29.II- Hai đặc tính thắng và dị là nền tảng pháp mạch
Phán giáo tông Tịnh Độ ở Trung Quốc, tuy có một quá trình theo thứ tự tiệm tiến và ngày càng thành thục, ngay cả trong quá trình hoằng truyền giáo nghĩa, cũng có hiện tượng pha trộn với các tông, lại từ sự pha trộn đó dần dần tách ra, thời cơ khiến cho như thế, nhưng pháp mạch căn bản thì trước sau như một, tức là tin vào bản nguyện Phật, niệm Phật được vãng sanh.
Đây là con mắt của phán giáo, là cốt lõi của cả một tông Tịnh Độ. Có thể nói như vẽ rồng vốn có một quá trình thứ tự, chi tiết nhất định, nhưng chỗ điểm nhãn mới là nét bút mang lại thần khí, đây chính là mạng mạch của con rồng. Nét bút này khiến con rồng có được sinh mạng, có được sức sống.
Phán giáo cũng như thế, sự khai hiển của các giáo tướng, giáo nghĩa nhằm đem lại pháp lực vô úy cho chúng sanh bị khổ não. Đúng là “Tất cả sợ hãi, đều khiến an ổn”. Mục đích thực sự của phán giáo là chỉ ra chốn quay về. Như ngón tay chỉ mặt trăng, nhằm để cho mọi người ngắm trăng, chỉ cần có thể nhìn từ xa, thì
mới có thể tận hưởng nét đẹp của mặt trăng.
Hành giả tông Tịnh Độ, chỉ cần tin vào “xưng danh ắt vãng sanh” mà nhất hướng niệm Phật, thì chẳng khác gì đã thừa hưởng toàn bộ gia nghiệp của Tổ sư, hưởng được tinh túy của tông Tịnh Độ rồi. Dẫu cho những mục đích và ý nghĩa của phán giáo khó mà thấu hiểu hết thì cũng không có gì hối tiếc. Huống hồ chúng ta là phàm phu tội chướng ở thời mạt thế, phước huệ cạn mỏng, làm sao có thể thấu triệt ý Phật?
Dẫu cho dốc hết tinh thần sức lực cả đời, cũng khó mà hiểu hết được ẩn ý vi tế, khó mà biết được ý nhiệm mầu ấy. Các vị Tổ bằng đại trí huệ, đại biện tài của các ngài, tóm gọn những điều cốt yếu, đơn giản, phán định rõ tông chỉ tu học cho phàm phu chúng ta, để phá nghi trừ chướng, hướng đến chuyên tu.
Chỉ cần chân thật niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương, tự nhiên thầm hợp với đạo mầu, ngầm thông với trí Phật. Đây là cốt lõi dễ thực hành, mau đến đích của pháp môn Tịnh Độ, chứ chẳng phải ở việc nhận biết lý luận nhiều hay ít. Dầu cho hạng người dốt đến một chữ cũng không biết, chỉ cần tương tục niệm Phật, cũng chắc chắn được vãng sanh thành Phật. Ngay cả đến khi thời kỳ Tam bảo diệt tận, người nghe danh hiệu cũng có thể được độ, như Đại sư Thiện Đạo đã nói:
Vạn năm Tam bảo diệt, kinh này trụ trăm năm,
Lúc ấy nghe một niệm, đều sẽ được vãng sanh.
Pháp môn Tịnh Độ, có thể trùm khắp cả ba căn thượng, trung và hạ, nhiếp thu toàn bộ kẻ lanh lợi người chậm lụt, mãi mãi là món quà vĩ đại ban cho chúng sanh lợi ích chân thật. Xét kỹ việc này, chúng ta thấy được ân đức của Phật sâu rộng biết dường nào, làm sao có thể nói hết được!
