Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ Cương Yếu (TT)

31.  Sáu chữ danh hiệu, căn cơ và giáo pháp đồng một thể, đầy đủ tín nguyện hạnh gọi là chánh định nghiệp


      Trong ‘phần Huyền nghĩa’ của Đại sư có nói

“Nay ở trong Quán kinh này, mười tiếng xưng danh hiệu Phật, thì có đầy đủ mười hạnh mười nguyện. Thế nào là đầy đủ?

Nói Nam-mô tức là quy mạng, cũng là nghĩa Phát nguyện hồi hướng. Nói A-di-đà Phật tức là hạnh của Phật. Vì nghĩa này nên chắc chắn được vãng sanh

Đây gọi là ‘giải thích sáu chữ’, Đại sư dùng ‘ba nghĩa sáu chữ này’ để giải thích đầy đủ về đức nghĩa của danh hiệu sáu chữ ‘Nam-mô A-di-đà Phật’. Đây là một trong những lời giải thích về ý nghĩa quan trọng nhất trong Quán kinh sớ, văn này rất có thể phát huy tinh thần cải chính xưa nay.

Để nói rõ nguyên nhân mười tiếng xưng danh đầy đủ nguyện hạnh của Đức Phật, nên nói ‘thế nào là đầy đủ’?… nương theo pháp thể để nêu ra nghĩa đầy đủ.

Ý nghĩa mà ‘ba nghĩa sáu chữ’ này bao gồm là ‘môn Cơ pháp’ và ‘môn Nguyện hạnh’, sáu chữ có nghĩa của tín, nguyện và hạnh, tín và hạnh tương đối thì trở thành nghĩa của môn Cơ pháp, Nam-mô có nghĩa năng tín, A-di-đà Phật tức là pháp cứu độ, đây gọi là Tín hạnh, hoặc gọi là Cơ pháp. Nhưng trong tín có nghĩa là nguyện, nguyện và hạnh tương đối thành môn Nguyện hạnh, cho nên trong sáu chữ của pháp thể thì căn cơ và giáo pháp đồng một thể, đầy đủ nguyện hạnh. Sáu chữ pháp thể vốn đầy đủ nguyện hạnh, cho nên không đợi chúng sanh phải tu hành để hồi hướng, đúng như thật thì trong từng tiếng từng tiếng đều đầy đủ nguyện và hạnh, nên nhất định được vãng sanh.

Giải thích nguồn gốc của sáu chữ này là do môn đồ Nhiếp Luận tông đương thời vào thời đại nhà Tùy, Đường, lấy người ác ngũ nghịch của phần Hạ phẩm hạ sanh trong Quán kinh, khi lâm chung gặp vị thiện tri thức dạy cho mười tiếng xưng danh hiệu Phật, việc được vãng sanh Cực Lạc, gọi đó là phương tiện thuyết của ‘Biệt thời ý thú’, cũng cho rằng một đời tạo ác chưa từng tu hành, mãi đến lúc lâm chung tuy có ‘nguyện vãng sanh’, chỉ cần mười tiếng xưng danh hiệu Phật, không thành ‘hạnh vãng sanh’, đây là ‘chỉ có nguyện mà không có hạnh’ thì không thể tức thời được vãng sanh.

Phật nói vãng sanh là phương tiện thuyết, vãng sanh chân chính là ‘khi khác’ xa ở đời vị lai, không ở ngay đời này. Phần trên là môn đồ tông Nhiếp Luận dùng ‘Biệt thời ý thú’ được trình bày trong Nhiếp Đại thừa luận, giải thích sai sự vãng sanh của Hạ hạ phẩm trong Quán kinh. Họ coi mười tiếng xưng danh trong phần Hạ hạ phẩm và sự xưng niệm thông thường ‘Nam-mô Đại Nhật Như Lai’, ‘Nam-mô Đa Bảo Như Lai’… là như nhau.

Đây là do họ không biết được giới hạn của giáo lý tông Tịnh Độ và giáo lý Thánh đạo môn, mà dùng quan niệm tự lực của Thánh đạo môn để xem Quán kinh, nên mới giải thích sai lầm như thế. Chủ trương này làm trở ngại việc hoằng dương giáo pháp tông Tịnh Độ, rất nhiều người nghe liền không tu Tịnh độ. Thích Tịnh độ quần nghi luận nói: “Nhiếp luận có mặt ở đây hơn trăm năm, các vị cao đức xem luận văn này mà không tu tịnh nghiệp Tây phương”.

