
238.Tâm Trang Nghiêm Bí Mật
—oOo—
Kinh Vô Lượng Thọ tường thuật rằng: Trong cõi nước Cực Lạc có vô lượng cây báu, mỗi cây báu lại có vô lượng màu sắc. Bởi vì hết thảy các cây báu trong cõi nước ấy
đều là do bảy báu hóa thành, nên màu sắc của chúng vô cùng rực rỡ, quang minh chói lọi. Tuy là các màu sắc và ánh sáng của các cây báu này rực rỡ, chói lọi như vậy, nhưng khi mắt và thân tiếp xúc với ánh sáng này thì sáu căn liền thanh triệt, nhu nhuyến, khoái lạc, không còn não loạn, ngũ căn ngũ lực cũng do đó mà tăng trưởng, chẳng giống như những thứ màu sắc và ánh sáng trong thế gian thường làm cho mắt bị loạn, thân nóng bức, khó chịu. Các cây báu ấy mọc đầy khắp cõi nước Phật, xếp thành hàng lối thẳng tắp, thân cây đều ngang nhau; có cây cao từ trăm do tuần, nhưng cũng có cây cao đến ngàn do tuần.
Nơi đạo tràng của A Di Đà Phật lại có một cây cây Bồ-đề Ðạo Tràng, còn được gọi là cây Ðạo Tràng Thọ hay cây Thọ Vương; bởi vì cây này là cây báu chúa tể trong hết thảy các cây báu nơi cõi Cực Lạc. Do vì cây Bồ-đề Ðạo Tràng này cao lớn vòi vọi đến bốn trăm vạn dặm, nên những Bồ-tát thiện căn kém cỏi trong cõi ấy khó thể thấy biết hết nổi những hình sắc và diệu dụng của cây; nhưng do vì Đức Phật A Di Ðà rủ lòng từ bi, dùng đại nguyện gia bị, nên họ cũng đều được thấy biết rành rẽ tất cả những đặc tính vi diệu của nó.
Cây Bồ-đề Ðạo Tràng phóng ra quang minh và hương thơm khắp nơi, không đâu mà chẳng rực sáng và thơm ngát. Hình sắc của cây vô cùng vi diệu; cây lại còn thấy biết rõ ràng căn khí sai khác của chúng sanh mà vang ra tiếng pháp thích hợp khiến cho họ tỉnh thức, giác ngộ Tự tâm. Lại nữa, nếu chúng sanh nào được thấy cây Bồ-đề Ðạo Tràng, hoặc được chạm quang minh, hoặc được ngửi hương thơm, hoặc được nghe âm thanh, hoặc được nếm quả vị của cây, thì thốt nhiên đại ngộ, đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, trụ Bất Thoái Chuyển cho đến khi thành Phật.
Vì sao cây Bồ-đề Ðạo Tràng lại có thể làm cho người trông thấy nó, tự nhiên ngộ đạo, chứng nhập Vô Sanh Pháp Nhẫn? Bởi vì đây là cây Quả Báo Ứng Hóa của A Di Đà Phật. Nói theo Mật giáo, cây này là do Tâm Trang Nghiêm Bí Mật của Phật A Di Ðà hóa hiện ra. Tâm Trang Nghiêm Bí Mật thuộc về trụ tâm thứ mười được Đức Như Lai chứng đắc trong địa vị thứ mười ba “Phật quả rốt ráo,” nên tâm ấy có thể rốt ráo ban cho chúng sanh cái lợi chân thật như vậy. Tâm Trang Nghiêm Bí Mật của Phật A Di Đà biến hiện ra cây Bồ-đề Ðạo Tràng có đầy đủ công đức vô thượng hy hữu, vi diệu khó nghĩ tưởng nổi.
Các kinh Tịnh độ đều nói: “Gặp được Phật A Di Đà thì tự nhiên đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.” Kinh Vô Lượng Thọ lại bảo: “Do thấy cây Bồ-đề kia, đắc đặng ba nhẫn, một Âm Thanh Nhẫn, hai Nhu Thuận Nhẫn, ba Vô Sanh Pháp Nhẫn.” Như vậy, nếu một trong năm căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt và thân) của ai được tiếp xúc với cây ấy thì chẳng khác gì gặp được Phật A Di Đà!
