Vấn Đáp Tịnh Độ 49

404.Vấn Đáp Tịnh Độ 49

Câu hỏi 91: Tụng kinh nào có thể cầu siêu cho thân nhân được vãng sanh Cực Lạc.

 

Con niệm Phật đã được nhập tâm. Vậy mẹ con chết, để cầu
siêu cho mẹ con vãng sanh Cực Lạc, con phải tụng kinh
Địa Tạng hoặc kinh A-di-đà, hay phải làm gì khác, thưa
Thầy?
Đáp:
1. Tụng kinh Địa Tạng mục đích nhắc nhở hương linh niệm
danh hiệu Địa Tạng Vương Bồ tát để được Ngài cứu độ
không bị đọa vào ba đường ác là: địa ngục, ngạ quỹ và súc
sanh. Kinh văn không có nói là tụng kinh này giúp hương
linh vãng sanh Cực Lạc.
2. Trong kinh A-di-đà đức Thế tôn dạy: Chúng sanh hãy
phát nguyện vãng sanh, chấp trì danh hiệu Phật A-di-đà đến
nhất tâm bất loạn, trước giờ phút lâm chung, tâm không
điên đảo, Phật A-di-đà và thánh chúng đến tiếp dẫn về Cực
Lạc quốc. Kinh văn cũng không có nói là tụng kinh này
giúp hương linh vãng sanh Cực Lạc.
3. Ấn Quang đại sư Tổ thứ mười ba Tịnh độ tông dạy:
“Thân nhân Niệm Phật A-di-đà hồi hướng công đức này
cho hương linh siêu sanh Cực Lạc là tốt nhất”. Thiết nghĩ,
Tổ sư đại từ đại bi, thương xót chúng sanh thời mạt pháp
này, nên đưa ra lời dạy hết sức quý báu. Đây là một pháp
hết sức đơn giản, dễ thực hiện mà đạt được mục đích tối
thượng.
4. Pháp sư Tịnh Không nói: “Niệm Phật thành một khối
(Bất niệm tự niệm sâu), dùng công đức này hồi hướng cho
cửu huyền thất tổ, đều đươc siêu thăng”.
Liên hữu niệm Phật được nhập tâm, hãy cố gắng huân
trưởng đạt Bất niệm tự niệm sâu, (thành một khối) bấy giờ
hồi hướng công đức cho bà cụ thì tốt biết mấy. Được vậy là
đại hiếu tử như kinh Phật đã dạy.

Câu hỏi 92: Có cần phải hồi hướng và cúng giỗ hàng năm
khi mẹ đã được vãng sanh?
Mẹ con được vãng sanh rồi, vậy con có cần hồi hướng công
đức cho mẹ con và cúng giỗ hằng năm nữa không, thưa Thầy?

Đáp:
1. Hồi hướng.
Kinh dạy: Cõi Cực Lạc có ba bậc chín phẩm, đây là nói đại
cương. Công phu tu tập của chúng sanh quá nhiều sai biệt
nên phẩm vị tương ứng cũng rất nhiều. Ấn Quang đại sư
Liên tông thập tam Tổ dạy: “Hồi hướng công đức là giúp
cho đương nhơn nâng cao phẩm vị”.
Mẹ của liên hữu vãng sanh phẩm vị không cao đâu. Do vậy
rất cần hồi hướng. Mặt khác mỗi lần hồi hướng là cách
thực tập, giúp liên hữu mở rộng tâm lượng “vì chúng sanh”.
Bồ Tát hạnh đấy!
2- Cúng giỗ.
Ý nghĩa, mục đích cúng giỗ là:
Kỷ niệm ngày vĩnh biệt người thân.
Tập họp gia đình, củng cố tình thương yêu, đùm bọc lẫn
nhau. Nuôi lớn từ bi tâm.
Thương nhớ thân nhân, nghĩ tưởng, nhắc nhở những gì
tốt lành, cao thượng của người thân để cùng nhau học, hành
hầu xứng đáng là con, cháu… của người. Tu tâm dưỡng tánh.
Duy trì phong tục “tri ân” rất quý của dân tộc. Đây cũng
là hạnh quan yếu của Phật giáo.
Vậy thì, dù bà cụ đã vãng sanh vẫn nên cúng giỗ hằng năm,
cúng không phải để bà cụ ăn, mà vì ý nghĩa và mục đích
nói trên.
Nên tránh sát sanh hại vật quá nhiều để cúng tế, đãi đằng
đông bạn bè, để chứng tỏ ta là hiếu tử…, là giàu có. Cách
phô trương này làm mất ý nghĩa và mục đích tốt đẹp nói
trên, bị phản tác dụng, tội sát sanh hại vật làm liên lụy rất
lớn đến thân nhân.

