Vấn Đáp Tịnh Độ 58.
Câu 141: Vãng sanh Cực Lạc
Hỏi: Hễ ai niệm Phật đều được vãng sanh Cực Lạc hết phải
không Thầy?
Đáp: Không hẳn vậy !
– Nhị Tổ Thiện Đạo Đại Sư là A Di Đà Phật hóa thân, ngài dạy: “Trong 1000 người niệm Phật, có đến 999 người niệm
Phật giả”. Tại sao Tổ nói vậy? Niệm Phật để được vãng sanh, niệm Phật mà không vãng sanh nên nói là niệm Phật giả.
– Ngài Lý Bỉnh Nam (Thầy của Hòa thượng Tịnh Không)
nói: “Qua hai mươi chín năm hướng dẫn Phật thất, Ngài được biết có khoảng hai ngàn người chết. Thế mà có triệu chứng vãng sanh thì chỉ có khoảng mười người thôi”. Vậy
là vãng sanh chỉ có năm phần ngàn (5/1000).
Nên người xưa nói rằng người niệm Phật cầu vãng sanh nhiều như bông xoài, trứng cá, lông trâu, mà người được vãng sanh ít như sừng lân.
Tại sao vậy? Vì những hành giả đó chưa chu toàn đúng 3 món Tư lương của Tịnh Độ, đó là: tin sâu, nguyện thiệt, hành chuyên. Trước giờ phút lâm chung họ không niệm Phật được, nên mất phần vãng sanh.
Tóm lại, bất cứ ai trước giờ phút lâm chung niệm được chỉ
một câu Phật hiệu đều được vãng sanh Cực Lạc, bằng
không thì mất phần vãng sanh như nói trên.
Câu 142 Hỏi: Làm sao để bảo đảm được vãng sanh Cực Lạc Quốc,
xin Thầy chỉ bảo cho con rõ.
Đáp:
– Nhị Tổ Thiện Đạo Đại Sư nói: “Tạp tu trăm người tu, may
ra có vài người vãng sanh! Còn chuyên tu thì vạn người tu,
vạn người vãng sanh”.
– Lục Tổ Vĩnh Minh Đại Sư cũng nói: “Mười người tu,
mười người được”.
Vậy muốn bảo đảm vãng sanh, hành gỉả phải chuyên tu đạt
Bất Niệm Tự Niệm.
Câu 143: Ý nghĩa thâm thúy của 4 chữ “A Di Đà
Phật”.
Hỏi:
Ý nghĩa của 4 chữ “A Di Đà Phật” là gì, thưa Thầy?
Đáp:
Pháp sư Tịnh Không giảng như sau:
A Di Đà Phật, danh hiệu này là vạn đức hồng danh, tại sao
vậy? Danh hiệu này là danh hiệu của tự tánh, là danh hiệu
của tánh đức. Đây là tiếng phạn, nếu như theo ý nghĩa của
mặt chữ mà dịch thì A dịch thành Vô, Di Đà dịch thành
Lượng, Phật dịch thành Giác hoặc dịch thành Trí. Dịch
hoàn toàn qua ý nghĩa tiếng Trung Quốc là Vô Lượng Trí,
Vô Lượng Giác. Quí vị thử nghĩ về danh hiệu này, Vô
Lượng Trí là bản thể của tự tánh, Vô Lượng Giác là đức
dụng của tự tánh, bao gồm hết rồi! Cổ đức gọi đây là vạn
đức hồng danh, danh hiệu của thể đại dụng chân như tự
tánh toàn.
“Dĩ danh chiêu đức, khánh vô bất tận”. Danh và thực nhất
định tương ưng. Chúng ta niệm cái danh hiệu này là chiêu
đức của ai vậy? Chiêu tự tánh của chính mình, chiêu tánh
đức của chính mình. Hay nói cách khác, dùng một câu danh
hiệu này đánh thức tự tánh của chúng ta, tìm trở lại tánh
đức của chúng ta. Thể dụng của tự tánh chúng ta hoàn toàn
không bị mất, mà chỉ bị làm sao vậy? Chỉ mê mất mà thôi.
Dùng một câu Phật hiệu này để phá vỡ cái cửa mê này,
đánh thức trở lại thể dụng của tự tánh chúng ta. Nếu như
đạo hữu hiểu rõ đạo lý này, thì đạo hữu sẽ quyết chí một
lòng chấp trì danh hiệu, đạo hữu mới hiểu được danh hiệu
này, pháp môn này, không thể tìm ra thêm một pháp môn
nào khác có thể thù thắng hơn nó được. Hơn nữa, nó rất dễ
dàng, rất đơn giản. Tất cả mọi thứ của khắp pháp giới hư
không giới toàn bộ bao gồm trong đó (Khánh vô bất tận)
Ở trong Phật pháp có hai câu nói, nếu như chúng ta thật sự
có thể thể hội được, đạo hữu sẽ hiểu rõ, đó là: “Tâm bao
thái hư, lượng khắp pháp giới”. Hai câu nói này chúng ta
nghe rất quen, cũng nói được, nhưng có nghĩa là gì vậy?
