Vấn Đáp 9 Tịnh Độ

132.Vấn Đáp 9 Tịnh Độ

47- Hỏi: Khi ngồi tịnh tọa niệm Phật, để nhiếp nhãn căn, con nhắm mắt, thời gian ngắn, bỗng con thấy những người và thú rất xa lạ với con, con mất chánh niệm. Con mở mắt ra thì không còn thấy gì nữa. Trước kia, con thường thấy vậy nhiều hơn, sau khi con được nhập tâm tình trạng này ít dần. Như vậy những hình người và thú này từ đâu mà có? Tình trạng này tốt hay xấu, và con phải làm sao, thưa Thầy?

Đáp: 1- Chủng tử tiềm tàng trong tạng thức, chúng nương vào sáu căn để hiện hành. Nhắm mắt là đóng kín nhãn căn (không cho chủng tử hiện hành qua mắt) cộng thêm liên hữu niệm Phật là huân tập chủng tử danh hiệu Phật vào tạng thức, chủng tử vô lậu này chuyển hóa những chủng tử hữu lậu, để đối phó lại hai áp lực này, chủng tử hữu lậu phản ứng lại bằng cách khởi hiện hành, nên hiện tượng này gọi là “Sức phản ứng của chủng tử nghiệp”. Những hình người và thú mà liên hữu thấy, hiện hữu trong tâm. Cái thấy lúc bấy giờ không phải thấy bằng mắt (vì mắt đã nhắm lại rồi), mà thấy bằng tánh thấy (cũng ở trong tâm). Cảnh giới này hoàn toàn xảy ra trong tâm nên gọi là nội giới. Nội giới này xuất phát từ tạng thức (A-lại-da thức), nên gọi là “A-lại-da biến tướng”.

2- Hiện tượng này trước đây xảy ra nhiều, nay dần dần ít lại. Theo Duy thức học, chủng tử khởi hiện hành mà mình không theo (không nuôi dưỡng), nó cũng rơi lại tạng thức nhưng yếu hơn, nhiều lần như vậy nó sẽ mất hẳn (tiệu diệt).

3- Tốt hay xấu. Ở đây không nói tốt hay xấu, mà chỉ nói là nó lợi, hại thế nào?

a- Lợi: Chủng tử hữu lậu nó khởi hiện hành để rồi tiêu mất, nếu không, nó tiềm phục mãi trong tạng thức, đến giờ phút lâm chung, đủ duyên nó khởi hiện hành thì rất nguy hiểm. Đây là nói với hành giả chưa đạt Bất niệm tự niệm.

b- Không lợi, nó khởi hiện hành làm mình mất chánh niệm, vậy là bị xen tạp bị gián đoạn rồi.

4- Cách đối trị.

Cổ đức dạy: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm” Nghĩa là không sợ vọng niệm, vọng tưởng khởi dậy mà chỉ sợ quên không nhớ niệm Phật (giác chậm). Vậy thì hành giả nên:

a- Mặc kệ nó, hiện tượng (sức phản ứng của chủng tử nghiệp), cảnh giới (A lại da biến tướng) như nói trên, chúng là vọng tưởng, là giả, không thật, không cần chú ý, không cần quan tâm đến chúng, chúng tự sanh sẽ tự diệt. 

 b- Lập tức dõng mãnh phát khởi câu Phật hiệu “A-di-đà Phật”.(Niệm càng to tiếng càng tốt). Ngay khi đó, hiện tượng, cảnh giới trên tự mất, vì tâm một lúc không thể làm hai việc, niệm Phật thì vọng niệm tự mất. Hành trì nhiều lần như vậy, ác chủng tử này tự diệt. Phụ chú: Gần đây có hai nữ Phật tữ, không phải lúc nhắm mắt, mà lúc niệm Phật bình thường, bổng nhiên nghe tiếng, hoặc nhìn thấy hình ảnh dơ bẩn (bất tịnh) của nam nữ. Tệ hại hơn, đôi khi lại thấy rõ ràng diễn viên chính là mình với chồng. Tệ trạng này tương tự trường hợp trên. Vậy, phải hiểu và đối trị như nói trên.