Việc nhận thức sai lầm của Biệt thời ý này đã được Đại sư Đạo Xước chỉnh sửa ở chương thứ hai, đại môn thứ hai, quyển An lạc tập. Nay Đại sư phấn khích trứ tác chú sớ về Quán kinh. Quyển thứ nhất lập ra một tiết ‘Hội thông biệt thời ý thú’, để phá bỏ sự biện luận cho rằng ‘chỉ có nguyện mà không có hạnh’ của môn đồ tông Nhiếp Luận.

Đoạn văn giải thích sáu chữ  này có hai mặt trong và ngoài. Bên ngoài là giải thích mười tiếng xưng danh đầy đủ nguyện hạnh đối với vấn nạn của môn đồ tông Nhiếp Luận trong Thánh đạo môn. Bên trong, làm sáng tỏ sự cứu độ của hoằng nguyện Di-đà, đồng thời phát huy nghĩa lý sâu xa của việc niệm Phật vãng sanh.

Hai mươi sáu chữ như ‘nói Nam-mô tức là quy mạng’… là nói rõ hạnh nguyện đầy đủ trong sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật, trong đó hai chữ ‘Nam-mô’ là nói theo lập trường căn cơ chúng sanh, bốn chữ ‘A-di-đà Phật’ là nói theo lập trường của Di-đà.
‘Nam-mô tức là quy mạng’: Nam-mô có nghĩa là quy mạng. Quy mạng là trở về với sự cứu độ của Đức Phật A-di-đà, cũng có nghĩa tin theo ‘nhị tôn’ (Phật Thích-ca-mâu-ni và Phật A-di-đà) được nói trong ‘thí dụ hai con sông’, cho nên quy mạng tức là ‘tín tâm’.

‘Cũng là nghĩa phát nguyện hồi hướng’: Phát thệ nguyện vãng sanh gọi là ‘phát nguyện’, chuyển tự lực hướng về tha lực (sự cứu độ của Phật A-di-đà) gọi là ‘hồi hướng’, ‘nghĩa’ là đức nghĩa. Tâm quy mạng có nội hàm nguyện vãng sanh, vì lẽ đó cho nên quy mạng chính là để vãng sanh.

Ở đây quy mạng gọi là ‘tức thị’ (tức là), phát nguyện hồi hướng gọi là ‘diệc thị’ (cũng là). Bởi lẽ bản thân của từ ‘Nam-mô’ là ‘quy mạng’, cho nên nói ‘tức thị’, ‘tức’ ý nghĩa ‘đương thể đầy đủ’, ‘trực tiếp ngay bây giờ’, cũng tức là ‘đẳng ư’ (bằng với). Nhưng ‘phát nguyện hồi hướng’ là đức nghĩa đầy đủ của Nam-mô, có hàm nghĩa khác (biệt nghĩa), cho nên nói ‘diệc thị’, chứ không nói ‘tức thị’.

‘A-di-đà Phật tức là hạnh của Phật’: ‘Tức’ là đẳng ư, có nghĩa đương thể đầy đủ, bản thân pháp thể của sở quy (chỗ quay về – Phật A-di-đà) là ‘hạnh’, cho nên nói ‘tức thị’. Chữ ‘kỳ’ trong ‘kỳ hạnh’ là chỉ cho Nam-mô quy mạng phần trên, danh hiệu A-di-đà Phật là hồng danh có đầy đủ muôn công đức: Nếu có chúng sanh nào không vãng sanh thì Phật không thành Chánh giác, lấy hồng danh này làm hạnh nghiệp vãng sanh của chúng sanh. Một khi chúng sanh quy mạng niệm Phật thì lập tức có hạnh này, cho nên cũng gọi là tín hạnh không hai, căn cơ và giáo pháp đồng một thể.

‘Vì nghĩa này nên chắc chắn được vãng sanh’: Do sáu chữ hồng danh Nam-mô A-di-đà Phật đầy đủ nguyện và hạnh, cho nên nhất định ngay đời này vãng sanh về Tịnh độ Cực Lạc, Đại sư Đàm Loan gọi đó là ‘Sự nghiệp thành tựu’.