Tông Tịnh Độ thông qua ba vị Tổ sư là Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo khai hiển mà được sáng tỏ trong thế gian. Từ đó phong trào tu Tịnh độ thịnh hành, hương sen tỏa ngát nơi nơi. Về sau lại nhờ vào sự tiếp nối và truyền thừa của các vị Tổ Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích, Ấn Quang cho đến Pháp Nhiên thượng nhân v.v., khiến cho danh hiệu Phật A-di-đà được truyền khắp, tông Tịnh Độ vang khắp mười phương.
Các vị Tổ thương xót chúng sanh khổ não, nên các ngài mặc giáp hoằng thệ, nương nguyện đại bi, để báo ân sâu rộng của các Đức Phật đã hiện tướng lưỡi rộng dài, phủ khắp mây từ bi, rưới khắp nước cam lồ. Các ngài ấy đã hoằng dương trong gian khổ, truyền bá trong cảnh khó khăn, không hề sợ sệt “nguyện đem Đông Độ ba nghìn cõi, trồng sen chín phẩm khắp Tây Phương”, vì chúng sanh thời mạt thế ngũ trược mà dựng lên tòa tháp đăng huy hoàng, soi sáng đêm dài tăm tối.
Mặc dù xem xét phán giáo giải thích của các vị Tổ, chúng ta biết được pháp môn Tịnh Độ tuy thực hành đơn giản, dễ dàng, nhưng ý nghĩa lại rất sâu xa huyền diệu, toàn thể là cảnh giới Phật, không xen tạp việc làm hữu vi, vượt ra khỏi kiến giải thường tình. Trên đến chư Phật và Bồ-tát, dưới đến ngũ nghịch thập ác, không ai không qui hướng.
Kinh Bát-chu tam-muội ghi:
-Chư Phật ba thời, niệm Phật A-di-đà tam-muội, đắc thành Chánh giác.
Kinh Nguyệt đăng tam-muội ghi:
Chư Phật ba thời trong mười phương,
Hiện tại, quá khứ và vị lai,
Đều do nhân niệm Phật,
Chứng thành Vô thượng giác.
Ý kinh ở đây hiển bày rõ nghĩa các Đức Phật niệm Phật thành Phật. Các Đức Phật đều quy về Phật A-di-đà, lấy Phật A-di-đà làm tự tánh, từ Phật trở xuống, không ai không tuân theo. Cho nên phẩm sau cùng trong kinh Hoa nghiêm lấy mười đại hạnh nguyện nhiếp khắp Hoa Tạng hải chúng, cùng quay về Tịnh độ Cực Lạc, để mong ngày viên mãn Phật quả.
Ý nghĩa đoạn này nói về Bồ-tát quy hướng Tịnh độ, nghĩa là “Bồ-tát thập địa, trước sau đều không xa rời việc niệm Phật”. Trong Quán kinh thì lấy việc vãng sanh của hạng ngũ nghịch thập ác, đặc biệt hiển bày ra ý chính rằng phàm phu hạ căn cũng được vãng sanh, môn đại bi che chở khắp tất cả, dùng những điều này để làm hiển bày tấm lòng cứu độ chúng sanh của Như Lai.
Rộng lớn thay! Pháp môn Tịnh Độ! Phàm Thánh chung đến, ngũ thừa cùng vào. Đây chính là chỗ mà tông Tịnh Độ vượt hơn hẳn tất cả các pháp môn khác. Vì thế, cả đời giáo hóa của Đức Phật, đều chỉ dạy quay về Tịnh độ; các bậc hiền triết của các tông phái, không ai không hồi hướng phát nguyện vãng sanh.
Như các vì sao hướng về sao Bắc đẩu, muôn dòng chảy đổ về biển cả. Các vị Tổ sư qua các thời đại: Có người kiêm tu tông khác, nhưng vẫn quy hướng Tịnh độ, rộng mở yếu môn Tịnh độ; có người chuyên hoằng dương Tịnh tông, chỉ bày thẳng sự chân thật, chủ yếu nói về hoằng nguyện môn. Các bậc Thánh hiền đi trước, đều khen ngợi câu “Nam-mô A-di-đà Phật” là “ánh sáng cao quý nhất trong các loại ánh sáng, là vua trong tất cả các Đức Phật”.
