Trich Dan Bao Vuong Tam Muoi Niem Phat Truc Chi Cua Tu Minh Dieu Hiep

459. Trích dẫn Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực
Chỉ của Tứ Minh Diệu Hiệp đại sư thời Minh

Niệm Phật thì nên ngay vào lúc công danh, phú
quý đắc chí hãy một dao cắt đứt lìa, mạnh mẽ phát
đại tâm, tận lực hành đạo này. Ðối với những sở hữu
trong đời: vợ con, của báu, đầu, mắt, tủy, não, thậm
chí thân mạng chẳng tự lẫn tiếc, quyết chí cầu sanh.
Há có nên đợi mãi đến lúc hối tiếc, rủi ro, bất đắc dĩ
mới toan dùng cái tâm cẩu thả để tu ư? Thật đáng
thương quá!
Nếu có thể nhân lúc tiếc nuối đó, buông bỏ ngay,
phát sanh kiến giải tìm đến chốn của báu Ðại Thừa,
lập thành tâm quyết định bất thối chuyển, như chiếc
thuyền đã xuôi giòng, thuận gió lại thêm chèo chống
thì há chẳng mau đến đích hay sao? Ðược như thế
thì may mắn sao! Buông bỏ chỉ là buông bỏ nghiệp
duyên thế gian, nào phải là buông bỏ tâm tinh tấn
hiểu đạo đâu!
* Hãy nên quán sát đúng đắn hai cõi: khổ – vui,
tịnh – uế. Ðối với hai cảnh đó, sanh hai tâm: một là
tâm nhàm chán, hai là tâm vui ưa. Do nhàm chán
cõi Sa Bà này nên có thể tùy thuận Chiết Môn của
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 373
đức Thích Ca đã dạy, sanh tâm vui ưa nên có thể tùy
thuận Nhiếp Môn đức Di Ðà đã chỉ.

