Bát Nhã Vô Tri

 

                                                    188.Bát Nhã Vô Tri

Bởi vì Phật tánh chỉ có thể nhận biết bằng chân thật huệ, nên Bồ-tát phải tu vạn hạnh trang nghiêm  để thành tựu đầy đủ hai thứ Phước và Trí thì mới có thể nhận biết được Phật tánh. Bồ-tát tu vạn hạnh trang nghiêm để thành tựu Phước và Trí, rồi lại dùng Phước và Trí để thành tựu vạn hạnh trang nghiêm. Các hạnh trang nghiêm đó là: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ (Bát- nhãvà muôn vạn hạnh lành khác…, nên  các hạnh trang nghiêm ấy cũng chính là Lục độ Vạn hạnh.

Phước và Trí ví như ngàn con mắt, Lục độ Vạn hạnh ví như ngàn cánh tay được biểu thị bằng hìn  tượng của Ngài Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ-tát.

Tỳ-kheo Pháp Tạng thành tựu hết thảy các hạnh trang nghiêm mà trong mỗi một đức hạnh đó, đều  là từ tánh khởi tu, hoàn toàn tu từ nơi Tự tánh, chẳng phải là ở nơi các tướng hữu lậu bên ngoài mà  có thể được. Tuy rằng các hạnh trang nghiêm có đến vạn hạnh, nhưng quy chung cũng chỉ là để thành tựu hai thứ thiện tư lương “Phước và Trí.” Chúng ta cũng nên biết, chữ “trang nghiêm” ở đây có hai nghĩa:

 Một là đầy đủ hết thảy các đức, hai là trang hoàng lộng lẫy các sở hạnh. Do vìsở hạnh của Bồ-tát chứa đựng đầy đủ Phước và Trí, nên khi Bồ-tát nói ra lời nào, dạy ra điều gì cũng đều trở thành quy tắc, khuôn phép đúng đắn, chẳng sai lệch. Khi Bồ-tát làm gì, chỉ bày cái gì cũng trở thành mẫu mực cho đại chúng, đều thành pháp chuẩn mực chẳng thể biến cải được trong hết thảy các thời các chỗ, nên kinh bảo là Tỳ-kheo Pháp Tạng nói riêng và chư Đại Bồ-tát nói chung có “các hạnh trang nghiêm, đầy đủ khuôn phép.”

Khi ý niệm của sự hiểu biết ở mức độ thô thì gọi là “giác.” Khi ý niệm của sự hiểu biết ở mức độ

thâm sâu vi tế thì gọi là “quán.” Nói cho đầy đủ thì chữ “quán” ở đây có nghĩa là Diệu Quán Sát

trí. Tỳ-kheo Pháp Tạng dùng Diệu Quán Sát trí để quán sát hết thảy các pháp mà nhận biết rằng

 tất cả các pháp đều là huyễn hóa, đều là vô sở đắc, nên Ngài liền lìa các ý thức, chấp trước, so đo,

phân biệt… Tuy rằng Tỳ-kheo Pháp Tạng thành tựu được hết thảy các hạnh trang nghiêm, đầy đủ

khuôn phép như thế, nhưng vì Ngài tu hành theo đúng với chánh pháp “quán pháp như hóa, tam

 muội thường tịch,” nên thấy rõ hết thảy các pháp thành tựu ấy cũng đều là huyễn hóa, chẳng thật,

nhờ đó mà dù Ngài thực hành vô lượng vô biên các hạnh trang nghiêm, nhưng tâm vẫn an trụ tịch

tĩnh trong chánh định, chẳng thấy một pháp nào thật sự có thành tựu hay có chứng đắc. Phật giáo

Đại thừa gọi cái thấy biết ấy là Trí huệ Chân thật hay Bát-nhã Vô tri.

 

Quán pháp” có nghĩa là thực hành Bát-nhã thâm sâu, là cốt lõi của vạn hạnh, là gan mật của Bồ-

tát. Do vì có Tam Ðế (Tục đế, Không đế và Chân Ðế), nên chữ “pháp” ở đây hàm chứa hết thảy

các pháp thế gian và xuất thế gian, hữu tình, phi tình, các pháp sanh tử, Niết-bàn v.v… Đối với tất

 cả các pháp như vậy, Bồ-tát đều quán chiếu sâu xa mà thấy rằng chẳng có một pháp nào có thể

được, mọi pháp đều là vô sở đắc, nên kinh ghi là: “Quán pháp như hóa, tam muội thường tịch.”