Câu hỏi 93: Muốn nhớ, thấy, và biết Cảnh khổ Tam Ác
Đạo.Tại sao Đức Phật từ bi không cho người ta có khả năng
nhớ, thấy, biết cảnh khổ trong tiền kiếp (địa ngục, ngạ quỹ,
súc sanh) của mình để sợ mà không làm ác nữa?

Đáp:
1. Vị kỹ sư, để đáp ứng nhu cầu và tùy theo tài năng của vị
ấy mà chế tạo ra người máy có khả năng như vặn ốc, siết
bù lon, khuân vác, di chuyển đồ vật… thậm chí giải phẫu.
Cũng vậy, thân người gọi là thân báo, nghĩa là cái thân để
thọ quả báo (thiện hay ác). Thân này được chế tác (chế tạo,
tác thành) bởi nghiệp lực. Do vậy, sự thọ dụng có muôn
ngàn sai khác tùy theo thiện báo hay ác báo, nặng nhẹ theo
đúng luật nhân quả (Trời, người, A tu la, ngạ quỷ, súc sanh
và địa ngục).
2. Đức Phật không phải là vị thần linh, nên Ngài không ban
ân, giáng họa cho một ai hết. Ngài chỉ là một đạo sư (Thầy
dẫn đường), Ngài chỉ dạy chúng ta phương pháp thoát khổ
được vui. Nếu ta thực hành đúng thì được giải thoát, bằng
không thì phải trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi khổ đau. Ngài
dạy chúng ta: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. Cổ nhân dạy:
“Ông tu ông chứng, bà tu bà đắc”. Cũng như vị bác sĩ ra toa
thuốc, bệnh nhân phải uống thuốc mới lành bệnh.

3. Đức Phật vạn năng, nhưng không phải toàn năng. Ngài
không làm trái luật nhân quả được. Điển hình, Đức Thế
Tôn đành làm ngơ để vua Lưu Ly tàn sát giòng họ Thích
Ca. Nếu Ngài toàn năng, thì với tâm đại từ đại bi, Ngài đã
độ cho tất cả chúng sanh thành Phật hết rồi. Bây giờ chúng
ta đâu còn ngồi đây mà luận bàn phải không?
4. Kinh dạy: “Biển có thể cạn, núi có thể tan, nhưng lời nói
của Thế tôn không bao giờ hư dối”, nghĩa là lời thế Tôn nói
luôn luôn chân thật. Cảnh khổ của súc sanh sờ sờ trước mắt
chịu khó quan sát là biết ngay. Còn cảnh khổ địa ngục và
ngạ quỷ đã được kinh sách nói rất nhiều rồi. Tại sao không
tin mà còn đòi nhớ, thấy, biết. Muốn nhớ, thấy, biết, hãy tu
đạt túc mạng thông, thiên nhãn thông, còn hành giả Tịnh độ
hãy tu niệm Phật đạt Lý nhất tâm bất loạn, thì sẽ tự nhớ,
thấy, biết.
5. Nếu đủ duyên, trường hợp cá biệt, Đức Phật có thể dùng
thần lực khiến chúng sanh thấy được cảnh giới xa lạ khác.
Như trường hợp Vy Đề Hy phu nhân và Ngài A Nan được
thấy Cảnh giới Tây Phương Cực Lạc vậy.

