Van Dap Tinh Do 45

373.Van Dap Tinh Do 45

Cau hoi 76; Cung Phat Hôm nay con đã xuất viện và khỏe rồi, con có một vấn

đề xin Thầy

:giải giúp dùm con.
Con có người bạn đồng tu, anh này dạy cho con là: trước
khi mình ăn sáng, trưa hoặc uống, nói chung là bất kỳ một
thứ gì mà mình định dùng (kẹo, bánh,…), thì mình hãy chấp
tay khấn nguyện: “Con xin dâng thực phẩm này lên cúng
dường Mười Phương Ba đời Chư Phật
.con xin nguyện
đem công đức này hồi hướng cho tất cả chung sanh cung con  deu tron thanh Phat dao

Như thế mà con đã thực hành và bây giờ hình như là thành
một thói quen rồi. Nhưng ngặt nỗi là má chồng của con bà
vừa mới qua đời chưa hết 49 ngày, vì thế con cúng cơm
mỗi ngày, con phải ăn cơm cúng và con lại khấn nguyện
cúng dường như trên đã nói, bổng con khựng lại vì đây là
cơm cúng linh, con không biết như vậy con có đắc tội với
chư Phật không

Đáp:

1- Cơm đã cúng linh rồi, mà cúng Phật là không đúng pháp.
Tuy nhiên Chư Phật không chấp trước nên đạo hữu không
có tội đâu. Đạo hữu đã làm với thiện tâm là tốt nhưng vì
không biết nên mắc lỗi trái pháp mà thôi. Vậy thì đạo hữu
nên chí tâm thành khẩn sám hối là được rồi. Chớ nên mặc
cảm tội lỗi sanh tâm bất an, phiền não làm chướng ngại
việc hành trì niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc. Đây là việc
lớn, tối quan trọng của đời người là giải thoát sanh tử một
đời thành Phật để cứu độ chúng sanh.
2- “Nguyện đem công đức này hồi hướng cho tất cả chúng
sanh cùng con đều trọn thành Phật đạo”.
Nguyện trọn thành Phật đạo là tốt, nhưng bao giờ mới
thành Phật đạo? Kinh Phật dạy muốn thành Phật phải tu trải
qua ba đại A tăng kỳ kiếp (một A tăng kỳ kiếp là số 1 trước
47 số 0).
A tăng kỳ kiếp thứ nhất tu Tam hiền là Thập Trụ, Thập
Hạnh và Thập Hồi Hướng
A tăng kỳ kiếp thứ hai tu từ Sơ địa đến Thất địa.
A tăng kỳ kiếp thứ ba tu từ Bát địa đến Thập địa.
Thời gian quá dài lâu.

Câu hỏi 77 Tu Tâm từ bi
Hỏi: Đạo Phật là đạo từ bi, con rất muốn tu từ bi mà con
cảm thấy khó tu quá. Vậy kính xin thầy từ bi chỉ dạy con.