      ‘Đầy đủ nguyện hạnh’ có ba nghĩa quan trọng:

  1. Danh hiệu A-di-đà Phật thì đầy đủ nguyện hạnh: Nguyện là đại nguyện cứu độ chúng sanh, cũng tức là đại nguyện của Phật A-di-đà lúc ở nhân vị trong năm kiếp tư duy phát khởi. Hạnh là hạnh nghiệp

Nguyện hạnh viên mãn rồi thành tựu Nam-mô A-di-đà Phật, công đức đại hạnh và đại nguyện trong nhân vị đều đầy đủ ở trong danh hiệu, cho nên sáu chữ danh hiệu đầy đủ nguyện và hạnh không thiếu một mảy may. Ở đây, cái năng cụ là danh hiệu, cái sở cụ là hạnh nguyện của năm kiếp, nhiều kiếp ở nhân vị.

  1. Tín tâm quy mạng đầy đủ nguyện hạnh: Khi chúng sanh nghe uy đức danh hiệu Phật, danh hiệu trở thành tín tâm của chúng sanh, đây gọi là Tha lực tín tâm. Tín tâm này tự nhiên đầy đủ nguyện hạnh bao hàm trong danh hiệu, cho nên nói tín tâm đầy đủ nguyện hạnh. Ở đây cái năng cụ là tín tâm, cái sở cụ chính là hạnh nguyện trong danh hiệu.
  2. Xưng danh niệm Phật có đủ nguyện hạnh: Chúng sanh đã đầy đủ tín tâm thì có thể liên tục xưng danh. Sự xưng danh này chính là sự xưng danh hoàn toàn do tín tâm hiện khởi, cũng tức là ngay danh hiệu đó là thể của tín tâm, hiển hiện ra khẩu nghiệp, cho nên xưng danh từng tiếng từng tiếng đều đầy đủ nguyện hạnh. Ở đây cái năng cụ là xưng danh, cái sở cụ là hạnh nguyện trong tín tâm, cũng tức là nguyện hạnh vốn đầy đủ trong danh hiệu.

Danh hiệu pháp thể vốn đầy đủ nguyện và hạnh, có thứ lớp như vậy. Đại sư nói rõ trong danh hiệu thì đầy đủ nguyện hạnh. Danh hiệu Phật A-di-đà đã đầy đủ nguyện hạnh thì tin nhận như vậy mà xưng danh, từng tiếng từng tiếng đều đầy đủ nguyện hạnh, chứ chẳng phải chúng sanh tự lực tích lũy công đức rồi sau mới đầy đủ.

Như trước trình bày toàn bộ nguyện hạnh đầy đủ trong sáu chữ danh hiệu. Nói theo phương diện nguyện thì toàn bộ sáu chữ là nguyện; nói theo phương diện hạnh thì toàn bộ sáu chữ là hạnh. Chẳng qua Đại sư chia ra để giải thích, coi Nam-mô là nguyện, A-di-đà Phật là hạnh, đây thuận theo ý nghĩa mà nói một cách gần gũi.

Lại nữa, nói ‘xưng danh hiệu Phật mười tiếng tức là có đầy đủ mười nguyện mười hạnh’, hoàn toàn chẳng phải xưng danh một tiếng đầy đủ một nguyện một hạnh, xưng danh hai tiếng thì đầy đủ hai nguyện và hai hạnh, xưng danh mười tiếng thì đầy đủ mười nguyện mười hạnh, mà chỉ ra danh hiệu pháp thể vốn đầy đủ nguyện hạnh, cho nên xưng danh mỗi tiếng thì mỗi tiếng đầy đủ nguyện hạnh, không có một tiếng nào mà không đầy đủ nguyện hạnh cả. Vì thế, nguyện hạnh của một tiếng và nguyện hạnh của nhiều tiếng đều không lìa nguyện hạnh của Phật A-di-đà ban cho chúng sanh. Nguyện hạnh của Ngài ban cho chúng sanh tức là nghiệp nhân của sự vãng sanh, nghiệp nhân đã viên mãn rồi thì mỗi tiếng đều hiển hiện danh hiệu pháp thể A-di-đà Phật.
Nói tóm lại, nói xưng danh mười tiếng thì đầy đủ nguyện hạnh, hoàn toàn không phải lúc xưng niệm mới đầy đủ, mà danh hiệu sở xưng vốn đầy đủ nguyện hạnh, nay tin mà xưng danh hiệu Phật, cho nên xưng danh mười tiếng thì đương nhiên cũng đầy đủ nguyện hạnh. Thí như, sóng thấm nhuần vật, hoàn toàn không phải thành sóng mới thấm nhuần được vật, mà xưa nay nước có tác dụng thấm nhuần vật, tác dụng này sóng cũng đầy đủ, cho nên sóng có thể thấm nhuần vật.