Thật đúng như Tổ Ấn Quang đã nói:
Từ khi giáo pháp của Phật truyền vào Trung Quốc, Lô Sơn sáng lập ra Liên xã, nhất hô bá ứng, không ai không tuân theo. Nhưng có công lớn lao và rõ ràng nhất là, thời Bắc Ngụy có ngài Đàm Loan, ngài là người khó đoán biết được, nhân có việc đến Nam triều gặp Lương Võ Đế, sau đó lại trở về phương bắc. Võ Đế thường hướng về phương bắc cúi đầu lạy và tán thán:
“Pháp sư Đàm Loan, nhục thân Bồ-tát”. Thời Trần, Tùy thì có ngài Trí Giả. Thời Đường thì có ngài Đạo Xước, người nối gót Tổ Đàm Loan, chuyên tu tịnh nghiệp, cả đời ngài giảng dạy Tịnh độ tam kinh có đến vài trăm lần. Môn hạ của ngài Đạo Xước là ngài Thiện Đạo, cho đến Thừa Viễn, Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Đại Hành, thì gió hương sen tỏa ngát khắp trong ngoài.
Do đó, các bậc tri thức của các tông phái không ai không lấy đạo này mật tu hiển hóa, tự lợi lợi tha.
Đồng thời ngài dùng kệ khen rằng:
Rộng lớn thay pháp môn Tịnh Độ,
Là nơi hướng về của các pháp.
Hợp khắp các căn cơ, mọi người đều vào được.
Trên thì nhiếp Đẳng giác, dưới chẳng bỏ ác nghịch.
Như muôn dòng đều chảy vào biển, đó là do sức đại nguyện của Phật A-di-đà.
Pháp môn Tịnh Độ, thực hành rất đơn giản dễ dàng, lợi ích thì thù thắng vô cùng. Tuy độ nhiều loại căn cơ khác nhau, nhưng pháp vị thì chỉ có một, đồng nương nhờ Phật lực (một nhân), đồng sanh Báo độ, đồng chứng pháp thân ánh sáng và thọ mạng (một quả). Việc thực hành rất đơn giản và dễ dàng mà có được sự lợi ích thù thắng.
Xưng danh thì nhập Báo độ, đây là tâm yếu tối thượng “lấy đại bi làm nền tảng, lấy phương tiện làm cứu cánh”, không xen vào những việc làm khác, cho nên gọi là pháp khó tin.
Đại Kinh ghi:
Như Lai tại thế, khó gặp khó thấy.
Kinh điển chư Phật, khó được, khó nghe.
Pháp tối thắng của Bồ-tát, các ba-la-mật, được nghe cũng khó.
Gặp thiện tri thức, nghe pháp mà hành theo, đây cũng là khó.
Nếu nghe kinh này, tin ưa thọ trì, khó càng thêm khó, không gì khó hơ
“Khó càng thêm khó, không gì khó hơn”, vậy nên mười phương chư Phật dùng tướng lưỡi rộng dài để chứng thật hộ niệm, khiến cho chúng sanh dứt hẳn nghi ngờ mà sanh tín tâm, quí trọng hạnh này. Chúng ta từ vô thỉ đến nay, chưa được giải thoát đều do không tin pháp này, đến nỗi luân hồi đau khổ một cách vô ích.