Nguyện 41 “ Cây hiện cõi Phật“ ghi: “Thảy đều được thấy nơi hàng cây báu, như đài gương sáng, soi thấy khuôn mặt.” Nguyện này nói rằng: Trong cõi Cực Lạc cũng có vô lượng cây báu; trong quang minh của mỗi cây báu lại hóa hiện ra vô lượng lọng báu (cây dù báu). Mỗi lọng báu giống như là một tấm gương sáng sạch, thanh khiết, hiện ra cảnh tướng của mười phương cõi Phật rõ ràng trọn vẹn. Người đối mặt trước lọng báu trông thấy rõ cảnh tướng của mười phương cõi Phật thì cũng giống như là tự mình đang đối mặt trước một tấm gương sáng sạch, thấy rõ ràng vẻ mặt của chính mình.
Nguyên cây hiện cõi Phật” của Đức Phật A Di Đà hàm chứa ý nghĩa sâu xa là: Thứ nhất, cõi Tây Phương Cực Lạc hàm nhiếp hết thảy cõi Phật, tương nhập, tương tức chẳng thể nghĩ bàn. Thứ hai, Pháp tánh của chư Phật vốn luôn thanh tịnh, tinh khiết và tịch diệt đến chỗ cùng cực, nhưng nó lại có khả năng phát huy diệu dụng như là hiện ra vô lượng lọng báu, mỗi lọng báu giống như tấm gương sáng sạch rọi thấy rõ ràng hết thảy cảnh vật và chúng sanh trong mười phương thế giới.
Mặc dù Pháp tánh của chư Phật hiện ra vô lượng vô biên các thứ tướng để độ chúng sanh, nhưng Pháp tánh ấy không hề đánh mất bản thể tịch diệt của nó. Vì sao? Bởi vì Pháp tánh của chư Phật vốn sẵn thuần tịnh và vô cùng vi diệu với đầy đủ hết thảy các đức năng vô lượng vô biên, không hề có chướng ngại. Điều vô cùng vi diệu hơn hết là Pháp tánh này cũng vốn thường hằng hiện hữu trong mọi chúng sanh; nhưng vì sáu căn của chúng sanh khi tiếp xúc với sáu trần trở nên vọng động mà khởi lên một niệm mê lầm, nhận giả là thật, chấp thân này là của mình, chấp có ta, có người, có chúng sanh và có thọ giả, rồi bị nghiệp lực dẫn dắt đi nên không thể khởi tác dụng, không thể tự mình chuyển được vận mạng và hoàn cảnh, tạo ra vô lượng vô biên nghiệp nhân mà phải lãnh chịu nghiệp quả.
Vì thế, người tu hành mà không cầu trí huệ chân thật thì sẽ thường hay mắc phải lỗi lầm này, tưởng nhằm là muôn pháp là thật có nên sanh ra tâm chấp pháp, chấp ngã, đánh mất đi Tự tánh vốn sẵn thanh tịnh, vốn sẵn đầy đủ trọn vẹn hết thảy các trí tuệ và đức năng của mình.
Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật ví kinh Phật là ngón tay chỉ mặt trăng, còn mặt trăng ví cho chân thật trí tuệ (trí tuệ Bát-nhã). Ý của Đức Phật là: Người học Phật mà chấp pháp thì cũng giống như là người nhận lầm ngón tay chỉ mặt trăng là mặt trăng, nên chẳng những không thấy được mặt trăng mà ngay cả ngón tay cũng chẳng được thấy. Nói cách khác, người học Phật với tâm phân biệt, chấp trước thì chẳng thể nào phát sanh trí tuệ chân thật để hiểu rõ chân thật nghĩa của Như Lai hàm chứa trên văn tự Bát-nhã trong kinh, cũng tức là chẳng biết rõ chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sanh.