Ðối với hai môn đó, tinh tấn tu tập ngày đêm chẳng nghỉ.
Tùy thuận lời Phật dạy, đối với các cảnh sắc
thanh cõi này tưởng là địa ngục, tưởng là biển khổ,
nhà cháy. Ðối với các vật báu, tưởng là đồ gây khổ.
Tưởng thức ăn, y phục như máu, mủ, da sắt. Ðối với
quyến thuộc tưởng là quỷ Dạ Xoa, La Sát nuốt
người. Cõi này lại sanh tử chẳng trụ, trường kiếp bôn
ba, phiêu bạt, thật đáng chán lìa.
Từ nơi tri thức, kinh sách nghe đến nguyện lực,
cõi nước trang nghiêm của đức Phật kia, trong mỗi
niệm, nhắc nhở nghĩa lý ấy, sanh ý tưởng an ổn,
tưởng là chốn có của báu, là gia nghiệp, là nơi giải
thoát. Tưởng Di Ðà Như Lai, Bồ Tát, thánh chúng
như cha mẹ nhân từ. Tưởng như cầu, thuyền tiếp
dẫn. Tưởng trong khi sợ hãi, nạn gấp, hễ xưng danh
[Phật, Bồ Tát] liền ứng hiện, mau đến cứu giúp,
tưởng hễ nghĩ đến liền xuất ly. Công đức vô lượng
như thế thật đáng vui ưa.
Nếu nhàm lìa chẳng sâu thì nghiệp hệ Sa Bà
chẳng thoát, vui ưa chẳng tha thiết thì thắng cảnh
Cực Lạc khó đạt. Muốn sanh Tịnh Ðộ, thành tựu
Niệm Phật tam muội hãy thực hiện đầy đủ hai môn
này để làm bước ban đầu phát khởi công hạnh vậy.
Nếu có thể chán, ưa quyết liệt, viên tu Quán Huệ thì
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 374
không những đã sanh mà còn được Thượng Phẩm
nữa!
* Nếu là người xuất gia muốn tu Niệm Phật tam
muội, muốn được thanh tịnh ba nghiệp, cởi mở oan
kết sanh về Tịnh Ðộ lẽ nào chẳng dứt được việc giết
hại để ăn uống đến nỗi lúc lâm chung tự bị chướng
ngại? Kinh có dạy đầy đủ các giới, đầu tiên là dạy
đoạn sát thì mới vẹn toàn các giới được. Tu tam
muội ắt phải các giới thanh tịnh mới có thể thành
được. Ví dù túc nghiệp sâu dầy, chẳng thể đoạn
ngay được thì cũng nên bày các phương tiện để dứt
bỏ. Giới đức tuy đủ nhưng nếu chẳng giữ cho thân
tâm lặng định, dứt các kỹ năng, tạp thuật thế gian,
cho đến nếu như chẳng trừ sạch hết thảy ý niệm
phân biệt dù thiện hay ác thì làm sao có thể nhất
tâm tu tam muội này được? Tam muội bất nhất,
vãng sanh bằng cách nào?
Tinh tấn là chẳng bị bát phong thế gian23 làm lui
sụt. Lại chẳng bị thân tâm dị kiến, hết thảy bịnh
duyên lớn nhỏ khiến hạnh lười nhác. Nếu do túc
nghiệp sai sử khiến hạn), hủy (chê bai), dự (khen ngợi gián tiếp), xưng (ca tụng trực tiếp), cơ (dựng chuyện nói xấu người), khổ và lạc.
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 375 Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Ðắc Sanh Tịnh Ðộ Ðà Ra Ni: Trì một  biến trừ được tất cả hết thảy các tội ngũ nghịch, thập ác… nơi thân. Trì mười vạn biến liền được chẳng quên mất  Bo De tâm. Trì hai mươi vạn biến khiến mầm Bồ Ðề nảy sanh. Trì ba mươi vạn biến thì A Di Ðà Phật thường trụ trên đảnh, quyết sanh Tịnh Ðộ.
* Sao gọi là Chánh Hạnh? Hạnh là phải sao cho
thân tâm thanh tịnh. Vào đạo tràng, trước hết phải
quán mình cùng hết thảy chúng sanh suốt tột cõi hư
không thường ở trong biển lớn sanh tử, không nơi
quay về, không được cứu vớt, nếu chẳng làm cho họ
đều được giải thoát hết thì gọi là Chánh Hạnh sao
được? Bởi đấy, coi oán lẫn thân bình đẳng, khởi tâm
đại bi như hư không che chở khắp cả.
Tiếp đó, xét kỹ chánh hạnh niệm Phật của các vị
tiên hiền, chọn lấy chốn tịch tịch, tự nhiên, chọn
cuộc đất từ trước chưa từng nhiễm uế. Ðối với phí
tổn thì trước hết phải dốc sạch hết của sở hữu rồi
mới có thể xin người khác [giúp cho]. Ðúng như
pháp kiến lập đạo tràng sao cho cực nghiêm tịnh.
Ðem hết thảy tất cả thiện căn từ vô thỉ hồi hướng
cho khắp tất cả chúng sanh sanh về Tịnh Ðộ, trang
nghiêm hạnh nguyện. Ngay khi đó, ba tâm (thâm
tâm, chí thành tâm, hồi hướng tâm) phát khởi trọn
vẹn. Năm vóc gieo xuống đất, quán Phật tướng hảo,
hồ quỳ chắp tay, vận tâm duyên khắp hết thảy
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 376
chúng sanh và thân mình đây:

“Từ xưa đến nay trôi nổi chẳng ngừng, thật đáng đau đớn!” Buồn bã khóc lóc cầu Phật rủ lòng từ, mổ bụng rửa ruột, phát lộ tội
lỗi. Ngày đêm sáu thời định kỳ luyện hạnh.
Nếu vì chướng sâu chưa cảm ứng được thì lấy đến
lúc chết làm kỳ hạn, trong suốt khoảng thời gian ấy
chẳng có sát na nào nghĩ đến ngũ dục thế gian. Nhất
tâm như thế ắt được vãng sanh. Nếu căn cơ chẳng
xứng, hạnh thù thắng khó toàn thì cũng nên ở nơi
tịnh thất, sao cho trong ngoài sạch làu, tùy ý lập
hạnh, lễ Phật, sám hối. Hoạch định mỗi ngày [thời
khóa] mấy lượt, tinh tấn nhất tâm, thề chẳng hối
hận giữa chừng: hoặc chuyên trì chú, hoặc chỉ chấp
trì danh hiệu, một dạ cầu vãng sanh. Nếu được thấy
tướng hảo thì biết là tội diệt duyên sâu, cũng sẽ
sanh về cõi ấy.
Lại có người chưa thể đoạn sạch duyên đời thì
cũng nên tu điều lành thế gian, tin tưởng chắc chắn
vào cõi Cực Lạc chẳng nghi, niệm niệm luyến mộ
chẳng quên. Ðối với những hạnh môn đã nói ở trên,
tùy ý tu tập. Trong bốn oai nghi, lấy đó làm chỗ quy
hướng. Tiếp xúc cảnh liền thấu hiểu uyên nguyên
của nó, gặp việc tận lực dùng phương tiện thì lúc
lâm chung cũng sẽ được sanh cõi kia. Tuy các hạnh
có tỏ tường hay đại lược nhưng pháp lực của chúng
vốn đồng, nhưng do giữ tâm hoãn đãi hay mau
chóng nên Phật cũng sẽ ứng hiện chậm hay mau.
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 377
* Nếu đang đi trên đất khách hay không ở cố định
một nơi thì bất tất phải trang nghiêm đạo tràng, chỉ
một bề thanh tịnh thân tâm. Áo mặc thì tùy phận
mặc lấy áo sạch đẹp nhất, hương đèn dù có hay
không cũng chẳng sao. Nếu là chỗ có tượng hay đem
tượng theo bên mình thì nên miệng tụng, thân lễ,
đối trước tượng mà tu. Nếu không có tượng Phật thì
hoặc là đối trước quyển kinh, hoặc chỉ hướng về Tây
lễ vọng, hoặc chỉ trừ hướng Ðông ra, lễ về phương
nào cũng được.
Nếu đang đi đường hay ngồi thuyền và hết thảy
các việc động dụng nuôi thân bất đắc dĩ chẳng thể
bỏ được thì cùng làm cả thế sự lẫn Phật sự. Tiếng
tụng niệm tuy tùy theo cảnh người tốt xấu mà niệm
to hay nhỏ, niệm trầm tiếng nhưng rõ ràng, niệm
nhè nhẹ nhưng chắc chắn, cốt sao người hai bên chỉ
nghe loáng thoáng. Chẳng được nói nhiều với người
khác. Những lúc khác thì phải nên ngồi một mình, đi
một mình, xa lìa ồn tạp và chỗ xúm xít tán nhảm,
giỡn cười, ca vịnh khiến người quên mất các việc
chánh niệm.
Ðêm đến, người yên, cảnh lặng, chính là lúc nên
dụng công. Ðã coi sanh tử là việc lớn, há có nên mặc
tình ngủ nghỉ? Dù gặp lúc lạnh buốt, nóng gắt cũng
chớ cởi áo. Pháp phục, xâu chuỗi nên để chỗ gần.
Khăn tay, nước sạch chẳng để xa chỗ mình ngồi. Tất
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 378
cả những thứ cần đến đều nên sắp sẵn. Lại nên quán
sát tín căn của người là sâu hay cạn, chẳng làm
phiền người khác, chẳng làm cho người khác chán
ngán. Ðối với những điều ấy đã không trở ngại rồi thì
hãy khẽ lên tiếng niệm khiến cho thiên thần hoan hỷ
giáng xuống hộ trì, quỷ, súc sanh nghe tiếng được
giải thoát. Công đức ấy rất sâu!
Ðối với người lòng tin nông cạn, chớ khăng khăng
khuyên tu. Ðối với người tin sâu, lại chẳng thể chẳng
ngầm chỉ bảo khiến họ quyết tâm. Chẳng nên quy
công về mình, như mùa Xuân tăng trưởng vạn vật
nhưng chẳng thấy mình có công. Ở chỗ tạm bợ mà
tiến tu thì gọi là tu hành trong nghịch cảnh, công còn
lớn hơn nữa.
* Nếu như trong lúc niệm Phật, tuy vận dụng cả
thân lẫn miệng mà tâm niệm rối bời chẳng thể tự
chế thì nên dụng tâm như thế nào để khỏi tán loạn?
Ðáp: Nên vận dụng thân khẩu mà niệm, chẳng
cần luận đến tán loạn, cứ chẳng gián đoạn, tự có thể
một lòng mà niệm thì cũng gọi là Nhất Tâm. Chỉ lấy
việc thực hành chẳng ngơi làm chừng, bất tất phải lo
đến tán loạn! [Nghĩ đến Phật hiệu] như mẹ chôn con
yêu, như rồng mất mạng châu24 thì chẳng mong
nhất tâm mà tâm tự nhất, cần gì phải chế ngự tâm