Pháp môn Tịnh Độ vi diệu khó lường, như Tổ Ấn Quang từng nói:
Pháp môn Tịnh Độ, rộng lớn không gì hơn, trùm khắp cả ba căn, lợi căn và độn căn đều tiếp nhận, chúng sanh trong cửu giới nếu bỏ pháp môn này thì trên không thể viên thành Phật quả; mười phương chư Phật nếu rời pháp môn này thì dưới không thể độ khắp chúng sanh. Tất cả pháp môn, đều từ pháp giới này lưu xuất; tất cả hạnh môn, đều quay về pháp giới này. Vì đó là pháp môn Tổng trì thành thủy thành chung, trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh của tất cả các Đức Phật trong mười phương ba thời.
Vì thế, được chín cõi đồng qui hướng, mười phương cùng khen ngợi, nghìn kinh đều xiển dương, muôn luận đều truyền bá. Dưới từ ngũ nghịch thập ác, trên đến Bồ-tát Đẳng giác, đều phải tu tập, đều có thể hiện đời siêu phàm nhập thánh. Tất cả những pháp cao sâu mầu nhiệm khác phần nhiều là khế lý, nên tuyệt nhiên không thể khế hợp hết thảy ba căn cơ là thượng, trung và hạ.
Chúng ta từ vô thỉ cho đến ngày nay, còn lẩn quẩn mãi trong vòng luân hồi, đều do bởi đời trước hoặc vì ngu muội không dám gánh vác, hoặc vì cuồng si không chịu tin nhận pháp môn này mà đến nỗi như thế.,
Cả đời Đức Phật thuyết pháp, tuy có nhiều pháp môn, nhưng chỉ một pháp xưng danh này gồm đầy đủ hai đặc tính “thắng” và “dị”, trên dưới đều nhiếp thu. Ấy gọi là ‘chí giản chí dị, chí đốn chí viên’. Đời này gặp được pháp môn Tịnh Độ, đối với pháp hoành siêu này, phải khởi tưởng pháp này hi hữu, khó gặp, phải khởi tâm tri ân, hoan hỉ tin nhận, y giáo phụng hành.
Đối với nghĩa lý thắng và dị ấy, phải đặc biệt dụng tâm, khéo phân biệt rõ ràng mới có thể hiểu được ý nghĩa chân thật của nó, để không phải lầm đường lạc lối, tự đánh mất mình và hại người khác.
‘Thắng’ và ‘dị’ được tóm lược như sau:
‘Thắng’, danh hiệu là kết quả giác ngộ của Phật, nhiếp thu muôn vàn công đức, hơn hẳn các hạnh khác. Cho đến một niệm, đầy đủ công đức vô thượng. Vì thế, Đại sư Thiện Đạo đã nói: Những hạnh khác, tuy gọi là thiện, nhưng nếu so với việc niệm Phật, thì hoàn toàn chẳng thể nào so sánh được
Pháp Nhiên thượng nhân giải thích ngắn gọn ý nghĩa của thắng:
Nghĩa thắng là:
Mang ý nghĩa Đại thừa tột bực, ngoài Thể không có danh, ngoài danh không có Thể.
Thể vi diệu của vạn thiện, chính là sáu chữ danh hiệu;
Hằng sa công đức, đầy đủ trong một hạnh xưng danh.
Đại nguyện, đại nghiệp, đại lực đã gầy dựng nên,
Nhằm ban cho hành giả muôn vàn công đức;
Tha lực khó nghĩ bàn, phương tiện khéo léo, khiến cho một câu xưng danh vượt hơn các thiện.
Bậc tri thức rộng khen, lửa lớn thành mát mẻ;
Bậc bạn hiền dạy xưng danh, sen vàng như mặt trời sáng r
Danh hiệu đại lợi, là công đức vô thượng.
Những ai khinh thường pháp môn này, nghe lời khai thị vi diệu về lợi ích của pháp tối thắng như vậy, mong rằng có thể vui mừng phát tâm cầu vãng sanh.
‘Dị’ là hạnh xưng danh không kén chọn căn cơ, dễ thực hành nhất. Đây là điều chí yếu của tông Tịnh Độ. ‘Dị’ này bao gồm nghĩa ‘giản dị, bình dị, dung dị’.