Nói theo văn tự của Bát-nhã Tâm Kinh thì câu “Quán pháp như hóa, tam muội thường tịch”

 chính là “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không,

 độ nhứt thiết khổ ách.

 

Quán pháp như hóa” là quán hết thảy pháp đều là Trung đạo: “Chẳng phải là Không, cũng chẳng

phải là Giả.” Không và Giả chỉ là dùng để so sánh, ví von mà nhận biết lý Trung đạo mà thôi, chớ

nó chẳng phải là thật tướng của các pháp, nên kinh gọi hết thảy các pháp đều là “như hóa.” Tuy nói

 là hết thảy các pháp đều là như hóa, nhưng thật ra nó chẳng phải tuyệt đối là “không có” và cũng

chẳng phải là “không.” Mặt khác, nếu cho rằng các pháp là “có” thì “cái có” ấy lại chỉ là như huyễn

 hóa mà thôi, chẳng phải là thật có. Nói cách khác, chữ “như hóa” ở đây có cùng nghĩa với chữ “giả

có.” Vì hết thảy các pháp đều là giả có, nên toàn thể của cái được biến hiện ra từ nơi các pháp ấy

lại chỉ như là “không có.

Bồ-tát do trụ trong “pháp Chỉ” (Chỉ Quán) rất sâu thẳm đến mức có thể ngưng tâm mình lại một chỗ,

nên có thể dứt hết sạch hết thảy các danh tướng, lìa được tất cả phiền não, tâm tâm an trụ thường tịch,

nnh tịnh, chẳng thấy lỗi lầm của người khác thì khẩu nghiệp cũng theo đó mà thanh tịnh, không còn chê

trách, nói xấu, chỉ trích lỗi lầm của người khác nữa. Chữ “người” trong câu “khéo gìn khẩu nghiệp, không

chê lỗi người” không  phải là chỉ riêng cho hữu tình chúng sanh mà nó bao gồm hết thảy hữu tình, phi tình,

vạn sự, vạn vật và hết thảy các pháp. Người thấu rõ lý Trung đạo Thật tướng thì phải biết hết thảy vên kinh

Vô Lượng Thọ nói: “Quán pháp như hóa, tam muội thường tịch” và  Bát-nhã tâm kinh bảo: 

 

Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt

thiết khổ ách.” Nói cách khác, khi tâm mình an trụ được trong trạng thái Thường Tịch tam muội thì

 tất cả các pháp đều tự nhiên tịch tĩnh, chẳng còn sanh, chẳng còn diệt nữa. Tỳ-kheo Pháp Tạng

thường hành Trung đạo, tức là thường trụ tâm trong Diệu Quán Sát trí, nên thấy hết thảy các pháp

đều là như huyễn hóa, rồi từ trong trí huệ ấy mà tự nhiên nhập vào được trong Chánh định Bất sanh

Bất diệt và Thường Tịch rất sâu.

 

Nếu nói theo pháp môn Tịnh độ thì Niệm Phật tam muội là nhân, cái quả đức của nó là cái mà

phẩm Duyên Khởi Ðại Giáo của kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Định huệ Như Lai thông suốt rốt ráo,

đối tất cả pháp có thể đắc được tự tại tối thắng.”Luật NghiGiới là một trong Tam Tụ Tịnh Giới: 

Nhiếp Luật Nghi GiớiNhiếp Thiện Pháp GiớiNhiếp Chúng Sanh Giới. Nhiếp Luật Nghi Giới là thọ tr

năm giới, tám giới, mười giới, cụ túc giới, cho đến hết Do vì Tỳ-kheo Pháp Tạng tu hành khế hợp sâu xa

với Trung đạo, chánh định thường tịch, hiểu rõ nguồn gốc của thật tướng, xa lìa hết thảy các pháp

sanh diệt, nên tam nghiệp thân-khẩu-ý của Ngài tự nhiên thanh tịnh, vô cấu, vô nhiễm.