48- Hỏi: Vậy, con nên nhiếp nhãn căn bằng cách nào, thưa Thầy?nào, thưa Thầy?

Đáp: Từ nhiếp có hai nghĩa hẹp và rộng (cạn và sâu). Hành giả thường hành hai

cách: 1- Khi tịnh tọa niệm Phật, ngồi kiết già hay bán già, lưng thẳng, mở hí mắt (1/4), để hạn chế tầm nhìn của mắt.

2- Khi tịnh tọa niệm Phật, đễ tượng (hình) Phật A-di-đà trước mặt, mắt nhìn tượng Phật để cột nhãn căn, nhãn thức vào tượng Phật, tránh không cho mắt phan duyên ngoại cảnh khác. (Xin đọc câu đáp nhiếp sáu căn, dưới đây).

49- Hỏi: Nhiếp sáu căn là sao?

Đáp: Kinh Lăng-nghiêm nói: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, đắc Tam ma địa bậc nhất”. Sáu căn là gì? Là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Tại sao phải nhiếp? Sau đây là lý do: +Ý nghĩa: Người xưa dạy: “Sáu căn là sáu tên giặc (lục tặc) cũng là cửa sổ mở sáu phép thần thông (lục thông)” hoặc “Sáu căn không dính mắc sáu trần là giải thoát”. Mắt thấy sắc, đuổi theo, chấp chặt nên khổ đau. Tai nghe tiếng, đuổi theo, chấp chặt nên khổ đau. Mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Muốn hết khổ đau, tâm được an định thì sáu căn phải được thu nhiếp (không chạy theo sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Tịnh niệm là niệm thanh tịnh. Thanh tịnh ở đây là không hoài nghi, không mong cầu, ngoài thánh hiệu A-di-đà, không xen tạp thánh hiệu nào khác, không tham, sân, si… Tam-ma-địa nghĩa là chánh định, đối với Tịnh Độ tông tức là nhất tâm bất loạn.

+Thực hành: từ cạn đến sâu.

Cấp I: Nhiếp sáu căn nghĩa là sáu căn vẫn tiếp xúc và hay biết mọi sự mọi việc, nhưng chỉ dính mắc, chấp chặt duy nhứt vào một đối tượng mình mong muốn, ngoài ra không đuổi theo bất cứ sự việc nào khác. Cụ thể, mắt nhìn tượng Phật để nhiếp nhãn căn vào Phật. Tai nghe tiếng niệm Phật để nhiếp nhĩ căn vào thánh hiệu Phật. Mũi ngửi mùi hương cúng Phật để nhiếp tỷ căn vào cảnh giới Phật. Lưỡi niệm Phật để nhiếp thiệt căn vào thánh hiệu A-di-đà. Thân ngồi nghiêm trang để nhiếp thân căn vào cảnh giới Phật

Ý nhớ nghĩ ghi nhận tâm thanh của thánh hiệu Phật là nhiếp ý căn vào danh hiệu Phật. Tóm lại chỉ nhiếp sáu căn vào Phật, nghĩa là sáu căn chỉ dính mắc độc nhất vào Phật, không dính mắc vào sáu trần nào khác. Người xưa dạy: Thấy sắc không mê sắc Nghe tiếng chẳng nhiễm tiếng Sắc tiếng đều không ngại Mới đến Pháp vương thành.

– Như mù mắt không nhìn ngoại cảnh Như điếc tai chẳng thính mảy may Càng không dao động càng hay Người ngồi tịnh tọa việc ngoài xem không

– Vua Trần Thánh Tông nói: Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng Mắt theo hình sắc, mũi theo hương Lênh đênh làm khách phong trần mãi Ngày hết, quê xa vạn dặm đường. “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” nghĩa là cột tâm một chỗ, không việc gì chẳng xong.