Đáp:
1- Một câu Phật hiệu là đủ rồi, lại còn có dư là khác. Đạo
hữu ngày đêm Lão thật niệm Phật đi, niệm liên tục không
xen tạp, không gián đoạn, nhiếp tâm trọn vẹn, tuyệt đối
không để xen tạp bất cứ một ý niệm hay một việc gì khác
như kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp trọn sáu căn tịnh niệm
nối tiếp”. Đạo hữu sẽ đạt Bất Niệm Tự Niệm bảo đảm vãng
sanh Cực Lạc. Vãng sanh Cực Lạc, đạo hữu là Bồ Tát Đại
từ, đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xã rồi, thì còn nói chi đến hai
chữ từ bi nhỏ bé ấy.
2- Kinh Niệm Phật Ba La Mật dạy: “Oai lực danh hiệu Phật
chuyển hóa thân tâm dần dần thanh tịnh mà mình không hề
hay biết”.
Theo Duy thức học khi ta niệm Phật là gieo chủng tử vô
lậu Phật hiệu vào Tạng thức. Chủng tử vô lậu này sẻ
chuyển hóa dần dần những chủng tử hữu lậu (tham, sân, si,
mạn, nghi, tà kiến, ganh ty, hẹp hòi, ích kỷ (trái với từ
bi)…), gọi là bạch tịnh hóa chủng tử. Bao giờ Bạch tịnh hóa
xong (trong Tạng thức không còn chủng tử hữu lậu) thì
Tạng thức trở thành Bạch tịnh thức (vô cấu thức, A Mạt Na
thức, thức thứ chín), từ đây sẽ chuyển thành Đại Viên Cảnh
Trí thành Phật.
Người xưa nói: “Một niệm lành niệm mãi trong tâm, tâm
sẽ trọn lành”.
Y cứ vào ba thuyết trên thì không những riêng lòng từ bi
mà tất cả những thiện tính khác của đạo hữu sẽ lớn mạnh
song hành (tỷ lệ thuận) với tiến trình niệm Phật sâu cạn của
đạo hữu. Đây không phải là lý thuyết suông mà là sự thực
chứng nghiệm của bản thân Minh Tuệ.
3- Sau đây là tôi trích đăng lời dạy của Pháp sư Tịnh
Không:
Từ Bi Làm Gốc:
Nếu chúng ta không muốn đọa địa ngục thì phải tu tâm từ
bi, tâm yêu thương.
Tâm yêu thương tu bằng cách nào?
Mỗi người ở thế gian này đều có vật mà trong lòng đạo hữu
yêu thương, đạo hữu thử nghĩ xem, ngay trong một đời này,
việc gì là khiến cho đạo hữu yêu thương nhất? Đạo hữu
đem lòng yêu thương này mở rộng yêu thương tất cả chúng
sanh, đây chính là đại từ đại bi. Đem tâm yêu thương này
mở rộng, thì sân hận liền tiêu trừ. Nếu như trong lòng
thường hay nhớ đến những việc không vui như người đó
đắc tội với ta, người này ta vẫn chưa báo thù, ngày ngày
khởi lên ý niệm này.
Ý niệm này là không tốt, ý niệm này là oan oan tương báo
không hề kết thúc, hơn nữa ý niệm này là nghiệp nhân của
địa ngục, một ý niệm rất không tốt. Tại vì sao không nghĩ
tốt cho người nhiều một chút, thấy nhiều việc tốt của người
khác làm? Đem ý niệm này chuyển đổi lại thì liền tiêu được
tội nghiệp của địa ngục, cho dù có nghiệp nhân, duyên
không có thì sẽ không đọa địa ngục.

Câu hỏi 78: Tu thế nào gọi là chuyên tu?
Hỏi: Tu thế nào gọi là chuyên tu, thưa Thầy?

Đáp:
Nhị Tổ Thiện Đạo Đại sư dạy:
Công hạnh có hai loại: chánh và tạp.
Chánh hạnh là dựa vào các kinh vãng sanh mà tu tập như:
1. Chuyên tụng kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ,
kinh Vô Lượng Thọ, kinh Hoa Nghiêm Phẩm Phổ Hiền
Thập Nguyện, kinh Lăng Nghiêm Phẩm Đại Thế Chí Bồ
Tát Niệm Phật Viễn Thông Chương.
2. Quán sát ức niệm sự trang nghiêm của Chánh báo và y
báo Cõi Cực Lạc
3. Chí tâm lễ lạy Đức Phật A Di Đà.
4. Nhất tâm xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà.
5. Chí tâm tán thán cúng dường Đức Phật A Di Đà.
Hành trì ngoài 5 điều nói trên gọi là tu tạp hạnh.
Tu chánh hạnh gọi là chuyên tu, ngoài ra thì gọi là tạp tu.
Chuyên tu mới có thể đạt Bất Niệm Tự Niệm bảo đãm vãng
sanh.

Cau 79 hoi Hao quang Phat mau gi?  Thua  Thay

Dap; Thong thuong noi chung hao quang Phat mau trang

Sach Tu thu tay Tang noi hao quang Phat A di da mau do.Sach ke ba vi cao tang vien pho 

Da son, dong chi thanh le bai,  ngam nhin nguong mo tuong Quan The Am Bo tat, dot nhien

Ngai ung hien cho thay than tuong cua Ngai.

Sau khi ra ve moi vi thuat lai sac than va mau hao quang

cua Ngai Quan The Am khac nhau Cũng như kinh A Di Đà nói: Đồng nghe âm thanh nói pháp của tất cả
chim, cây, nước chảy, gió thổi,…, quý vị muốn nghe kinh nào thì nghe kinh nấy, nếu không muốn nghe thì không nghe.

Rõ ràng là “Nhất thiết duy tâm tạo “, hay “Vạn Pháp duy tâm” (kinh Hoa Nghiêm), Tâm tưởng sự thành (người đời nói).
Tóm lại hào quang Phật A Di Đà  khong có màu sắc cố định
mà tùy theo căn cơ, trình độ, sự huân tập và tâm tưởng của
mỗi người.