 

Vì thế kinh mới nói là Ngài “khéo gìn khẩu nghiệp, không chê lỗi người. Khéo gìn thân nghiệp, không mất

 luật nghi. Khéo gìn ý nghiệp, thanh tịnh không nhiễm.”Trong tam nghiệp nơi thân, khẩu và ý thì khéo giữ

gìn ý nghiệp là quan trọng nhất, vì sao? Vì nó làchánh hạnh của người tu Bồ-tát đạo. Một khi ý nghiệp đã

thaạn pháp đều không có lầm lỗi, vốn tự vô nhiễm, vốn tự viên thành. Vì sao? Bởi vì trong Chân Như Thật

Tướng hết thảy các pháp đều bình đẳng, chẳng tăng chẳng giảm, chẳng dơ chẳng sạch; cho nên

không còn có gì để chê trách hết. Vì thế, kinh Lăng Nghiêm mới nói: “Hết thảy sự rốt ráo kiên cố.”

Kinh Viên Giác cũng nói: “Các Giới, Định, Huệ và dâm, nộ, si đều là phạm hạnh” và “hết thảy

phiền não rốt ráo là giải thoát.

 

Luật Nghi trong đạo Phật là pháp dùng để ngừa ác; chấm dứt những hành vi sai trái.  L

thảy các giới luật trong nhà Phật. Trong Nhiếp Luật Nghi Giới, tại gia Bồ-tát phải thọ năm giới và

tám giới, xuất gia Bồ-tát thọ mười giới và Cụ Túc Giới v.v… Nhiếp Thiện Pháp Giới là lấy việc

 tu hết thảy thiện pháp làm giới. Nhiếp Chúng Sanh Giới là lấy việc lợi lạc hết thảy hữu tình làm giới.

Vì Giới là cây thang đưa đến hết thảy thiện pháp; cho nên hết thảy chúng sanh đã quy y Tam Bảo,

đang trụ trong nhà Phậtđều phải lấy Giới làm gốc. Kinh Phổ Siêu tam muội, Quyển một dạy:

“Mặc giáp giới đức, hóa độ chúng sanh,” đấy chính là ý nghĩa chân thật của câu “khéo gìn thân

nghiệp, không mất luật nghi.”

 

Ở đây, “áo giáp giới luật” có hai nghĩa: Một là hộ trì, hai là trang nghiêm. Hộ trì là lấy giới đức làm

giáp trụ; giống như lính cứu hỏa mặc áo giáp bằng chất thạch miên (amiant) để xông vào nhà lửa

tam giới, xông vào ngọn lửa tam độc đang cháy hừng hực để cứu vớt chúng sanh mà chẳng hề sợ

hãi. Trang nghiêm là dùng đức trì giới để tự trang nghiêm, chẳng mất luật nghi, làm khuôn phép cho

trời người, khiến hết thảy chúng sanh khâm ngưỡng, quy hướng, chấp nhận sự giáo hóa của mình, cung

kính giới đức của mình, học theo giới hạnh của mình, tấn tu định huệ đạt đến bờ kia của sự giải thoát.

 

Chư Bồ-tát giải ngộ và tu chứng trọn vẹn Trung đạo, lý sự vô ngại, nên tuy các Ngài biết rõ giới

định-huệ và dâmnộsi đều bình đẳng như nhau, nhưng lại chẳng phạm các lỗi dâm-nộ-si, chẳng

đánh mất luật nghi, đầy đủ khuôn phép. Do Tự tâm của Bồ-tát thường tịch, hết thảy bình đẳng,

nên các Ngài chẳng lấy bỏ cái gì, cũng chẳng yêu chẳng ghét cái gì, chẳng thấy mình phải, chẳng

bảo người khác sai. Người tu tịnh giới thì phải biết rõ, chê bai giới luật của Phật là phỉ báng Phật,

chê bai người phạm giới là hủy hoại tịnh giới của chính mình. Trì giới như vậy mới là trì giới một

cách chân thật, tu hành như thế là hạnh Phổ Hiền, tri kiến như thế là Bát-nhã Vô tri khế hợp

Trung đạo.

Diệu Âm Tri Thành

Thích Minh Tuệ

 

 

 

 

Viết một bình luận