Câu hỏi 94: Hành trì niệm Phật đúng lý và đúng pháp là
phương thức bỏ cờ bạc hữu hiệu nhất.
Thầy ơi, tu học niệm Phật, vậy rồi người đó có bố mê chơi
bài bạc, như thế nào để giúp người bố mê giác ngộ?
Con chỉ biết rằng là đi Casino là ông phải thắng thua với
Casino. Tiền mình thắng vốn là tiền của mình đã thua hay
sẽ bị thua, hoặc là tiền của những người thân, bạn bè. Khi
chơi bị hồi hộp, bị buồn khổ, và vui khi thắng trong sự khổ
của kẻ bị thua.Con dùng những lời lẽ này để khuyên người, mà không ai
nghe, vì sao vậy? Chắc là sự giác của con và lời giải thích
không đúng, phải không Thầy?

Đáp:
1. Con người mê cờ bạc, khuyên họ không được vì người
ấy quá tham, thiếu chánh kiến, thiếu tinh thần cầu tiến (bảo
thủ).
2. Muốn phá mê khai ngộ thì phải học kỹ giáo pháp của
Phật, xong quyết tâm hành trì (y giáo phụng hành).
3. Hành giả Tịnh độ hành trì đúng như lý, như pháp, đương
nhiên bỏ cờ bạc.

Câu hỏi 95: Sự khác biệt giữa Tác Ý Niệm Phật và Tâm
Tự Niệm Phật.
Bạch thầy con có chỗ khó chưa am tường giữa việc phân
biệt rõ ràng về tác ý niệm Phật và tâm tự niệm Phật, vì đôi
khi con niệm Phật mà không rõ là ý niệm hay tâm tự niệm.
Con lâu nay tu tập tại gia, trong nhà có ba không thích nghe
tiếng niệm Phật, tụng kinh, nên lâu nay con chỉ khởi ý thức
để niệm Phật chứ không niệm bằng miệng. Nên lâu giờ con
không nghe được tiếng niệm Phật như nghe tiếng có âm
thanh thực ở ngoài, mà con chỉ cảm nhận rằng trong tâm có
khởi câu Phật hiệu. Câu Phật hiệu đó không có âm thanh,
tương tục rất nhanh, nhiều lúc nuốt mất từ trong Phật hiệu,
dường như chỉ là một tiếng gõ mà hàm đủ 4 từ trong câu
Phật hiệu. Nên khi biết như thế, con dùng ý thức can thiệp
niệm rõ ràng 4 từ trong câu Phật hiệu. Ngay cả lúc tiếp
chuyện với người thì lúc con nghe người nói mà tâm con
vẫn niệm Phật, chỉ lúc con nói thì tâm con không niệm Phật
mà thôi. Chỉ trừ lúc ngủ thì con chưa niệm Phật được.

Đáp
1- Ý niệm (ý trì) là dùng sức (dụng công) điều khiển ý (ý
thức) niệm Phật.
2- Tự niệm là Tạng thức, thức thứ tám (Tâm, Tự Tánh, Bản
Lai Diện Mục,…) TỰ ĐỘNG nó niệm, mình không khởi
tâm động niệm gì cả, mình không ra sức (dụng công) mà
TỰ NÓ niệm, trạng thái này gọi là Nhập tâm.
Điều mà đạo hữu “cảm nhận” rất tốt, thú vị lắm, đạo hữu
nên theo dõi, có điều gì mới lạ thêm, hãy báo tôi biết, để
cùng góp ý, hầu chúng ta đồng tiến tu.

Trich Lá Thư Cực Lạc

Thích Minh Tuệ

 

 

Viết một bình luận