‘Giản dị’: Là không phức tạp, không quanh co. Chỉ tin vào bản nguyện của Phật A-di-đà, chỉ xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Không cần xen tạp nhiều hạnh khác như quán tưởng, tham cứu v.v., vì pháp này rất giản dị, rất thẳng tắt.
‘Bình dị’: Là không hư huyễn, không rỗng không. Bình thật tự nhiên, pháp nhĩ như thế; chỉ trì danh hiệu, đường tắt bước lên bậc bất thoái. Có nghĩa là “tự nhiên được kéo về, vãng sanh về cõi nước An Lạc”.
‘Dung dị’: Là dễ thực hành, dễ vãng sanh, dễ chứng. Giàu sang nghèo hèn, đều có thể thực hành; bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào, đều có thể xưng niệm, đây là dễ thực hành. Chỉ cần tương tục niệm Phật không dứt, suốt đời không thay đổi, nương vào nguyện lực của Phật, không ai không vãng sanh, đây là dễ vãng sanh.
Một khi được vãng sanh, thì nhập vào cảnh giới Phật, đồng Phật thọ dụng; như các dòng nước chảy vào biển cả, đồng một vị mặn, đồng một mức sâu rộng; mất đi tên gọi vốn có, mà được tên gọi là biển, đây là dễ chứng.
Một chữ “dị” ẩn chứa ý vị vô cùng, bao hàm nhiều đặc tính. Sự vượt trội của bản nguyện được hiển hiện rõ ở nơi đây, nên khéo lãnh hội để tránh hại mình hại người.
Đại sư Thiện Đạo dạy:
Chỉ cần trên suốt một đời, dưới đến mười niệm, nhờ nguyện lực Phật, không ai không vãng sanh, nên gọi là dễ.
Pháp Nhiên thượng nhân dạy:
Nghĩa ‘dị’ là:
Bất luận đi đứng nằm ngồi, xưng danh được Phật đến rước;Bất kể mọi lúc mọi nơi, xưng danh được vãng sanh.
Việc này không dựa vào thân tâm trược loạn, mà chỉ nương tha lực dẫn nhiếp.
Giải thích của hai vị Tổ sư đã hiển bày sâu sắc tha lực dễ thực hành tột bực, triệt để làm rõ tâm yếu “tùy theo ý nguyện, đều được hóa độ”.
Xem xét hai đặc tính thắng và dị, chúng ta biết được giáo pháp của một đời Phật thuyết, chỉ một pháp môn niệm Phật này mới thích nghi khắp các căn cơ. Đây chính là con đường cùng tu của cửu giới chúng sinh trên đến bậc thánh dưới đến phàm phu, là pháp thực hành chung cho kẻ ngu,
người trí. Thực hành dễ mà thành công cao, dùng sức ít mà hiệu quả mau.
Vì chuyên nương theo Phật lực, nên lợi ích ấy thù thắng vô cùng, vượt hơn các giáo pháp thông thường. Thế nên, từ xưa đến nay, các bậc hiểu sâu về tông môn và giáo môn, không ai không hướng tâm về Tịnh độ, nhất tâm niệm Phật.
Như Đại sư Đàm Loan trong Xả tứ luận giảng nói nhất hướng qui về Tịnh độ; Đại sư Đạo Xước gác lại hạnh nghiệp Niết-bàn rộng lớn chuyên hoằng hóa hạnh về Tây Phương; Đại sư Thiện Đạo bỏ con đường chật hẹp quanh co, chuyên một hạnh xưng danh; Đại sư Liên Trì đem tám muôn pháp môn giao phó cho người khác, chỉ làm duy nhất một việc niệm Phật; Đại sư Ngẫu Ích không tham thiền, không học giáo, không đàm huyền, không thuyết diệu, mà chỉ quý trọng một hạnh niệm Phật này; Đại sư Ấn Quang thông suốt tông môn và giáo môn, nhưng đối với hai con đường này, đều không nương tựa vào đó, chỉ theo một pháp nương sức từ bi của Phật để vãng sanh Tây Phương, kiên định giữ vững ý chí không dời đổi, trước sau chân thật niệm Phật.