Cho nên, người không có trí huệ niệm Phật rất khó đạt được công phu đắc lực và cũng khó chứng được tịnh tâm. Vì sao? Bởi do chấp pháp nên tâm tưởng luôn suy nghĩ xằng bậy, miệng nói nhiều lời không đúng với chánh pháp của Như Lai, các thói hư tật xấu khác nơi thân tự do bộc phát, tạo ra các nghiệp bất thiện, tự hại mình trầm luân mãi trong luân hồi sanh tử không gián đoạn. Người niệm Phật có trí huệ thì phải nhận biết rõ ràng minh bạch thế nào là vọng, thế nào là chân, và còn phải biết khắc phục sáu căn không cho nó tự do loạn động thì thói hư tật xấu mới được kiềm chế, không bị bộc phát ra.
Người niệm Phật có trí tuệ thì tâm phải niệm điều lành, miệng phải nói điều lành, thân phải làm việc lành, đi đứng nằm ngồi gì đều tập trung niệm Phật để sáu căn được thu nhiếp. Do Tịnh nghiệp tiếp nối không ngừng như vậy, nên Phật tánh dần dần lưu lộ ra, đến lúc lâm chung sẽ được Phật A Di Đà, Quán Âm, Thế Chí và chư Đại Hải chúng hiện thân tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc
Người niệm Phật có trí huệ thì phải biết giữ gìn cho thân tâm mình trang nghiêm thanh tịnh, sáng suốt như gương, thơm tho như cây báu ở cõi Cực Lạc; tức là tuy nó có hiện ra các tướng lành để lợi ích chúng sanh, nhưng chính thực nó vẫn giữ nguyên thể tánh tịch tĩnh, như như bất động, như Bát-nhã Tâm Kinh nói: Trong Tánh Không của vạn pháp lại hiện ra các thứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức; nhưng thật ra, các tướng ấy vốn chẳng thật, chúng chỉ là như huyễn mộng, như sương mai, như điện chớp, trọn chẳng thể được. Mật giáo gọi cái Tánh Không hiện ra các thứ trang nghiêm vô cùng vô tận làm lợi ích chúng sanh ấy là Tâm Trang Nghiêm Bí Mật
Cõi nước Cực Lạc rộng lớn không có bờ mé, trang nghiêm thanh tịnh, sáng ngời như tấm gương có khả năng chiếu rõ tường tận mọi sự vật và chúng sanh trong mười phương thế giới, không một sự vật gì dù nhỏ nhặt hay xa cách đến mấy mà chẳng thấy nổi. Đấy đã nêu rõ chánh báo của Phật A Di Đà như thế nào thì y báo cũng là như thế đó. Nói cách khác, Pháp tướng ở cõi Tây Phương Cực Lạc hiển bày rõ rệt Pháp tánh của Phật A Di Đà, tánh tướng giống nhau, chẳng hề sai khác. Lại nữa, do thánh chúng cõi ấy thấy rõ sự tướng của các cõi Phật phương khác nên cũng biết được Pháp tánh sai khác trong các cõi tịnh và uế.
Nói chung, vạn vật ở cõi Cực Lạc như là cung điện, lầu gác, lan can, ao suối, rừng cây v.v… đều giống như tấm kính pha lê sáng sạch tỏa ánh sáng, đối với hết thảy các tướng tịnh uế, nghiệp duyên thiện ác, hết thảy núi sông, hết thảy chúng sanh, địa ngục, ngạ quỷ dù tốt hay xấu, các hình loại nhiều như thế ấy trong mười phương quốc độ đều hiện ra trong đó một cách rõ ràng, một cách bình đẳng và vô ngại như chính mình soi gương thấy rõ khuôn mặt của mình.
Sự kiện ấy đã nêu rõ Nguyện 42 “Chiếu suốt mười phương” của A Di Đà Phật hàm chứa ý nghĩa là: Trí tuệ quang minh của chư Phật, Bồ-tát cõi Cực Lạc vô cùng thanh tịnh, tịch tĩnh, nhưng lại hiện ra vô lượng vô biên các sự tướng như thiên hà, đại địa, cung điện, lầu gác, ao suối, rừng cây v.v…. Mỗi hiện tướng của chư Phật, Bồ-tát đều giống như ngọn đuốt thắp sáng tất cả thế gian tăm tối, có khả năng giác ngộ thế gian, làm cho chúng sanh tỉnh thức
Con tiep
Diệu Âm Trí Thành
Thich Minh Tue