24 Mạng châu: Theo truyền thuyết dưới cổ con rồng có một viên ngọc. Nếu viên ngọc ấy mất thì không lâu sau rồng cũng sẽ chết.
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 379
cho nó quy nhất?

Tâm này vốn chẳng thể chế ngự,
thật chỉ là do hành nhân siêng hay lười mà thôi!
Nếu như có tu mà vô hiệu thì là do tín căn cạn
mỏng, tu nhân chẳng thật, chưa từng lập hạnh, chưa
gì đã muốn được người khác biết, trong tâm kiêu
căng, ngoài thích phô trương để người khác cung
kính cúng dường hòng được của cải. Thậm chí vọng
ngôn thấy được tịnh cảnh, hoặc thấy tiểu cảnh và
tướng lành trong mộng, chưa biết đúng sai đã toan
giảng trước. Những bọn hèn kém như vậy ắt bị bè
bạn ma mê hoặc, nguyện hạnh thối thất, lại đọa
trong nẻo khổ sanh tử, chẳng nên dè dặt sao?
Dẫu có nghi thức trì tụng, sám nguyện trong đạo
tràng cũng chẳng nên để người khác biết, nếu phải
trình bày ra thì chỉ là chuyện bất đắc dĩ, há nên phô
phang hình tích khiến cho quán hạnh bị bại hoại ư!
Hãy nên tự xét kỹ điều ấy, kín đáo, chân thật ngầm
tự hành, ôm lòng hổ thẹn, chẳng phô đức mình, tận
cho đến lúc về nhà (vãng sanh) chẳng bị hai thứ ma
mạnh bạo hay mềm mại làm lầm lạc!
Trong lúc tu tập, lúc túc chướng sắp diệt sẽ thấy
vài tướng hảo nho nhỏ, nếu chẳng biết tích đức,
khoe cho người khác biết thì hạnh mình lại bị vùi lấp.
Bởi thế, ngài Huệ Viễn ba lần thấy thánh tượng mà
lúc bình thời chẳng hề nói, chỉ trừ lúc lâm chung mới
thố lộ thôi!
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 380
* Niệm Phật tam muội tuy mang tên là Nhất
Hạnh, nhưng cũng nên lấy hết thảy vô lượng pháp
môn thế gian, xuất thế gian, các hạnh công đức để
làm trợ đạo thì chánh hạnh vãng sanh sẽ mau. Vì
vậy, hết thảy các hạnh đều là vì Tịnh Ðộ mà tu,
[đem công đức ấy] hồi hướng Cực Lạc thì đều được
vãng sanh.
Hơn nữa, tam muội này thể tánh tuy viên, nhưng
kiến giải nên rộng lớn, về hạnh nên thực hành trọn
hết các điều khoản vi tế, vứt bỏ các điều bỉ ổi, tệ hại,
thậm chí đối với tội nhỏ cũng đem lòng sợ hãi lớn
lao. Lại nên có kiến giải Ðại Thừa, nhưng hạnh như
người học Tiểu thừa. Kinh dạy: “Hiếu dưỡng phụ
mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập
thiện nghiệp, thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới,
chẳng phạm oai nghi, phát Bồ Ðề tâm, tin sâu nhân
quả, đọc tụng Ðại Thừa, khuyến khích hành giả”. Mỗi
một câu trên là một pháp hạnh.
Lại nên gìn giữ tâm người, chớ khiến họ khoe
khoang, ganh ghét, nên thân cận bạn lành, thưa hỏi
bậc tiên giác (bậc đã giác ngộ trước), chẳng chấp
vào sự hiểu biết của mình, chẳng cậy sở trường. Chí
