trong giấc mộng cũng được như vậy, như thế mới là nhất tâm bất loạn. Sự giải thích như vậy là hoàn toàn sai lầm, hoàn toàn không đúng! Sự giải thích như vậy làm bóp méo bản ý của Phật Thích-ca-mâu-ni, trái với bản hoài của Phật A-di-đà, từ đó hướng dẫn sai lầm cho cả hàng nghìn hàng vạn người niệm Phật.
Sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo rất đơn giản, chính là ‘chuyên’, ‘chuyên niệm’.
Nhất tâm’, ‘nhất’ là không hai, không hai chính là chuyên, cũng chính là ‘chuyên tâm’.
‘Bất loạn’, chính là không tạp loạn, không tạp cũng là chuyên, cho nên sự giải thích của Đại sư Thiện Đạo chính là ‘nhất tâm chuyên niệm’, có nghĩa là tùy theo căn cơ của mỗi người mà chuyên niệm danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ này.
Căn cơ chúng sanh đều khác nhau, có người trong
chúng xuất gia, có người ở chúng tại gia, có người căn khí cao, có người căn khí thấp; có người xuất gia thời gian nhiều năm, niệm Phật nhiều năm, có người tại gia, sĩ, nông, công, thương, thời gian ít năm, niệm Phật ít năm… tuy căn cơ chúng sanh trong mười phương muôn nghìn sai khác, nhưng đều tùy theo căn cơ của mỗi người mà chuyên niệm câu Nam-mô A-di-đà Phật này, không có một tiêu chuẩn, điều kiện cố định nào cả. Nếu nói có điều kiện, có tiêu chuẩn, thì đấy chính là ‘chuyên niệm Nam-mô A-di-đà Phật’.
Giải thích xưng danh nhập Báo độ
Ngoài ra, Đại sư Thiện Đạo có một bài kệ, tuy chỉ có hai mươi tám chữ nhưng đây mới là giải thích về đoạn pháp ngữ trọng yếu của phần kinh văn cốt tủy trong kinh A-di-đà này.
Cực Lạc là vô vi, Niết-bàn
Tùy duyên tạp thiện, e vãng sanh
Bởi thế Như Lai chọn pháp yếu
Dạy niệm Di-đà chuyên lại chuyên.
Bài kệ này xuất phát từ Pháp sự tán quyển hạ của Đại sư Thiện Đạo. Quyển hạ là chuyên giải thích đại ý của kinh A-di-đà. Kinh văn chánh nhân vãng sanh trong kinh A-di-đà nói:
Không thể đem chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được vãng sanh về cõi nước kia. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói danh hiệu Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn.
Trong Pháp sự tán chính là nhằm giải thích đoạn kinh văn chánh nhân vãng sanh này.
Bài kệ này của Đại sư Thiện Đạo nói ‘Dạy niệm Di-đà chuyên lại chuyên’, ‘dạy’ chính là chỉ cho Đức Phật Thích-ca-mâu-ni dạy chúng ta phải ‘chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn’. ‘Nhất tâm’chính là không hai, không hai chính là chuyên. ‘Bất loạn’ chính là không tạp loạn, không tạp loạn cũng là chuyên, cho nên Đại sư Thiện Đạo nói ‘Niệm Phật Di-đà chuyên lại chuyên’.
Vì thế, chúng ta chỉ cần chuyên niệm câu danh hiệu A-di-đà này, chẳng cần quan tâm đến việc có đoạn được phiền não hay không, để đạt đến nhất tâm bất loạn, hoặc là phá trừ vô minh, rồi đạt đến Lý nhất tâm bất loạn, cũng chẳng cần quan tâm trong lúc niệm Phật có vọng tưởng hay không, hay là công phu thành phiến, trong mộng cũng nhất như. Không cần quan tâm đến những điều này, mà chỉ cần chuyên niệm câu Nam-mô A-di-đà Phật này là được rồi.