Câu 80 Hoi  Lạy Phật cách nào đúng?

Con được biết lạy Phật nên theo cách “ngũ thể đầu địa”, đại  
thể là hai chân, hai tay và đầu đụng mặt đất, tâm thanh tịnh
và trang nghiêm. Tuy nhiên thực tế con thấy nhiều người
lạy Phật với những cách thức khác nhau: có người ngửa hai
lòng bàn tay, trán cúi đặt vào lòng bàn tay. Có người thì úp
hai bàn tay xuống đất, trán cúi đặt vào lưng bàn tay. Có
người thì trán cúi chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa
đưa ra phía trước trán. Có người khi cúi đầu lạy xuống, giữ
lại một lúc. Có người cúi lạy xuống thì ngẩng đầu lên ngay.
Con không biết cách lạy nào đúng? Ý nghĩa của cách thức
lạy ấy thế nào, thưa Thầy?

Đáp:
Đúng như đạo hữu nói, lạy Phật theo cách “ngũ thể đầu
địa” là thể hiện lòng tôn kính nhất. Ngũ thể đầu địa có
nghĩa là năm vóc (đầu, hai tay và hai chân) gieo sát đất.
Theo Phật Quang đại từ điển, tập 3, dẫn sách Đại Đường
Tây Vực ký (quyển 2), nói về cách lạy Phật “năm vóc gieo
xuống đất” gồm: Trước hết, quỳ gối bên phải (gồm toàn bộ
gối, cẳng chân và mu bàn chân) sát đất, kế đến là gối bên
trái, rồi đến hai khuỷu tay sát đất, hai bàn tay ngửa ra duỗi
thẳng quá trán, sau cùng là đỉnh đầu đặt sát đất, giữ yên
một lúc, như thế gọi là một lạy.
Điều cần lưu ý động tác “hai khuỷu tay sát đất, hai bàn

tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán”. Động tác này biểu thị cho
việc hai tay người lạy nâng bàn chân của Thế Tôn cung
kính đảnh lễ. Cho nên, cách lạy này còn gọi là “đầu diện
tiếp túc quy mạng lễ” (đầu mặt chạm chân Thế Tôn cung
kính lễ lạy). Như vậy, cách lạy mà đạo hữu mô tả “trán cúi
chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa đưa ra phía trước

trán” là đúng với cách lạy “ngũ thể đầu địa” 
Một điều nữa cần lưu tâm là “đầu đặt sát đất, giữ yên một
lúc”. Việc cúi lạy rồi “giữ yên một lúc” là rất cần thiết vì
không chỉ thân mà cả tâm đều cung kính lễ. Do đó, cần một
khoảng thời gian để dốc hết tâm tư cung kính lễ lạy Phật.
Lạy Phật nên chậm rãi, thong thả mới trang nghiêm và
thành kính. Nên, những ai “cúi đầu lạy xuống, giữ lại một
lúc” là đúng với quy cách lạy “ngũ thể đầu địa”.
Theo Hoa Nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sau:
Khi kính lễ Tam Bảo năm vóc gieo sát đất có ý nghĩa nhiếp
phục sự kiêu mạn và tỏ lòng thành kính:
1. Khi gối bên phải sát đất nguyện cho chúng sanh được
đạo chánh giác.
2. Khi gối bên trái sát đất, nguyện cho chúng sanh không
khởi tà kiến ngoại đạo, tất cả đều an trụ trong đạo chánh
giác.
3. Khi tay phải sát đất, nguyện như Thế Tôn ngồi tòa kim
cương đại địa rúng động, hiện bày tướng lành, chứng nhập
đại Bồ-đề.

4. Khi tay trái sát đất, nguyện cho chúng sanh xa lìa ngoai dao khien ho vao chanh dao
5. Khi đỉnh đầu sát đất, nguyện cho chúng sanh lìa tâm kiêu
mạn, đều được thành tựu vô kiến đỉnh tướng.
Phụ chú: Trên đây là nói chung cho mọi người, đối với
hành giả Tịnh độ chuyên tu thì khỏi nguyện, biết vậy là
được rồi, hãy nhiếp tâm trọn vẹn, nhất tâm liên tục xưng
niệm Thánh hiệu A Di Đà suốt thời gian lễ lạy, niệm không
xen tạp không gián đoạn, không để xen tạp bất cứ một ý
niệm hay việc gì khác.

 

Trich Sach La Thu Cuc Lac

Thich Minh Tue

Viết một bình luận