253.Vấn Đáp Tịnh Độ 27
Hỏi: Bất niệm tự niệm và Vô niệm mà niệm là một hay khác? Nếu khác thì khác chỗ nào?
Đáp: Khác, khác xa lắm.
– Bất niệm tự niệm là bước đầu (vào cửa) Tịnh nghiệp, chưa chứng đắc gì cả, còn nghe tiếng niệm Phật (hữu tướng).
– Vô niệm mà niệm là thành tựu Tịnh nghiệp, đắc Lý Nhất tâm bất loạn (Lý Niệm Phật Tam Muội), hoàn toàn không nghe tiếng niệm Phật (tức vẫn biết tự tánh đang niệm Phật mà không nghe tiếng, nên gọi là vô tướng). Trình độ này ngang với đại triệt đại ngộ, Minh tâm kiến tánh của Thiền tông, là đại Bồ-tát, sanh tử tự tại, vãng sanh sớm hay muộn, thời gian nào tùy theo ý muốn, đắc thần thông
47- Hỏi: Nguyện thứ 19 nói: “Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh phát Bồ-đề Tâm, tu các công đức, nguyện sanh về cõi nước tôi, đến khi lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện trước người đó, thời tôi không thủ ngôi Chánh Giác”. Như vậy thì con phát Bồ-đề Tâm, thỉnh thoảng chủ nhật con đến chùa làm công quả, cúng dường Tam bảo, tụng Kinh, niệm Phật, bái sám gọi là tu công đức. Nếu công đức nhiều thì sanh vào phẩm vị cao, công đức ít thì vãng sanh ở phẩm vị thấp, phải không thưa Thầy?
Đáp: Kinh A-di-đà nói: “Không thể lấy chút ít căn lành, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cõi Cực Lạc”. Do vậy Cổ đức dạy: “Công đức nói ở nguyện thứ 19 là công đức rốt ráo, như bố thí phải là Bố thí Ba-la-mật” (bố thí rốt ráo). Nên Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư nói trong Quán Kinh Sớ, đây là Tạp tu (cách nói trên), ngàn người tu chỉ có năm, ba người vãng sanh mà thôi.
Vả lại, trong Kinh Đại Thừa Vô Lượng ThọTrang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh (do Ngài Hạ Liên Cư hội tập) Nơi nguyện mười chín có thêm đoạn văn như sau: “Phụng hành sáu Ba-la-mật kiên cố bất thoái, nhất tâm niệm tôi, ngày đêm chẳng ngớt”. Điều này chứng tỏ rằng công đức nói trên phải là công đức rốt ráo (Ba-la-mật), đồng thời phải nhất tâm niệm Phật ngày đêm không gián đoạn mới chắc được vãng sanh.
Tóm lại, sự hiểu biết về nguyện thứ mười chín (19) của người hỏi còn thiếu sót, nên quá sai lầm. Hãy thận trọng! Không khéo tự đánh mất phần vãng sanh, thật quá oan uổng cho một đời tu hành của mình!
Nam-mô A-di-đà Phật.
48- Hỏi: Thường Tịch Quang là thế nào?
Đáp: Đây là cảnh giới của Pháp Thân Phật an trụ. Thường là không thay đổi, không sanh, không diệt, tức Pháp Thân Phật. “Tịch” là xa lìa các phiền não, vọng nhiễm, tức là đức giải thoát của Phật. “Quang” là chiếu khắp cả mười phương tức là đức bát-nhã của Phật. Như thế, cõi Tịnh Độ này đủ cả ba đức quí báu của Phật là Thường, Tịch và Quang, cho nên gọi là “Thường Tịch Quang Tịnh Độ”.
Cảnh này không có hình sắc mà chỉ có chơn tâm. Vì bản thể chơn tâm, hay tánh viên giác “thường vắng lặng, chiếu soi và thanh tịnh” nên gọi là “Thường Tịch Quang Tịnh Độ”. Chư Phật khi đã chứng được cảnh giới này rồi, thì thân và độ (cõi nước, cảnh giới) không hai, song vì căn cứ theo ba loại mà tạm gọi là có thân có độ. Chứng đến chỗ này, nếu nói về thân, thì gọi là “Pháp Thân” còn nói về độ, thì gọi là “Thường Tịch Quang Tịnh Độ”.
49- Hỏi: Thật Báo Trang Nghiêm là thế nào?
Đáp: Hành giả trải qua ba vô số kiếp tích công lũy đức, do phước báo tu hành nhiều đời dồn chứa lại, làm trang nghiêm cảnh giới chân thật, nên gọi là “Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ”. Cảnh giới này, là chỗ ở của Báo thân Phật.
Lời sớ Kinh Quán Vô Lượng Thọ có chép: “Tu tập chân thật, cảm đặng quả tốt đẹp, cho nên gọi là “Thật Báo Trang Nghiêm”. Bên Đại thừa Viên giáo thì nói cõi này là của các bậc Tam hiền (Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng). Đại thừa Biệt giáo thì nói đây là cõi của các bậc từ Thập địa cho đến Đẳng giác Bồ-tát.
50- Hỏi: Phương Tiện Hữu Dư là thế nào?
Đáp: Cảnh này không phải là cứu cánh rốt ráo, mà chỉ là phương tiện. Đây là cõi Tịnh Độ của hàng Nhị Thừa. Các vị này tuy đã dứt được kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), nhưng còn dư lại hai hoặc, là vô minh hoặc và trần sa hoặc chưa trừ được, nên gọi là “Hữu Dư”. Còn hữu dư tức là chưa phải hoàn toàn cứu cánh, nên gọi cõi này là “Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ”.
Trích Sách Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp
Thích Minh Tuệ



