Vấn Đáp Tịnh Độ 35

314.Vấn Đáp Tịnh Độ 35

31- Hỏi: Những người tạo mười nghiệp ác, chỉ niệm mười câu Phật hiệu được vãng sanh, điều này thật khó tin.

Đáp: Nói chung một niệm lúc lâm chung rất quan trọng. Kinh nói: “Có người đàn bà qua sông, lỡ tay làm rơi đứa con xuống nước. Vì lo cứu vớt con, mà bị nước cuốn chết đuối. Do có niệm lành thương con, nên được sanh lên cõi Trời”.

Tỳ kheo Vô Văn lúc lâm chung, vì khởi một niệm ác hủy báng Phật, bèn bị đọa vào địa ngục.

Thiên đàng hay địa ngục chỉ ở trong một niệm, còn có thể chuyển đổi. Thế thì mười niệm được vãng sanh Tịnh Độ, còn nghi ngờ gì nữa? Huống chi trong những lời phát nguyện, đức Phật A-di-đà có nói: “Chúng sanh xưng danh hiệu tôi cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh về cõi nước tôi, tôi không thành Chánh giác”.

Nguyện lực kiên cố, tâm niệm dõng mãnh. Bên này cảm, bên kia ứng, nhanh như hình với bóng, âm thanh với tiếng vang. Như thế còn nghi ngờ gì nữa?

32- Hỏi: “Kinh nói niệm một câu Phật hiệu trừ được tội nặng của sự sanh tử trong tám mươi ức kiếp”. Điều này thật khó tin.

Đáp: Lời này phát xuất từ chương “Hạ phẩm hạ sanh” (Kinh Quán Vô Lượng Thọ), nói về người thành tựu mười niệm lúc lâm chung. Ông nghi ngờ tội nặng của sanh tử trong tám mươi ức kiếp là quan trọng, lại xem thường một niệm lúc lâm chung ư?

Nay y vào ba pháp của tông Thiên Thai mà suy xét, thì chưa có thể lấy xa gần, nhiều ít để bàn luận khinh và trọng.

Một là ở nơi tâm: Nghĩa là tâm tạo tội từ hư vọng điên đảo mà sinh khởi. Tâm niệm Phật từ việc được nghe bậc thiện tri thức nói về danh hiệu và công đức chân thật của Phật A-di-đà mà phát sinh.

Một bên giả dối, một bên chân thật, đâu thể so sánh với nhau được. Ví như căn nhà tối muôn năm, ánh sáng mặt trời vừa soi đến thì tối tăm nhanh chóng tiêu tan. Lẽ nào do tối đã lâu ngày mà không thể tan biến ngay được?

Hai là nơi duyên: Nghĩa là tâm si mê, hư vọng tạo tội, do duyên theo cảnh giả dối, điên đảo mà phát sinh. Tâm niệm Phật là do nghe danh hiệu và công đức chân thật thanh tịnh của Phật, duyên nơi tâm giác ngộ vô thượng mà phát sinh.

Một bên thật, một bên giả, đâu có thể so sánh với nhau được. Ví như có người bị trúng tên độc, mũi tên cắm sâu, chất độc ngấm vào tổn hại da thịt, nhưng một khi nghe âm thanh của tiếng trống, được thoa thuốc giải độc thì mũi tên bị đẩy ra, chất độc liền được giải trừ.

-Ba là ở nơi sự quyết định: Nghĩa là lúc tạo tội, do có tâm gián đoạn và tâm hối hận về sau sẽ không tạo tội nữa. Còn khi niệm Phật không có hai tâm đó, nên lúc xả bỏ sinh mạng do tâm lành mạnh mẽ, liền được vãng sanh. Ví như sợi dây rất to, cả ngàn người bứt không đứt, nhưng đứa bé chỉ cần vung gươm bén mà chém, thì trong khoảnh khắc liền đứt thành hai đoạn.

Ba sự lượng xét trên, hoàn toàn nhìn từ khía cạnh tâm hay niệm mà bàn luận. Có thể thấy rõ ràng tự tâm vốn đã có đầy đủ sức mạnh diệt trừ tội lỗi, chẳng thể nghĩ bàn.

Huống chi danh hiệu được niệm chính là Phật A-di-đà, bậc thành tựu muôn vàn đức hạnh. Do đại nguyện nhiếp trì, công năng ấy đâu thể nghĩ bàn cho được. Ví như có người lấy gân sư tử để làm dây đàn, một khi khảy đàn thì tất cả dây đàn khác đồng thời bị đứt đoạn. Lại như có người lấy các loại sữa trâu, dê, lừa, ngựa để vào thùng rồi cho vào một giọt sữa sư tử, tất cả các loại sữa khác đều trở thành nước.

Nay xưng danh hiệu Phật, lẽ nào tội nặng của sự sanh tử trong tám mươi ức kiếp lại không tiêu diệt?

33- Hỏi: Còn mang nghiệp được vãng sanh, điều đó tôi có thể tin, nhưng vì sao được không thoái chuyển?