Cấp II: Ý trì là niệm Phật bằng ý (Xin đọc phần IV, Cách trì danh, sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh). Niệm bằng ý vẫn có tiếng. Bây giờ lắng lòng nghe tiếng Phật hiệu, gọi là Phản văn, văn Phật hiệu”. Nghe không phải là nghe bằng lỗ tai (nhĩ căn) mà nghe bằng tánh nghe (tánh trong căn). Theo Duy thức học, ý thức chỉ đạo (là chủ) của năm thức trước, nghĩa là khi ý thức không can dự vào thì năm thức trước mất tác dụng (như nhìn mà không thấy, “thị bất kiến”; nghe mà không biết “thính bất văn”…). Do vậy, khi nhiếp được ý thức là đương nhiên nhiếp cả năm thức còn lại. Ý trì trên đây nhiếp ý thức lẫn nhĩ thức nên hiệu quả rất cao.

Cấp III: Tập như trên lâu ngày chày tháng thành thục, sẽ nhiếp (đóng) trọn vẹn nhĩ căn, nghĩa là ngoài danh hiệu Phật không còn nghe bất cứ âm thanh nào khác. Lục căn dung thông (liên quan) lẫn nhau. Chỉ cần nhiếp thành tựu một căn, thì năm căn còn lại cũng thành tựu. Như Cổ đức dạy: “Nhất tu, nhất thiết tu”, nghĩa là thành tựu một là thành tựu tất cả. Đạt đến trình độ này mới đúng nghĩa nhiếp trọn vẹn sáu căn. Khi nhiếp trọn vẹn sáu căn và niệm Phật không gián đoạn, là đạt Nhất tâm bất loạn. Ban đầu là Sự nhất tâm bất loạn sau là Lý nhất tâm bất loạn, thì vãng sanh Thật báo trang nghiêm độ (Thượng phẩm).

50- Hỏi: Hành giả niệm Phật phải đạt tiêu chuẩn nào để được vãng sanh Cực Lạc?

 Đáp: Muốn được vãng sanh, hành giả phải đạt những điều kiện như Kinh Phật ấn định như sau

: 1/ Kinh A-di-đà dạy: Xá Lợi Phất này! Nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân mà được nghe nói Phật A-di-đà, rồi nhớ ngay danh hiệu của Ngài, niệm trong một ngày, hay là hai ngày, hay là ba ngày, hay là bốn ngày, hay là năm ngày, hay là sáu ngày, hay là bảy ngày, niệm kỳ cho thành người nhất tâm, không còn loạn tưởng, thế là người ấy khi nào lâm chung, Phật A-di-đà cùng chư Thánh chúng hiện ra trước mặt.

Người ấy lúc chết, tâm không điên đảo, tức được sanh sang nước Cực Lạc của Phật A-di-đà”.

2/ Kinh Xưng Tán Tịnh độ Phật Nhiếp Thọ dạy: “Lại này Xá Lợi Tử! Nếu có các thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân lòng tin trong sạch, được nghe danh hiệu vô lượng vô biên công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật Vô Lượng Thọ và thế giới Cực Lạc công đức  trang nghiêm như vậy, nghe xong tưu duy: hoặc một ngày một đêm, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm, hoặc sáu, hoặc bảy ngày, hệ niệm chẳng loạn thì các thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân đó, lúc lâm chung được Phật Vô Lượng Thọ và vô lượng Thanh văn đệ tử, Bồ-tát chúng của Ngài vây quanh trước sau, đến đứng trước mặt, từ bi gia hựu (gia hộ, gia bị) khiến tâm chẳng loạn. Xả mạng xong, người này theo Phật chúng hội vào thế giới Cực Lạc, cõi Phật thanh tịnh của Phật Vô Lượng Thọ”.

3/ Kinh Vô Lượng Thọ, Nguyện thứ mười tám: “Lúc tôi thành Phật, chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chí tâm tin ưa, tất cả thiện căn, tâm tâm hồi hướng nguyện sanh cõi tôi, dẫu chỉ mười niệm nếu chẳng được sanh, thì chẳng lấy chánh giác, chỉ trừ kẻ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp”.

4/ Kinh QuánVô Lượng Thọ nói: Bậc trí thức lại bảo phải chắp tay niệm “Nam-mô A-di-đà Phật”, do đương nhơn thành tâm xưng danh hiệu Phật, nên tiêu trừ trọng tội tám mươi ức kiếp sanh tử”. Ngay lúc ấy Đức Vô Lượng Thọ Như Lai cảm biết, liền sai Hóa Phật, Hóa Quan Âm và Hóa Thế Chí hiện đến trước hành giả khen rằng: “Lành thay thiện nhơn! Người đã xưng danh hiệu Phật, nên các tội tiêu diệt, ta đến đây để rước ngươi”. Nói gọn, chỉ cần niệm Phật một câu cũng được Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.