  1. Hai môn hoằng và yếu, hai tông niệm và quán, ẩn hiện phế lập, từ giả vào chân

Trong Quán kinh sớ, bắt đầu từ ‘Tự đề môn’ thứ nhất trong ‘bảy môn bàn luận’ của ‘phần Huyền nghĩa’, Đại sư Thiện Đạo quy nạp nội dung của Quán kinh  viết về ‘sự xác định giữa yếu môn và hoằng nguyện’ rất nổi tiếng là:

 Giáo chủ cõi Ta-bà, vì nhân duyên phu nhân Vi-đề-hi thỉnh cầu nên Đức Phật rộng mở ra ‘yếu môn’ của Tịnh độ. Đấng Năng nhân ở cõi An Lạc hiện rõ ý đặc biệt của ‘hoằng nguyện’.
‘Yếu môn’ của Tịnh độ: Tức là hai môn Định, Tán trong Quán kinh. Định tức là dừng tất cả phiền muộn lo âu để được nhất tâm, Tán tức là bỏ ác để tu thiện, quay về hai hạnh này mà cầu nguyện vãng sanh.

Nói về ‘hoằng nguyện’: Như trong Đại kinh ghi:‘Tất cả phàm phu thiện hay ác đều được vãng sanh, không ai không nương vào đại nguyện, đại hạnh và đại lực của Phật A-di-đà để làm tăng thượng duyên’.
Hai môn này được nói trong Quán kinh.

Yếu môn’ tức là ‘Định thiện’ của mười ba pháp quán, và ‘Tán thiện’ của tam phước, chín phẩm.


      ‘Hoằng nguyện’ tức là nguyện thứ mười tám trong kinh Vô Lượng Thọ, cũng tức là ‘bản nguyện lực’ của Phật A-di-đà.
      ‘Yếu môn’ là tự mình tu hành Định thiện và Tán thiện, hồi hướng để cầu vãng sanh. Bồ-tát Long Thọ gọi là ‘Nan hành đạo’, Đại sư Đàm Loan gọi là ‘Tự lực’.

‘Hoằng nguyện’ là hoàn toàn nương vào sức bản nguyện của Phật A-di-đà. Bản nguyện Di-đà đã hoàn thành sẵn sức cứu độ không thể nghĩ bàn cho chúng sanh trong mười phương, cũng tức là đại nguyện, đại hạnh và đại lực, muôn nghìn căn cơ chúng sanh trong mười phương không bỏ sót một ai, thiện hay ác đều thâu nhiếp cả, đại nguyện rộng lớn cho nên gọi là Hoằng nguyện. Bồ-tát Long Thọ gọi đó là ‘Dị hành đạo’, Đại sư Đàm Loan gọi đó là ‘Tha lực’.

Tiếp theo ‘Tông chỉ môn’ thứ ba xác định tông chỉ của Quán kinh nói:

“Nay Quán kinh này: Tức là lấy ‘Quán Phật tam-muội làm tông, cũng lấy ‘Niệm Phật tam-muội làm tông”.

Bởi vì, nội dung của Quán kinh đã nói ở môn ‘yếu môn và hoằng nguyện’, vì lẽ đó nên có ‘hai tông niệm và quán’ là quán Phật của ‘yếu môn’ và niệm Phật của ‘hoằng nguyện’, nên gọi là ‘một kinh có hai tông’. Nhưng mà ‘quán Phật’ là con đường tự lực khó hành trì, đã không phải bản nguyện Di-đà, cũng chẳng phải bản hoài của Đức Thế Tôn, lại chẳng phải chúng sanh trong mười phương có thể thực hành được, mà ‘niệm Phật’ là con đường tha lực dễ hành trì, là bản nguyện của Phật A-di-đà, bản hoài của đức Thích Tôn, chúng sanh trong mười phương có thể thực hành được. Vì thế, ‘phần Lưu thông’ trong Quán kinh, Đức Thích Tôn không phó chúc pháp yếu môn, mà phó chúc pháp môn niệm Phật, tự Đức Thích Tôn ‘bỏ quán Phật mà lập nên niệm Phật’ (bỏ yếu môn để lập môn hoằng nguyện) nói:

Phật bảo A-nan: Ông khéo thọ trì lời này, thọ trì lời này tức là thọ trì  danh  hiệu Đức Phật Vô Lượng Thọ.