Đáp: Điều này có năm nhân duyên khiến người vãng sanh được không thoái chuyển:

  1. Do nguyện lực của Phật A-di-đà thường thu nhiếp, giữ gìn.
  2. Do quang minh của Phật luôn soi chiếu, tâm Bồ- đề thường tăng trưởng.
  3. Nước, chim, cây, gió reo, nhạc tấu, đều thuyết giáo nghĩa Khổ, Không. Người nghe những pháp ấy thường khởi lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
  4. Cõi nước Cực Lạc toàn là Bồ-tát làm bạn lành, không có cảnh duyên xấu ác, không có quỷ thần, tà ma, các thứ phiền não tam độc… hoàn toàn không sinh khởi.
  5. Do sống lâu mãi mãi, đồng với chư Phật, Bồ-tát.

34- Hỏi: Người đời đều nghi ngờ cõi Cực Lạc ở xa ngoài mười muôn ức cõi nước, lúc lâm chung chỉ trong khoảnh khắc e khó đến được. Làm sao hiểu được điều này? Kính xin Thầy giãng rõ cho chúng con biết.

Đáp: Tâm bao thái hư, lượng trùm khắp pháp giới thì mười muôn ức cõi nước chỉ ở trong tâm ta, nào có xa xôi gì? Khoảnh khắc mạng chung sinh trong tâm ta, nào có khó khăn gì?

Vả lại, gọi mười muôn cõi nước là đối với cái nhìn của phàm phu, tâm lượng trong sanh tử mà nói. Nếu chúng sanh thành tựu Tịnh nghiệp, lúc lâm chung tâm an định, tức là tâm thọ sanh Tịnh Độ, vừa khởi niệm, liền được vãng sanh. Thế nên, Tự Tín Lực nói: “Mười muôn ức cõi nước chỉ trong khoảnh khắc liền đến, vì tự tâm vốn diệu huyền vậy!”.

35- Hỏi: Kinh nói: “Người sanh về trời Đâu-suất, theo Bồ-tát Di Lặc sanh xuống ba hội, tự nhiên được đạo quả”. Vậy cần gì phải bỏ Đâu-suất gần, để cầu Cực Lạc nơi xa xôi?

Đáp: Ông cho rằng Đâu-suất gần, Cực Lạc xa, đó chỉ là dùng nhục nhãn và tâm lượng phàm phu mà nói thôi.

Cả ba cõi Ta-bà, Đâu-suất, Cực Lạc đều ở trong một tâm. Tâm không có phân biệt kia đây, sao bảo rằng Đâu-suất gần còn Cực Lạc xa? Vả lại, nếu so sánh giữa Đâu-suất và Cực Lạc thì có mười sự hơn kém khác nhau:

  1. Muốn đến Cực Lạc chỉ cần mười niệm liền được vãng sanh. Còn muốn đến Đâu-suất cần phải đắc các Tam muội, vào sâu chánh định, nên người chưa được vậy, khó được sanh. Điển hình Bồ-tát Sư Tử Giác chỉ được sanh ngoại viện mà không được gặp Bồ-tát Di Lặc để nhận sự giáo hoá.
  2. Vãng sanh về Cực Lạc do nguyện lực đại bi của Phật A-di-đà tiếp dẫn. Còn về Đâu-suất, thì Bồ-tát Di Lặc không có thệ nguyện tiếp dẫn.
  3. Ở Cực Lạc, sức mạnh quang minh rộng lớn của Phật A-di-đà chiếu đến người tu hành trong mười phương, khiến thân tâm từ hòa, được sanh đến cõi ấy. Ở Đâu-Suất không có điều đó.
  4. Phật A-di-đà thuyết pháp nhiều gấp mười lần các đức Phật khác, chúng sanh tùy theo chí nguyện đều vui thích, những pháp muốn nghe, tự nhiên được nghe. Ở Đâu-suất, không có điều đó.
  5. Cõi Cực Lạc không có người nữ quấy rối chúng sinh. Ở Đâu-suất Thiên nữ vi diệu, chư Thiên đam mê, không thể tự cố gắng tu hành (xem gương Bồ-tát Sư Tử Giác).
  6. Người sanh về Cực Lạc đều được ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, đầy đủ thần thông. Ở Đâu-suất không có điều đó.
  7. Người sanh về Cực Lạc tự nhiên hàng phục, diệt tiêu phiền não, liền lên bậc bất thoái chuyển. Còn ở Đâu-suất, Bồ-tát Di Lặc tuy hằng ngày thuyết pháp bất thoái, giáo hóa chúng sanh, nhưng chưa hẳn được lên ngay bậc bất thoái chuyển.
  8. Người cầu sanh về Cực Lạc, chỉ ngay trong đời này tiến thẳng đến đạo tràng, thành tựu đạo Giác ngộ vô thượng. Ở Đâu-suất theo Bồ-tát hạ sanh, chưa hẳn đều chứng quả Thánh, huống gì đạo Giác ngộ vô thượng.
  9. Người sanh về Cực Lạc được tuổi thọ vô lượng, ngang bằng với Phật. Ở Đâu-suất, không có điều đó.
  10. Người sanh về Cực Lạc nếu muốn cúng dường chư Phật trong mười phương, thì các vật cúng dường tùy ý tự nhiên hiện ra trước mặt. Họ liền đến mười phương cúng dường chư Phật trong khoảng thời gian một bữa ăn, rồi trở về cõi nước của mình. Ở Đâu-suất không có điều đó.

Trích  Sách Tịnh Độ Thực Hành Vấn  Đáp

Thích Minh  Tuệ

 

 

Viết một bình luận