
95.Vấn Đáp 6 Tịnh Độ
29- Hỏi: Con thực hành pháp Thập niệm ký số, ban đầu có kết quả tốt, thời gian sau vọng niệm vẫn dậy khởi, nhưng ít hơn trước. Vậy là sao thưa Thầy?
Đáp: Ban đầu liên hữu chú ý, cột tâm ý vào danh hiệu Phật và cố nhớ để đếm không cho lộn số. Được vậy, vọng niệm không khởi lên được (Tâm vô nhị dụng). Nhưng khi tập lâu thành thói quen (tập khí) miệng tự động niệm và đếm số, không cần chú tâm, tâm lại rong ruổi, khởi vọng niệm nữa. Còn có cách thứ hai, đếm số từ một đến mười rồi đếm ngược lại từ mười đến một. Đếm nửa chừng lộn số thì phải bỏ, đếm lại từ đầu.
30- Hỏi: Hành pháp Thập niệm ký số, đếm xuôi rồi đếm ngược nói trên có kết quả tốt, nhưng thời gian sau vọng niệm vẫn dậy khởi là sao, thưa Thầy?
Đáp:: Vì ban đầu nhiếp tâm được nên không vọng niệm. Sau thành thói quen (tập khí) như nói lần trước, miệng tự động niệm và đếm số xuôi ngược, không cần chú tâm nữa, nên tâm rong ruổi khắp nơi, vọng niệm dậy khởi. Có cách thứ ba: mở máy niệm Phật, nhịp độ vừa phải không quá chậm, lắng lòng nghe và niệm theo từng chữ, từng câu, một cách rành rẽ, rõ ràng, sẽ dứt bặt vọng niệm.
31- Hỏi: Cách thứ ba rất tốt nhưng rất tiếc là chỉ niệm được chừng bốn mươi phút hoặc sáu mươi phút là mõi mệt. Khi đó niệm theo không nổi thì vọng niệm lại tái khởi dậy. Vậy con phải làm sao, thưa Thầy?
Đáp: Có cách thứ tư, tự làm hay nhờ bạn làm giúp, hoặc tôi sẽ làm cho một CD thường hoặc CD-MP3 giọng niệm của liên hữu. Niệm một câu ngưng một chút, niệm câu thứ hai ngưng một chút, tiếp niệm câu thứ ba…. nghĩa là niệm không liên tục có gián đoạn. Mở máy, bình tĩnh, lắng lòng nghe máy niệm. Máy ngưng niệm, mình niệm, khi máy niệm mình lắng lòng nghe. Luân phiên niệm như vậy mình đủ sức niệm hai, ba, bốn, năm giờ liên tục mà không mệt mỏi.
Ban đầu máy niệm một câu, mình niệm một câu, sau quen dần, máy niệm một câu, mình niệm hai, ba câu. Tập niệm từ thấp lên cao dần dần như sau: Ban đầu mình niệm lớn tiếng (cao thanh trì), khi quen, chuyển niệm nhỏ tiếng (đê thanh trì), khá quen chuyển niệm thầm có nhép môi (kim cang trì), xong tiến lên niệm thầm không nhép môi (mặc trì), cuối cùng tiến đến niệm bằng ý (ý trì).
Nên viết lớn, đậm nét bốn chữ A Di Đà Phật (hoặc sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật) trên tờ giấy như sau:
A
DI
ĐÀ
PHẬT
Để Thánh hiệu này trước mặt (vừa tầm mắt), mắt nhìn bốn chữ A Di Đà Phật trong suốt thời gian nghe máy niệm và mình niệm, mục đích là nhiếp nhãn căn (nhìn thánh hiệu để không nhìn cái gì khác, đơn giản vậy thôi). Không cần phải tập trung tư tưởng để chú ý quán sát bốn chữ này (nếu chú ý quan sát là lạc vào quán tưởng rồi).
Lưu ý: Tiếng máy niệm và tiếng mình niệm phải liên tục như giòng nước chảy, không có kẽ hở (vì có kẽ hở thì vọng niệm sẽ dậy khởi).
Không bắt buộc phải ngồi trước bàn thờ Phật, phải ngồi kiết già hay bán già, mà nên ngồi thoải mái trên ghế, để có thể ngồi năm giờ liền không mệt mỏi.
Mặt khác, ban đêm ngủ, hoặc đang làm việc gì khác, (ngoài thời khóa) nên để máy niệm Phật suốt thời gian. Trường hợp này tiếng niệm Phật (của máy) phải liên tục, không gián đoạn.
Thực hiện được như vậy, thân, khẩu, ý niệm Phật năm giờ liên tục mà không có vọng niệm, là đắc “chỉ” của Thiền, là đắc “tịnh” của Tịnh Độ, huân tập nhiều lần như vậy, thì làm sao mà không nhập tâm được chứ?
Tám vị nhập Phật thất tại tu viện Tịnh Luật áp dụng cách niệm Phật này mà được nhập tâm trong vòng bảy ngày hành trì (nêu trong câu đáp 6A).
Cách niệm Phật theo máy.
Hát CD niệm Phật có gián đoạn và thực tập như sau:
1- Bình tĩnh, lắng lòng nghe máy hát (niệm) một câu, máy ngưng, mình niệm một câu; máy hát câu kế tiếp, máy ngưng, mình niệm một câu nữa. Máy và mình luân phiên niệm như vậy thời gian ngắn vài ba phút hay dài hơn tùy người.
2- Khi niệm như vậy quen rồi, thì khi nghe máy hát (niệm) đến chữ đà thì mình bắt đầu niệm A-di-đà Phật. Như vậy để khi máy hát chữ Phật là mình đã niệm chữ A, mục đích là hai chữ Phật và chữ A nối liền nhau không có kẽ hở.