      Đại sư Thiện Đạo thể ngộ được ý nhất trí của Phật A-di-đà và Đức Thích Tôn mà giải thích: “Ở trên, tôi tuy nói về sự lợi ích của hai môn Định thiện và Tán thiện, nhưng căn cứ theo bản nguyện của Phật A-di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà”.

‘Phần Chánh tông’ trong Quán kinh nói cặn kẽ về mười ba pháp quán của Định thiện và tam phước, chín phẩm của Tán thiện, y theo đó mà tu tuy có lợi ích hồi hướng đều được vãng sanh, nhưng điều lợi ích lớn hơn không nằm ở hai môn Định, Tán này, mà là nằm ở một môn hoằng nguyện, cũng tức là nguyện niệm Phật vãng sanh thứ mười tám trong kinh Vô Lượng Thọ (phần Lưu thông của Đại kinh gọi đó là công đức lợi ích rộng lớn vô thượng).

Nguyện thứ mười tám là thệ ước, bảo chứng của Đức Phật A-di-đà đối với chúng sanh là niệm Phật nhất định vãng sanh về Tịnh độ của Phật A-di-đà, tin nhận sự cứu độ của Đức Phật A-di-đà (chí tâm tin ưa), nguyện sanh về Tịnh độ Di-đà (muốn sanh về nước Tôi), chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà (cho đến mười niệm), thì chắc chắn vãng sanh về Tịnh độ của Phật A-di-đà (nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác), cho nên ở ‘phần Lưu thông’ trong Quán kinh  Đức Thích Tôn phó chúc và tán thán ngài A-nan, muốn ngài ‘hãy thọ trì danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật’, cũng tức là nhất hướng chuyên xưng danh hiệu A-di-đà Phật được Đại sư Thiện Đạo giải thích. Ở đây có nghĩa là một lòng nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà, bởi vì sáu chữ hồng danh Nam-mô A-di-đà Phật có đầy đủ các công đức, có thể cứu độ tất cả chúng sanh trong mười phương, bất luận chúng sanh nào chỉ cần một lòng nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà, chuyên xưng danh hiệu A-di-đà Phật thì đã lãnh thọ toàn bộ công đức của Phật A-di-đà, chứ không phải là tự lực quán Phật hoặc tự lực xưng danh để hồi hướng cầu sanh Tây Phương như là tu tập ở yếu môn.

Từ ‘hai tông niệm và quán’ của ‘yếu môn và hoằng nguyện’ đến ‘một tông niệm Phật’ của ‘yếu hoằng phế lập’ (bỏ yếu môn mà lập môn hoằng nguyện), ‘niệm quán phế lập’ (bỏ quán lập niệm), có ý ẩn hiện ‘từ giả vào chân’ (từ phương tiện nhập vào chân thật).

Đây tức là các loại căn cơ được Đức Thích Tôn hướng dẫn từ Thánh đạo môn tiến vào Tịnh độ môn, lại từ yếu môn trong Tịnh độ môn quay về xây dựng hoằng nguyện niệm Phật thuộc bản nguyện A-di-đà. Vì thế, mục đích của Quán kinh không nằm ở mười ba pháp quán thuộc về Định thiện và tam phước, chín phẩm thuộc về Tán thiện, mà nằm ở chỗ nhất hướng chuyên xưng danh hiệu A-di-đà Phật. Biểu đồ như sau:

 

 

 


VII. Phật đứng trong hư không, hiện rõ hoằng nguyện, Vi-đề-hi vừa thấy, đắc Vô sanh nhẫn

Phần đầu có nêu ra Đại sư Thiện Đạo nói: “Đấng Năng nhân cõi An Lạc (Di-đà) hiện rõ ý đặc biệt của hoằng nguyện” trong ‘phần Huyền nghĩa’, nhưng rốt cuộc Đức Phật A-di-đà ‘hiện rõ hoằng nguyện’ ở đoạn nào trong Quán kinh? Là phần đầu ở pháp ‘quán Hoa tòa’ thứ bảy trong mười ba pháp quán của ‘phần Chánh tông’.

