
240.Vấn Dáp Tịnh Độ 25
36- Hỏi: Cổ đức dạy: “Muốn được vãng sanh, niệm Phật phải chuyển được chỗ chín thành chỗ sống, chỗ sống thành chỗ chín” là như thế nào?
Đáp: Muốn được vãng sanh, hành giả phải thực hành theo lời dạy của Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư và Tổ sư Pháp Nhiên, là bỏ tạp hạnh, kiên trì chuyên tu chánh hạnh (thâm nhập nhất môn, trường kỳ huân tu). Điều này có nghĩa là toàn thời gian lâu dài niệm Phật không xen tạp, không gián đoạn (không tụng Kinh, bái sám … gì khác cả, chỉ độc nhất niệm Phật mà thôi), mới có thể chuyển được chỗ chín (ái nhiễm, tham đắm ngũ dục, lục trần) thành chỗ sống (bồ-đề chánh niệm, chân thành niệm Phật cầu vãng sanh), chỗ sống (bồ-đề chánh niệm) thành chỗ chín rục (bồ-đề chánh niệm thuần thục).
Vì sao phải chuyển như vậy? Vì ngoài những vị có cực trọng nghiệp, còn lại chúng ta tái sanh đều do cận tử nghiệp quyết định.
Ngay giờ phút lâm chung, nếu:
-Khởi niệm ái nhiễm ngũ dục lục trần, thì sẽ sa vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).
-Khởi chánh niệm niệm Phật, thì sẽ được đức Phật A-di-đà tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.
37- Hỏi: Người được vãng sanh Cực lạc được bất thoái là sao?
Đáp: Người được vãng sanh Cực Lạc dù ở mức Hạ phẩm hạ sanh vẫn đạt Tam bất thoái. Đó là Vị bất thoái, Hành bất thoái và Niệm bất thoái.
1- Vị bất thoái: Vị thứ đã tu được không bị thoái thất (trở lui và mất mát). Hễ hành giả được quả vị nào thì trụ chắc quả vị đó, để rồi tiếp tục tinh tấn tiến tu.
2- Hành bất thoái: Chẳng bị thoái thất đối với các pháp đã tu hành, tức hạnh tu càng ngày càng tăng trưởng.
3- Niệm bất thoái: Chẳng bị thoái chuyển về chánh niệm.
Ba Bất thoái này, đem sánh với hạnh vị của Bồ-tát thì tùy theo các tông có khác nhau.
Quán Kinh Diệu Tông Sao, quyển hạ viết:
– “Nếu phá kiến tư hoặc, thì được gọi là Vị bất thoái, vĩnh viễn chẳng mất địa vị siêu phàm giả.
– Lại đoạn được trần sa hoặc, thì được gọi là Hành bất thoái, vĩnh viễn chẳng mất hạnh Bồ-tát.
– Nếu đã phá vô minh, được gọi là niệm bất thoái, chẳng mất chánh niệm Trung đạo”.
Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư giải thích rộng hơn: “Nếu được nghe danh hiệu, chỉ cần Tín, Nguyện, Trì danh, thì ắt có thể ngay trong hiện đời chứng được bất thoái”.
38- Hỏi: Người vãng sanh Cực Lạc đắc Vô sanh pháp nhẫn là gì?
Đáp:
1- Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phép quán thứ mười bốn (Thượng Phẩm Thượng Sanh Quán) nói: Khi sanh về Thượng phẩm thượng sanh liền ngộ vô sanh pháp nhẫn (thượng phẩm trung sanh chưa ngộ).
2- Kinh Vô Lượng Thọ, Phẩm mười lăm, Bồ-đề đạo tràng nói: “Người vãng sanh Cực Lạc thấy cây Bồ-đề đạo tràng sẽ đắc ba thứ nhẫn: Một là Âm hưởng nhẫn, hai là Nhu thuận nhẫn, ba là Vô sanh pháp nhẫn.
Tịnh Ảnh Sớ giảng như sau:
– Âm hưởng nhẫn là do nghe pháp ngộ đạo, biết hết thảy pháp giống như tiếng vọng, như mộng, huyễn, bọt nước, hình bóng. Bậc Bồ-tát Biệt giáo từ Tam địa trở xuống đắc nhẫn này.
– Nhu thuận nhẫn là không dùng ngôn ngữ văn tự để diễn đạt nghĩa lý, mà hướng đến Thật tướng. Bồ-tát từ tứ, ngũ, lục địa, đắc nhẫn này.
-Vô Sanh Pháp Nhẫn là chứng nhập Thật tướng, lìa hết thảy tướng. Bồ-tát từ thất địa trở lên, đắc nhẫn này.