giữ nhẫn nhục, hành theo đúng kinh, nghe ngóng
chánh pháp, chẳng hủy Tăng, Ni, dứt bỏ các sự lành
tạp nhạp thế gian, chẳng tham danh lợi, xa lìa tà ác.
Xử sự phải trung tín, quy điều lỗi về mình, hết sức
thận trọng tránh nói thêu dệt, nhất tâm bất loạn,
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 381
xem người khác như Phật, buông bỏ tài khéo, chỉ
cầu vãng sanh, thân ắt thanh tịnh. Vô lượng thiện
hạnh như thế đó đều phải nên tu tập để hỗ trợ chánh
đạo.
Nếu lại có thể cắt bỏ tâm nhiễm thế gian, đối với
hai cảnh yêu ghét không còn bị vướng vít, lặng tâm
như nhất ắt sẽ sanh về Tịnh Ðộ.
* Vừa muốn hiểu thấu đáo đạo thì ma cảnh đã
hiện trước, một điều lỡ tâm thì vạn thiện đều mất. Vì
thế, căn cứ vào kinh, lập ra mười hạnh gây trở ngại
lớn, đặt tên là Thập Bất Cầu Hạnh:
1. Một là nghĩ đến thân chẳng cầu không bịnh.
Không bịnh thì tham dục sanh, ắt phá giới thối đạo.
Biết tánh của bệnh là không, bệnh chẳng não được.
Vì thế lấy bệnh làm thuốc hay.
2. Hai là ở đời chẳng cầu không nạn. Ðời không
nạn thì kiêu ngạo, xa xỉ nổi dậy, ắt muốn đè ép hết
thảy. Hiểu nạn vốn là vọng thì nạn cũng chẳng làm
gì được. Vì thế hoạn nạn là giải thoát.
3. Ba là cứu xét tâm đừng cầu không chướng.
là đắc. Hiểu chướng chẳng có cội rễ thì chướng tự
Tâm không chướng thì học qua loa, chưa đắc đã nói
lặng. Vì thế dùng ma chướng để tiêu dao.
4. Bốn là lập hạnh chẳng cầu không có ma sự.
Hạnh không có ma sự thì nguyện chẳng kiên cố, ắt
sẽ chưa chứng mà nói là chứng. Thấu hiểu ma là giả
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 382
có, ma nhiễu sao nổi! Vì thế lấy quần ma làm pháp
lữ.
5. Năm là mưu sự chẳng cầu dễ thành. Sự dễ
thành thì chí khinh mạn, ắt sẽ xưng mình có tài.
Hiểu rõ việc được thành là tùy theo nghiệp, chứ
chẳng phải do tài năng. Vì thế lấy sự khó làm điều
an vui.
6. Sáu là giao tình25 chẳng cầu mình được lợi.
Mong lợi mình thì thiếu đạo nghĩa, ắt sẽ thấy người
khác sai trái. Xét rõ tình vốn có nhân thì tình sẽ
nương theo duyên. Vì thế, lấy mối giao tình tệ bạc
làm tư lương.
7. Bảy là chẳng cầu người khác thuận thảo với
mình. Người ta thuận thảo thì trong lòng [mình] sẽ
kiêu căng, ắt chấp mình là phải. Chúng ta sống trong
đời, người khác chỉ đáp trả mình. Vì thế lấy kẻ
nghịch làm vườn rừng.
8. Tám là thí đức chẳng cầu mong được báo đáp.
Làm điều công đức mà mong được báo chính là có ý
đồ, muốn phô phang tiếng tốt. Hiểu rõ đức vô tánh
mà cũng chẳng thật. Vì thế coi việc thí đức như bỏ
đôi dép rách.
9. Chín là thấy lợi chẳng cầu được hưởng phần.
Ðược hưởng phần lợi thì tâm si phát động, ắt bị tham