Đây chính là chỗ ‘hiện rõ hoằng nguyện, Vi-đề-hi nhập tín’. Cũng trong phần đầu ở pháp ‘quán Hoa tòa’, khi Đức Thích Tôn biểu đạt cần nói ‘pháp để diệt trừ khổ não’ thì Đức Phật A-di-đà ứng theo tiếng của Đức Thích Tôn, lập tức hiện ra ở trong hư không để cho phu nhân Vi-đề-hi thấy. Đại sư Thiện Đạo giải thích đoạn này là ‘theo tiếng liền hiện, chứng đắc vãng sanh’. Ý cho rằng ‘pháp diệt trừ khổ não’ ở ngay nơi bản thân Di-đà, hễ là chúng sanh khổ não nghiệp chướng sâu nặng nương vào sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì nỗi khổ ấy lập tức tiêu trừ, quyết định vãng sanh, không đoạn trừ phiền não mà đắc Niết-bàn, từ đây về sau chỉ cần nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.

Cũng tức là phu nhân Vi-đề-hi thấy Phật, không chỉ đơn thuần là mắt thấy thân Phật, mà còn hiểu rõ, tin sâu đây là Phật cứu độ mình. Nói cách khác, tức là thấy rõ nguyện lực của Phật A-di-đà.

Theo ý này thì ‘quán Chân thân’ thứ chín, nói:

“Vì quán thân Phật nên thấy được tâm Phật, tâm Phật chính là đại từ đại bi, dùng vô duyên từ mà thâu nhiếp các chúng sanh”.

Thấy thân Phật tức là thấy tâm Phật, thấy tâm Phật tức là ngộ được vô duyên đại từ, đồng thể đại bi của Phật nằm ở chỗ cứu độ bản thân mình là bọn hèn mọn, xấu xa, sợ sệt yếu ớt, đây tức là nhập tín, cũng tức là đạt đến Vô sanh pháp nhẫn (tín tâm bất thoái) của ‘tín ngộ hạnh’.

 

Điều này giống với đoạn văn ‘nghe danh hiệu Ngài, tín tâm hoan hỷ cho đến một niệm, chí tâm hồi hướng nguyện sanh về cõi nước kia, liền được vãng sanh trụ bậc bất thoái chuyển’ được nói trong văn Thành tựu nguyện mười tám của Đại kinh.

 

Đại sư Đàm Loan nói ‘danh tức là pháp’, ‘danh và thể không hai’, ‘danh và thể là một’, thấy thân Phật mà phát khởi niềm tin (thấy Phật đắc Vô sanh pháp nhẫn) và nghe danh hiệu Ngài mà phát khởi niềm tin (nghe danh hiệu Ngài mà được bất thoái), cửa vào thì khác nhau nhưng kết cuộc giống nhau.

Bởi thế, nghe và thấy cuối cùng giống nhau đều là thấu rõ sự từ bi cứu độ thuộc đại nguyện, đại hạnh, đại lực của Phật A-di-đà, đây gọi là ‘nghe thấy như nhau’. Để nói cụ thể ý nghĩa này, Đại sư nêu ra ‘ví dụ con đường tốt giữa hai dòng sông’ trong phần Giải thích ba tâm, nói rõ hành giả đi trên con đường tốt, do tự mình tham dục, tâm sân mãnh liệt, không thể dừng được, tới lui đều chết, ngay lúc đọa vào địa ngục, bỗng nhiên nghe được tiếng cứu độ của Phật A-di-đà, nói:

“Ông nhất tâm chánh niệm đi thẳng đến đây, Ta sẽ bảo vệ ông, đừng sợ rơi vào trong nước và lửa”.

Bỗng nhiên nghe lời này giống như tiếng sấm qua tâm, hoát nhiên tỉnh ngộ, niềm tin phát khởi, không thể nghĩ bàn, khen ngợi chưa từng có, lập tức ở trong cảnh giới tâm vô cùng an lạc và rất mãn nguyện (bất thoái chuyển). Việc thấy Phật hoặc nghe Phật được nói trong pháp môn Tịnh Độ, tức là thể ngộ được cảnh giới này vậy. Ví dụ ‘hai dòng sông’ có thể nói là miêu tả cụ thể lịch trình nơi tâm của hành giả, mà tiếng kêu gọi của Đức Phật A-di-đà là nội hàm cụ thể của lời nguyện thứ mười tám. Như biểu đồ dưới đây.