Nói cách khác, giản dị, an trụ trong lý Chơn như Thật tướng, bất sanh bất diệt, thì gọi là Vô sanh pháp nhẫn.
Nam Mô A Di Đà Phật
39- Hỏi: Người vãng sanh Cực Lạc đều trụ trong Chánh định tụ là sao?
Đáp: Chánh định tụ là một trong ba tụ. Cả Đại thừa và Tiểu thừa đều nói đến ba tụ, nhưng có nhiều thuyết như sau:
- Thuyết thứ nhất: Ba tụ là:
-Chánh định tụ: Những người nhất định chứng ngộ.
-Tà định tụ: Hoàn toàn chẳng chứng ngộ.
– Bất định tụ: Những người ở giữa hai hạng trên, nếu hữu duyên thì chứng ngộ, vô duyên ắt chẳng chứng ngộ.
- Thuyết thứ hai là từ Khởi Tín Luận:
– Từ phàm phu đến hạng chưa đạt bậc Thập Tín, chẳng tin nhân quả là Tà định.
– Hạng Thập Tín là Bất định tánh.
– Từ Thập Trụ trở lên là Chánh định.
Thuyết này là thuyết của Đại thừa Thật giáo.
c- Thuyết thứ ba như sách Hội sớ nói: “Định tụ nói đầy đủ là Chánh định tụ, cũng gọi là Bất thoái chuyển, tức là Bồ-tát A Bệ Bạt Trí.. Vì sao gọi là Chánh định? Phàm hết thảy chúng sanh tuy căn tánh muôn phần sai khác, nhưng nếu phân loại thì chẳng ngoài ba thứ:
– Ắt đọa trong sáu đường là Tà định.
– Nếu thăng trầm tùy duyên thì là Bất định.
– Quyết định đạt đến Bồ-đề thì gọi là Chánh định.
Mặt khác, hiển thị sâu sắc sự sâu rộng đại nguyện của Phật A-di-đà, thì chẳng những người đã vãng sanh Cực Lạc trụ trong chánh định, quyết chứng Vô thượng đạo mà hết thảy những người cầu sanh Cực Lạc trong hiện tại hoặc tương lai, chỉ cần phát Bồ-đề tâm nhất hướng chuyên niệm, thì sẽ tương ứng với bổn nguyện của Phật A-di-đà, dẫu trong uế độ vẫn còn là phàm phu đầy dẫy, nhưng hễ vãng sanh thì ắt trụ trong chánh định, quyết chứng Bồ-đề. Đây thật là điều vi diệu chẳng thể nghĩ bàn, dứt bặt mọi đối đãi một cách viên dung, phương tiện rốt ráo.
Sách Bình giải đã cực lực tán dương thuyết của Thiện Đạo đại sư: “Người sẽ được vãng sanh tuy thân còn đang ở Ta-bà mà đã được hưởng lợi ích bí mật là nhập vào Chánh định tụ”.
40- Hỏi: “Chư tổ dạy: “Pháp môn Tịnh độ là pháp môn tha lực”. Vậy việc Vãng sanh hoàn toàn do Đức Phật quyết định phải không thưa thầy?
Đáp: Pháp môn Tịnh Độ đúng là pháp môn tha lực, có nghĩa là nhờ (dựa vào) sự tiếp dẫn của Phật. Tuy nhiên, nói việc vãng sanh hoàn toàn do đức Phật quyết định là không đúng. Có cảm (tự lực) mới có ứng (tha lực) chứ? Đúng nghĩa “hữu cầu tất ứng”, có cầu (tự lực) mới có ứng (tha lực). Vậy thì có tự lực mới có tha lực, phải không?
Đành rằng Pháp Nhiên thượng nhân dạy: “Vãng sanh là việc của Phật làm (tha lực)”, vì đây là bổn nguyện của Phật. Đồng thời Ngài cũng dạy tiếp: “Niệm Phật là chuyện của mình phải làm (tự lực)”. Mình có niệm Phật (tự lực) Phật mới tiếp dẫn (tha lực) chứ! Trong ba Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã nói rõ, đức Phật tiếp dẫn vãng sanh (tha lực) với điều kiện là người lâm chung phải niệm Phật (tự lực). (Xin hãy đọc kỹ Phần III điều kiện vãng sanh và lý do không vãng sanh, sách nói trên).
Đành rằng tự lực là cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ, phải nhờ thêm tha lực mới có tác dụng.
Niệm Phật là nhân, vãng sanh thành Phật là quả, không có nhân làm sao có được quả?
Để tránh hiểu lầm (thiên kiến), chư Tổ cũng dạy; “Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn Nhị lực (Tự lực và tha lực)”.
Trích Sách Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp
Thích MInh Tue