Các vị Tổ sư đem giáo nghĩa và hành nghiệp của tông Tịnh Độ hoàn toàn dung hòa vào trong hành vi của chính bản thân các ngài, chỉ nương theo Đức Phật A-di-đà, chỉ hành theo pháp môn niệm Phật. Các ngài tuy thông suốt giáo nghĩa của cả đời của Phật thuyết, nhưng bề ngoài thể hiện giống như hạng người dốt, một chữ cũng không biết, hiển bày ra thân ngu độn mà an tâm niệm Phật, dừng tâm lại để niệm Phật, tùy duyên niệm Phật.
Các ngài ẩn đức mình vào trong đức của Phật, dấu ánh sáng bản thân vào trong ánh sáng của Phật, có thể nói là bên trong đức lớn mà bề ngoài như ngu si. Con đường tắt như thế, làm rõ ý nghĩa cốt yếu của Đại Kinh:
Tất cả ánh sáng của Thanh văn và Bồ-tát, thảy đều bị che khuất; chỉ thấy ánh sáng của Phật sáng chói rực rỡ.
Từ trong oai nghi của các vị Tổ, có thể thấy được ánh sáng của Phật A-di-đà; từ trong pháp ngữ cam lồ của các ngài, có thể lĩnh ngộ được tâm quang của Phật A-di-đà. Tâm từ bi và nguyện lực vô tận của Phật A-di-đà hiển bày rõ ràng trước mặt chúng ta, để bọn phàm phu tầm thường chúng ta hiểu được tấm lòng của Phật. Giúp chúng sinh có gương để noi theo, có pháp để nương tựa.
Các ngài thật sự là sứ giả của Phật A-di-đà, là phước điền của chúng sanh, là mẫu mực của “lời nói là khuôn phép cho thế gian, hành vi là gương mẫu cho thế gian noi theo”, là pháp mạch “từ nghìn xưa không dứt, truyền mãi muôn đời sau”.
Mong rằng những hành giả ở chốn Ta-bà có thể từ ngôn hạnh các vị Tổ, thấy được niềm hy vọng và ánh sáng, bước ra khỏi con đường nguy hiểm quanh co khúc khuỷu, quay về với cõi Tịnh độ rộng lớn không trắc trở, dùng công đức thệ nguyện của Phật để trang nghiêm tự thân, nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.
Được như vậy thì như hoa sen mọc giữa bùn nhơ, như ngọn lửa bùng cháy từ đống tro tàn, tuy rằng “Chưa ra khỏi chốn Ta-bà, mà đã chẳng phải khách Ta-bà dài lâu; chưa vãng sanh về miền Cực Lạc, mà đã là khách quý ở chốn Lạc Bang”.
Nam-mô A-di-đà Phật !
Nhớ Phật
Vâng lời Phật Thích-ca
Chuyên niệm Phật Di Đà
Nguyện vãng sanh Cực Lạc
Ắt Phật nhiếp thọ ta.
Ba cõi như nhà lửa
Sao chẳng sớm thoát ra
Đức từ phụ vẫy gọi
Cực Lạc là nhà ta.
Giống như người lái buôn
Chờ trời sáng lên đường
Người niệm Phật khi bệnh
Mừng sớm về cố hương.
Bao nhiêu kiếp phiêu bạt
Mong được sớm quay về
Hôm nay mừng biết mấy
Theo gót Phật về quê.
Lúc bệnh khổ bủa vây
Nhớ Phật, viết kệ này
Tự nhắc mình tỉnh ngộ
Vững chí quyết về Tây.
Trích Sách Bản Nguyện Niệm Phật
Thích Minh Tuệ