Tiếng gọi Đức Phật A-di-đà: “Ông nhất tâm chánh niệm đi thẳng đến đây, Ta sẽ bảo vệ ông, đừng sợ rơi vào trong nước và lửa”.

Nguyện thứ mười tám: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương, chí tâm tin ưa muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác (chỉ trừ tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh pháp)”.

 

 

Hành giả được ánh sáng (trí huệ) của Đức Phật A-di-đà chiếu soi, biết rõ mình là căn cơ tham, sân, tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp, tam định tử, không thể nào cứu được, nhưng cùng lúc này, âm thanh từ bi cứu độ ‘Ta có thể cứu ông, đừng sợ hãi’ của Đức Phật A-di-đà chảy vào thân tâm, trở thành người niệm Phật tin sâu vào căn cơ và giáo pháp, không sợ lửa (sân) và nước (tham), an tâm đi trên con đường tốt. Điều này được nói trong ‘quán Chân thân’ là:

 Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, thâu nhiếp chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ.

Gọi là ‘trực lai’ (thẳng đến) tức là không cần đi đường vòng xa xôi, không do dự, cũng tức là nếu không thể thay đổi nguyên trạng, thì cứ giữ tâm trạng hiện tại mà nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Đây tức là không cần để ý đến sự tham, sân của mình, mà chỉ ngẩng đầu bước trên con đường tốt của nguyện lực Phật A-di-đà, chỉ nương vào sự từ bi cứu độ của A-di-đà, đó gọi là ‘tin thuận theo ý của Đức Phật A-di-đà và Đức Thích Tôn, không quan tâm đến hai dòng sông lửa và nước, mỗi niệm không bỏ sót, nương vào con đường nguyện lực của Phật’.

Kẻ nam, người nữ, xuất gia hay tại gia, kẻ ngu, người trí tùy theo căn cơ của họ, chỉ cần niệm Phật không hề hạn chế, nếu có hạn chế thì chúng sanh trong mười phương tuyệt đối không thể vãng sanh.

Vì thế, tiếng gọi ‘trực lai’ là đỉnh điểm bi tâm của Phật A-di-đà, là đỉnh cao của nguyện lực. Đây chính là chỉ ra bản nguyện ‘chúng sanh trong mười phương cho đến mười niệm, nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’ của Phật A-di-đà’ là ‘lời nguyện siêu việt’.

Gọi là ‘lời nguyện siêu việt’ tức là bi nguyện vượt hẳn chư Phật trong mười phương, ba thời, dùng bản nguyện không thể nghĩ bàn của Phật A-di-đà để cứu độ những chúng sanh không thể được cứu độ, để cứu độ những người không thể vãng sanh, cho nên bản nguyện của Phật A-di-đà gọi là ‘Siêu thế bi nguyện’, con đường này được mệnh danh là ‘Siêu thế trực đạo’.

Bởi lẽ, Đức Phật A-di-đà lúc ở nhân địa phát ra bản nguyện siêu việt ‘chúng sanh trong mười phương, cho đến mười niệm, nếu không vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác’, cũng chính là vì thành tựu được bản nguyện siêu việt độc nhất vô nhị này, cho nên  Đức Phật này gọi là ‘Nam-mô A-di-đà Phật’. Vì lẽ đó, Đức Phật A-di-đà khác xa với các Đức Phật khác, hàng phàm phu tham sân, người ác cực nặng ở trong đời ác ngũ trược, chư Phật trong mười phương đều không có nguyện lực để cứu độ những chúng sanh này, và cũng không có Tịnh độ nào có thể dung chứa họ.

Chư Phật trong mười phương chỉ có một mình Đức Phật A-di-đà có nguyện lực này để cứu vớt chúng sanh, có Báo độ này để dung chứa chúng sanh. Vì thế, bản nguyện siêu việt này gọi là ‘hoằng nguyện’ vượt hơn chư Phật trong mười phương, ba thời, cho nên trong kinh Đại A-di-đà, Đức Thích Tôn hết sức ca ngợi Nam-mô A-di-đà Phật là:

               Vua trong các Đức Phật, tôn quý trong quang minh.


        Nếu như mười phương chúng sanh chúng ta đọa vào địa ngục thì lập trường của Đức Phật A-di-đà đứng không vững, lý do Nam-mô A-di-đà Phật liền mất đi, đây là vì thân phận Phật A-di-đà.