Hôm nay tâm thanh tịnh cũng tốt, tâm không thanh tịnh cũng tốt, điều quan trọng là chuyên niệm câu danh hiệu Phật này. Hôm nay qua đi, nếu như sinh mạng đã hết, chúng ta nương nhờ Phật tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu như sinh mạng chưa hết vẫn có sinh mạng ngày thứ hai. Ngày thứ hai chúng ta vẫn chuyên niệm câu Nam mô A-di-đà Phật này, chẳng cần quan tâm có phiền não hay không, là thiện hay là ác.
Sinh mạng của chúng ta còn ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, bảy năm, bảy mươi năm, đều nhất tâm chuyên niệm câu Nam-mô A-di-đà Phật này. Chúng ta muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì phải chuyên niệm danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật, chỉ nương vào câu Nam-mô A-di-đà Phật, không cần nương vào công hạnh, công đức, công phu khác, đấy gọi là ‘Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’.
Lời trong kinh văn và lời Tổ sư, đều là sự kết tinh của trí huệ
Kinh văn cũng tốt, hay là những tác phẩm của các vị Tổ sư truyền lại cho chúng ta cũng tốt, đều là trí huệ của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, đều là sự kết tinh thể nghiệm của lịch đại Tổ sư. Sự kết tinh trí huệ này, chúng ta có thể không cần phải tốn tiền, cũng không cần phải trải qua sự truy tìm gian khổ mà có thể tiếp nhận được.
Tiếp nhận ra sao? Chính là đọc thuộc lòng. Học thuộc lòng pháp ngữ này thì đạo lý trong đó sẽ nảy nở trong tâm chúng ta. Cũng như rải giống, hạt giống rơi xuống đất, trải qua một thời gian sẽ nảy mầm và lớn lên nở hoa, kết quả, giống như trí huệ của người khác ban cho chúng ta vậy.
Vì thế, pháp ngữ và kinh luận trong pháp môn của chúng ta, nếu có thể thì cố gắng học thuộc lòng, tuy nhiên trong thời gian ngắn không thể hiểu được, nhưng đọc thuộc lòng ôn đi ôn lại nhiều lần thì tự nhiên sẽ hiểu.
Tại sao tự nhiên sẽ hiểu? Đó gọi là ‘Tự tánh đầy đủ muôn pháp, tự tánh có thể sanh ra muôn pháp’. Tất cả muôn pháp thật ra đều ở trong bản tính, Phật tánh của chúng ta đều có sẵn, cũng đều hiểu rõ, chỉ vì bị vô minh tham sân si che lấp. Nhưng nếu chúng ta đọc thuộc lòng những pháp ngữ thì tự nhiên sẽ kích động những gì chúng ta vốn có.
Đây đều chẳng phải những thứ bên ngoài, mà là của chúng ta, là gia sản có sẵn trong nhà chúng ta, chỉ có điều từ rất lâu chúng ta đã bỏ đi, cất chúng trong kho mà thôi. Nếu như chúng ta đem nó ra rửa và mài tí xíu thì sẽ khôi phục lại nguyên trạng, nó vẫn phát ra ánh sáng. Vì thế, bài kệ này rất ngắn, hy vọng mọi người đều có thể đọc thuộc lòng.
Giải thích tâm bất điên đảo
‘Định đắc vãng sanh’
Bốn chữ này chính là nói: Quyết định vãng sanh về thế giới Cực Lạc, chắc chắn vãng sanh về thế giới Cực Lạc, là trăm phần trăm, chẳng phải là chín mươi chín phần trăm, cũng chẳng phải sáu mươi phần trăm, là nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ở đây giải thích câu kinh văn nào trong kinh A-di-đà?
Đấy là:
Người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A-di-đà.