25 Giao tình: Tình quen biết, giao du, bầu bạn với nhau.
Niệm Phật Pháp Yếu Trang 383
lợi hủy hoại mình. Thấu rõ lợi vốn là không, chẳng
vọng cầu lợi. Vì thế, coi lợi sơ bạc là phú quy

10. Mười là bị chèn ép chẳng cầu kêu oan. Bị
chèn ép mà kêu oan thì còn giữ lòng nhân ngã, ắt
oán hận sẽ nẩy nở. Chịu đựng chèn ép, khiêm tốn thì
sự chèn ép tổn thương gì được mình? Vì thế lấy việc
bị chèn ép làm hạnh môn.
Như thế thì chịu đựng chướng ngại mà lại thành
thông suốt, cầu thông suốt mà lại bị chướng ngại.
Những chướng ngại ấy đều thành diệu cảnh. Bởi lẽ
đó, đức Như Lai đắc Bồ Ðề đạo ngay trong chướng
ngại. Dù là lũ La Sát, Ca Lợi hay bọn Ương Quật, Ðề
Bà  26 đến tạo nghịch, Phật đều thọ ký, giáo hóa họ
trở thành Phật, há chẳng phải là lấy cái nghịch kia
làm cái thuận cho mình, lấy cái hủy báng của họ làm
điều thành tựu cho mình ư?
Huống hồ, lúc thời bạc, thế ác, nhân sự dị
thường, lẽ nào người học đạo không có chướng ngại!
Nếu chẳng đã ở trước trong chướng ngại thì sao bài

26 Ca Lợi: khi đức Phật còn tu nhân, trong tiền kiếp làm một vị tiên nhẫn nhục. Vua Ca Lợi vì ghen, cắt xẻo tay, chân, mắt, mũi của ngài, nhưng Phật trọn chẳng có lòng sân hận, khiến vua Ca Lợi sám hối, phát tâm Bồ Ðề.
Ương Quật là cách gọi tắt của Ương Quật Ma La, người đã giết 99 người lấy ngón tay với hy vọng được đắc thần thông đệ nhất. Khi ông này định giết mẹ ruột để đủ 100 ngón tay, Phật đã hóa độ ông, khiến ông trở thành một vị thánh giả, ngay hiện đời chứng A La Hán.
Ðề Bà tức là Ðề Bà Ðạt Ða, em họ của Phật. Ông này chuyên môn làm nghịch hạnh, phá hoại Tăng chúng, chống đối Phật. Ðó là nghịch hạnh của bậc Bồ Tát để Phật có cơ hội chế giới và thuyết giảng về các tội ngũ nghịch, vô gián
v.v…
Niệm Phat Pháp Yếu Trang 384
trừ nó cho được, khiến cho đại bảo của Pháp Vương
vì đó bị mất đi, chẳng tiếc lắm ư!

Nhận định:
Bộ luận này bị thất truyền đã lâu, Tổ Vân Thê
Liên Trì mong được đọc nhưng không được đọc. May
nhờ ngài Linh Phong ghép nó vào tác phẩm Niệm
Phật Thập Yếu, nó mới được lưu truyền rộng rãi. Xin
hãy thọ trì hai hạnh Chánh và Trợ trên đây, chớ coi
thường. Lại nên dùng mười Ðại Ngại Hạnh (Bất Cầu
Hạnh) trên để nhất nhất tự nghiệm thì quả thật,
ngay trong lúc bịnh hoạn, gặp nạn cho đến lúc bị ép
uổng thì tâm niệm Phật chỉ càng tăng thêm, hiểu
khổ, quán không, chẳng oán, chẳng hiềm, không
uất, không ngại, giống như đắc Tam Muội, ắt được
sanh Tây

Trich Niem Phat Phap Yeu

Thich Minh Tue

 

 

 

 

 

 

 

 

Viết một bình luận