Trong khi ta chìm đắm trong biển lớn, không đủ sức để ngoi lên, sắp bị chìm chết, thì đích thân Đức Phật A-di-đà nhảy vào biển lớn cứu ta lên bờ, không những làm cho ta sống lại mà còn được bất thoái chuyển.

Đương lúc ta sắp đọa địa ngục mới phát hiện Đức Phật A-di-đà đã ở đây chờ đợi đã mười kiếp.

Khi chúng ta không thể thực hành giới định huệ, tham sân si cũng chẳng đoạn trừ mà nghe đến tiếng gọi bi thương của Phật A-di-đà là hãy thẳng đến đây, vì thế rất an lòng bước trên con đường tốt, sống tức là tín tâm, tín tâm là tức hằng ngày niệm Phật.

Lại nữa, hành giả đi vào con đường tốt, cuối cùng nghe được tiếng gọi của Phật A-di-đà mà được cứu độ, xét về nhân này cũng do công chỉ lối của Đức Thích Tôn,

‘thí dụ về hai dòng sông’ có ghi:

“Trên bờ phía Đông bỗng nhiên nghe tiếng người kêu: Này nhân giả! Ông cứ quyết định đi theo con đường này thì nhất định thoát chết, còn nếu đứng lại thì sẽ chết”.

Và phần sau ‘Tự đề môn’ thứ nhất của ‘phần Huyền nghĩa’ cũng đã nói rõ về lòng đại bi của ‘Nhị tôn khiển hoán’, ‘Nhị tôn nhất trí’ của Đức Thích Tôn thúc giục và Phật A-di-đà đến tiếp dẫn, nói:

“Ngưỡng mong Đức Thích Tôn ở cõi Ta-bà thúc giục, Phật Di-đà ở cõi nước kia đến tiếp dẫn. Phật ở cõi nước kia gọi, Phật ở cõi này thúc giục, sao dễ như vậy mà không đi?”.

Trong ‘Nhị tôn khiển hoán’, kinh xác nhận Đức Phật A-di-đà ‘đứng trong hư không’ kêu gọi, có thể được tìm thấy ở phần đầu của pháp quán Hoa tòa.  Đây tức là bản thân Đức Phật A-di-đà thể hiện rõ hoằng nguyện (đại nguyện). Và kinh xác nhận Đức Thích Tôn thúc giục, nằm ở chỗ nào trong Quán kinh? Đây là văn ‘Phó chúc A-nan’ trong  phần Lưu thông phía sau:

Phật bảo A-nan: “Ông hãy khéo thọ trì lời này, thọ trì lời này, tức là thọ trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ”.


        Ý của hai Đức Phật này đều nhất trí và không khác, bên này thúc giục, bên kia vẫy gọi, là tác dụng tự nhiên của hoằng nguyện Phật A-di-đà, mục đích nằm ngay chỗ cứu độ chúng sanh chìm trong nước sâu, lửa dữ một cách chủ động, một cách bình đẳng và không có điều kiện nào cả.

Ân của hai Đức Phật, dù tan thân mất mạng cũng không thể báo đáp được, dù nghiền nát xương cốt cũng không thể báo đền.

Bát-chu tán nói:

                               Không nhờ sức hoằng thệ Di-đà
                               Lúc nào, kiếp nào thoát Ta-bà
                               Được thoát Ta-bà nhiều kiếp khổ
                               Ngày nay nhờ ân Phật Thích-ca.
                               Nếu chẳng phải Thích-ca chỉ dạy.
                               Tịnh độ Di-đà làm sao đến.
        Lại nữa, phần trước đã nói ‘thấy Phật nhập vào tín thành tựu’ hoặc ‘thấy Phật đắc Vô sanh nhẫn’ là chỉ dành riêng cho căn cơ niệm Phật, thấu tỏ bi tâm của Phật A-di-đà, tức là nói tin sâu vào bi nguyện của Đức Phật A-di-đà rằng xưng danh nhất định vãng sanh. Người học Phật hoặc có người trong lúc mộng thấy Phật, trong khi tĩnh tọa thấy Phật, trong khi niệm Phật cũng thấy Phật, thậm chí trong lúc hiểm nguy khó khăn được Phật và Bồ-tát hiện thân cứu thoát. Đây là sự cảm ứng bình thường, không thể sánh bằng sự tin sâu về căn cơ và giáo pháp.

(Còn Tiếp)

Trích  Sách Bản Nguyện Niệm Phật

Thích Minh Tuệ

Viết một bình luận