5/ Kinh Pháp-cổ còn nói một cách đơn giản hơn: chỉ cần khởi lên ý muốn vãng sanh Cực Lạc là được Phật tiếp dẫn về Cực Lạc. Tóm lại, điều kiện được vãng sanh hết sức dễ dàng, trước giờ phút lâm chung chỉ cần niệm một câu Nam-mô A-di-đà Phật hay A-di-đà Phật. Hoặc vì lý do gì đó không niệm được chỉ cần khởi lên ý muốn vãng sanh Cực Lạc là được Phật tiếp dẫn về Cực Lạc.

51- Hỏi: Hành giả phải niệm Phật thế nào để được bảo đảm vãng sanh?

Đáp: Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư, Bát Tổ Liên Trì đại sư, Hòa thượng Thích Trí Tịnh đồng dạy: “Người niệm Phật phải đạt tầng công phu thấp nhất là Niệm lực tương tục, tức là Bất niệm tự niệm mới bảo đảm vãng sanh”. Muốn đạt Bất niệm tự niệm phải chuyên tu chánh hạnh, chánh định nghiệp theo sự dạy bảo của Nhị Tổ Thiện Đạo.

52- Hỏi: Chuyên tu chánh hạnh là sao?

Đáp: Quán Kinh Sớ quyển bốn, Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư nói: “Từ công hạnh mà thiết lập tín tâm”. Nhưng công hạnh có hai loại: một là chánh hạnh, hai là tạp hạnh. Chánh hạnh tức là chỉ y tựa vào các Kinh vãng sanh mà tu tập. Cụ thể chánh hạnh là như thế nào?

– Một là, nhất tâm chuyên tụng Quán Kinh, A-di-đà Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh.

– Hai là, nhất tâm chuyên chú, suy gẫm, quán sát, ức niệm sự trang nghiêm của chánh báo và y báo của cõi Cực Lạc.

– Ba là, nếu như lễ lạy, thì chỉ chuyên tâm lễ lạy đức Phật A-di-đà.

– Bốn là, nếu xưng danh, thì chỉ nên xưng tán danh hiệu của đức Phật A-di-đà.

– Năm là, nếu như tán thán cúng dường, thì chỉ nên nhất tâm tán thán cúng dường đức Phật A-di-đà.

Đây gọi là chánh hạnh. Lại nữa trong phần chánh hạnh, có hai loại: nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà, đi, đứng, nằm, ngồi bất luận thời gian dài ngắn, niệm niệm không quên, đây gọi là nghiệp chánh định, thuận theo bổn nguyện của Đức Phật A-di-đà. Còn các nghiệp: lạy Phật, tụng Kinh, tán thán Phật A-di-đà, quán sát cõi Cực Lạc đều gọi là nghiệp phụ. Ngoại trừ hai hạnh chánh và phụ nầy ra, các hạnh khác đều gọi là tạp hạnh.

Câu trên ý muốn nói tạp hạnh nhiều vô lượng không thể nói hết được, thế nhưng ở đây nêu lên năm loại chánh hạnh làm chuẩn, ngoài ra đều là tạp hạnh. Sơ Tổ Tịnh độ tông Nhật Bản là Pháp Nhiên thượng nhân dạy: “Phàm muốn xa lìa sanh tử, cần phải bỏ Thánh đạo môn mà vào Tịnh Độ môn”. Trong Tịnh Độ môn nên bỏ tạp hạnh mà tu chánh hạnh. Trong chánh hạnh, cần phải gác qua trợ nghiệp mà chọn lấy chánh định nghiệp. Chánh định nghiệp tức là xưng danh hiệu Phật. Hễ xưng danh liền được vãng sanh, vì nhờ sức bản nguyện của Phật. Trên đường trời, người, tu phước làm đầu. Trong biển sinh tử, niệm Phật bậc nhất

Trích Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp

Thích Minh Tuệ

Viết một bình luận