3- Mình niệm sao cho chữ Phật của mình cũng nối liền với chữ A của máy, nghĩa là cũng không có kẽ hở.
Chú ý: khi niệm quen rồi, mình linh động niệm ngắn hơn hay dài hơn bình thường một chút để câu Phật hiệu mà mình niệm không có kẽ hở đầu và cuối câu.
4- Các câu Niệm Phật của mình và máy nối liền nhau không có kẽ hở thì vọng niệm không khởi dậy được (Tâm vô nhị dụng nghĩa là Tâm một lúc không thể làm hai việc. Tâm bận niệm Phật thì tuyệt đối không có niệm gì khác, không có vọng niệm). Nhờ vậy nên có thể niệm năm giờ liên tục, mà không có một vọng niệm nào cả. Đây là yếu tố đưa đến Nhập tâm.
5- Khi máy và mình niệm Phật, lỗ tai lắng nghe, miệng niệm hoặc ý niệm (ý trì), ý theo dõi tiếng niệm này. Đây là nhiếp nhĩ căn, thiệt căn và ý căn.
6– Khi máy niệm và mình niệm, mắt nhìn vào bốn chữ A Di Đà Phật để trước mặt, đây là nhiếp nhãn căn vào Phật hiệu. (Nhớ là nhìn chứ không phải quán).
7- Thân ngồi ngay ngắn chỉnh tề đây là nhiếp thân căn vào cảnh giới Phật.
8- Mũi ngữi mùi hương cúng Phật đây là nhiếp tỷ căn vào cảnh giới Phật.
9- Thực hiện được như vậy là đã nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, theo đúng lời chỉ dạy trong Kinh Lăng Nghiêm, thì làm sao mà không nhập tâm được chứ?
10- Hành giả nên đọc kỹ, cố gắng tập sẽ quen dần, có gì không rõ hãy điện thoại cho tôi, để được góp ý thêm.
Quyết định phải thành tựu Tịnh nghiệp,
Vãng sanh Cực Lạc,
Thành Phật, Độ chúng sanh.
32- Hỏi: Thỉnh thoảng con bị như sau: Trong lúc đang ngồi niệm Phật, miệng niệm, tai nghe, ý ghi nhận rành rẽ, rõ ràng từng chữ từng câu Phật hiệu, tâm con rất sáng suốt. Bỗng dưng tâm con sinh khởi các ý tưỏng vọng động song hành với câu Phật hiệu. Sao kỳ lạ vậy, có hại không, thưa Thầy?
Đáp: Thông thường khi vọng tưởng, tạp niệm dậy khởi thì câu Phật hiệu bị mất. Đó gọi là tán loạn (bệnh). Đằng này cả hai song hành, đó gọi là sức phản ứng của chủng tử nghiệp, chứ không phải bệnh. Nguyên nhân như sau: Theo Duy thức học, trong tạng thức chứa lẫn lộn những chủng tử lành (vô lậu), dữ (hữu lậu). Khi niệm Phật là ta huân tập chủng tử công đức vô lậu, nó chuyển hoá những chủng tử hữu lậu, khiến những chủng tử này phản ứng, khởi hiện hành. Hiện hành huân tập chủng tử, chủng tử khởi hiện hành (mà mình không quan tâm đến nó) mỗi lần yếu đi một ít, nhiều lần chúng bị tiêu mất luôn.
Tóm lại, hiện tượng này chứng tỏ liên hữu công phu đắc lực, đáng mừng, có lợi chứ không hại gì ca
33- Hỏi: Phan duyên là gì, đối trị cách nào?
Đáp: Phan duyên là thói quen, tâm ưa rong ruổi bên ngoài. Đây cũng là một loại động loạn, nhưng có điều nó lặng lẽ, như khi ngồi niệm Phật mà tai lại lắng nghe tiếng người ngoài nói chuyện hoặc mắt theo dõi cảnh vật xung quanh… tức là năm căn duyên theo năm trần cảnh. Đây là nguyên nhân làm công phu bị gián đoạn và mất chánh niệm. Hành giả không biết, tưởng mình không vọng niệm rồi không lo đoạn trừ, lâu ngày thành thói quen nặng, ngồi niệm Phật mà chỉ huân tập vào tâm những chuyện vô ích bên ngoài. Người này tu nhiều mà tâm không định.
Đối trị: Khi niệm Phật, có thấy hoặc nghe gì, thì làm ngơ như mù, như điếc, xả bỏ mọi cảnh trần, tập trung tâm ý (nhiếp các căn), miệng niệm, tai nghe, ý ghi nhận rành rẽ, rõ ràng từng chữ, từng câu Phật hiệu (phản văn trì danh).
Không Có Thành Tựu Nào Mà Thiếu Tinh Tấn.
34- Hỏi: Vô ký là gì, đối trị cách nào?
Đáp: Vô ký là thái cực đối lập với phan duyên, tức là tâm thức biến mất, hành giả ngồi niệm Phật đến một lúc tự nhiên không nhận biết gì cả, quên niệm Phật, như người chết. Trạng thái này có khi trải qua hàng giờ. Nếu không biết, lại cho là được định tâm, đắm thích theo nó, khiến uổng phí thì giờ, vì chỉ gieo trồng chủng tử gỗ đá vô tri mà thôi.
Đối trị: Tập trung tâm ý, niệm thầm danh hiệu Phật bằng kim cang trì, mặc trì hoặc ý trì (ý trì là hiệu quả nhất). Vì ý thức bị chìm mất, bây giờ bắt ý thức phải làm việc (niệm Phật) và kiểm soát nó, đương nhiên nó phải hiện tiền (không chìm mất).
Trích Sách Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp
Thích Minh Tuệ