Nếu như nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, ‘người ấy lúc sắp mạng chung’, nghĩa là người này khi sắp mạng chung còn chưa tắt thở; ‘Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy’, nghĩa là Đức Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng sẽ hiện trước mặt người ấy; ‘người ấy khi mạng chung’, nghĩa là người này lúc tắt hơi thở; tự nhiên được ‘tâm không điên đảo, liền được vãng sanh’, mà vãng sanh đến thế giới nào? Đến thế giới Cực Lạc của Phật A-di-đà.
Bađ oạn văn có hai tầng nhân quả
trong kinh A-di–đà
Đoạn thứ nhất: Xá-lợi-phất, không thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sanh nước kia.
Đoạn thứ hai: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu gày, hoặc bảy ngày, nhất tâm không loạn.
Đoạn thứ ba: Người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt. Người ấy lúc mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãnh sanh về cõi Cực Lạc của Phật A-di-đà.
Nếu xem những đoạn kinh văn này trong kinh A-di-đà, thì có hai tầng nhân quả.
Tầng thứ nhất: Chỉ cần nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà (nhân), thì có thể được quả ‘người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy’.
Tầng thứ hai: Phật A-di-đà đã hiện ra (nhân), tự nhiên làm cho chúng ta ‘tâm không điên đảo, vãng sanh Cực Lạc’ (quả).
Vì thế, tầng thứ nhất là chúng ta hiện tại chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, có thể lâm chung được Phật A-di-đà hiện ra trước mặt; tầng thứ hai là Phật A-di-đà hiện ra trước mặt, tự nhiên tâm không điên đảo, liền vãng sanh thế giới Cực Lạc: Đây chính là ‘hai tầng nhân quả’
Kỳ thật, chỉ cần xem qua kinh văn của kinh A-di-đà, chúng ta sẽ hiểu rất rõ ‘hai tầng nhân quả’ này. Nếu đọc theo tuần tự kinh văn, chúng ta sẽ hiểu rõ ý nghĩa của kinh.
Hiểu sai nghĩa kinh, oan ba thời Phật
Vì lẽ đó, có người giải thích ‘niệm Phật phải niệm đến lúc lâm chung tâm không điên đảo, chánh niệm hiện tiền, Phật A-di-đà mới có thể đến trước người ấy tiếp dẫn’, như vậy chính là đọc sai kinh văn, hiểu sai nghĩa của kinh, giải thích sai lời của Phật, làm cho mọi người không thể đạt được mục đích của Đức Phật, đây chính là oan ba thời Phật.
Mục đích của Phật là gì? Mục đích Phật xuất hiện ở thế gian chỉ có một việc, đó chính là cứu độ chúng sanh lìa khỏi luân hồi, khiến cho chúng sanh thành Phật. Mục đích này thành tựu là nương vào pháp môn nào? Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn, chỉ có nương vào pháp môn Tịnh Độ chuyên nhất xưng danh. Kinh A-di-đà nói rõ ràng như vầy: Chỉ cần niệm Phật, khi lâm chung chính Đức Phật hiện thân tự đến đón tiếp, khiến cho lúc chúng ta vừa tắt hơi thở, liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Điều này chẳng phải chỉ có Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói, mà các Đức Phật ở phương Đông đến chứng minh, các Đức Phật ở phương Tây cũng hiện đến chứng minh, tất cả các Đức Phật ở bốn phương trên dưới, mười phương thế giới trong tất cả vũ trụ hiện đến chứng minh nữa, chứng lời thành thật của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói không hư dối.
Vì thế, nếu giải thích sai kinh văn, thì không chỉ trái với ý của Phật, mà cũng làm hại đến chúng sanh. Đại sư Thiện Đạo giải thích rất đơn giản, rõ ràng, để cho chúng ta dễ hiểu, dễ làm, khiến cho chúng ta đời nay có thể an tâm, không sợ hãi.
Trong kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật A-di-đà nói ‘tất cả sợ hãi, làm cho bình an’.
(Còn tiếp)
Trích Bản Nguyện Niệm Phật
Thích Minh Tuệ