Người đích thực có thể thể hội được không nhiều. Đây là
toàn bộ pháp giới, người hiện nay gọi là vũ trụ, trong Phật
pháp gọi là pháp giới. Danh từ pháp giới này hay hơn vũ
trụ, tại sao vậy? Vũ trụ thì không có linh tri, ở trong pháp
giới có linh tri; Pháp giới là sống, còn vũ trụ không phải
sống, cho nên danh từ pháp giới này hay hơn vũ trụ. Phạm
vi của vũ trụ không lớn bằng pháp giới, vì pháp giới là
trùng trùng vô tận, ở trong pháp giới không có lớn nhỏ,
không có đến đi, không có trước sau, không có sinh diệt,
không có có không, kỳ diệu tuyệt vời, không thể nghĩ bàn.
Ở trong vũ trụ không hàm chứa những tư tưởng này ở trong
đó. Danh tướng của Phật học thù thắng.
“Danh dĩ chiêu đức”. Danh hiệu A Di Đà Phật này là tổng
danh hiệu, ở trong Phật pháp gọi danh từ thuật ngữ, đây là
tổng danh hiệu. Tất cả mọi danh hiệu chư Phật đều từ đây
lưu xuất ra, tất cả mọi danh hiệu Bồ-tát cũng từ đây lưu
xuất ra, tất cả mọi danh hiệu của chúng sanh vẫn không lìa
khỏi nó. Đây là trong kinh Hoa Nghiêm nói, chúng ta đã
đọc qua ở trong phẩm danh hiệu Như Lai.
“Tức dĩ chấp trì danh hiệu vi chánh hạnh”. Pháp môn Tịnhđộ, vãng sanh thế giới Tây Phương Cực-lạc, phải tu như thế
nào? Chánh hạnh. Tu hành chính thức, chính là niệm Phật.
Phật pháp phải phá chấp trước, pháp môn này vẫn cứ dùng
chấp trước, chính là chấp trước danh hiệu; ngoài câu danh
hiệu ra, tất cả mọi chấp trước khác đều buông xả, không
chấp trước thêm nữa, chính là chấp trước danh hiệu này,
gìn giữ cái danh hiệu này niệm niệm không mất, gọi là trì.
Niệm niệm đều là A Di Đà Phật, đó chính là trì.
Nhớ kỹ, A Di Đà Phật là vô lượng trí, vô lượng giác, niệm
niệm giác chứ không mê, niệm niệm chánh chứ không tà,
niệm niệm tịnh chứ không nhiễm, đây chính là tự tánh A Di
Đà, tự tánh tam bảo. Tam bảo là một thể, một mà ba, ba mà
một. Những quán tưởng, tham cứu, trì chú, nghiên cứu giáo
lý khác thảy đều không cần, không nên xen tạp những thứ
này, chính là một câu Di Đà niệm đến cùng, chí giản dị.
Chí là đến chỗ tột cùng, đơn giản đến tột cùng, dễ dàng đến
tột cùng. Đơn giản dễ dàng, hơn nữa nó còn trực tiếp,
không vòng vo.
Trực tiếp đến đâu vậy? Trực tiếp đến minh tâm kiến tánh,
trực tiếp đến vô thượng chánh đẳng chánh giác, trực tiếp
đến Phật quả cứu cánh viên mãn. Có người hỏi, không phải
người hiện nay, mà người xưa đã có người hỏi, đến thế giới
Tây Phương Cực-lạc còn tu pháp môn gì nữa?
Đậu cơ thuyết giáo, tức là đạo hữu muốn tu pháp môn nào, đạo hữu
liền có thể thành tựu được pháp môn ấy. Ưa thích, vậy là
quá hay. Thành thật mà nói với đạo hữu, đến thế giới Tây
Phương Cực-lạc rồi đạo hữu sẽ thay đổi ý định. Đổi ý định
gì vậy? Một câu A Di Đà Phật này niệm đến cùng,
không tu thêm pháp môn khác nữa. Tại sao vậy? Một câu
A Di Đà Phật này đã bao gồm tất cả pháp môn ở trong đó
rồi. Cũng tức là nói, vạn pháp quy về một. Một chính là tự
tánh. A Di Đà Phật chính là tánh thể, tánh đức, tánh tướng,
tánh dụng, chỉ cần đạo hữu khế nhập cảnh giới. Đây là kinh
luận các tổ sư đại đức nói rất hay.
Nếu như đạo hữu niệm Phật, niệm đến lý nhất tâm bất loạn,
thì tất cả pháp thế xuất thế gian tự nhiên thông đạt cả, đạo
hữu cần phải học nữa hay không? Bất kể pháp môn nào, có
người thỉnh giáo đạo hữu, đạo hữu đều đối đáp trôi chảy,
không cần phải suy nghĩ. Cái này kỳ lạ, cái này không thể
nghĩ bàn. Trên thực tế không có gì kỳ lạ cả, nguyên nhân gì
vậy? Pháp thế xuất thế gian đều do tự tánh biến hiện ra. Đã
là tự tánh biến hiện ra, chỉ cần đạo hữu kiến tánh được rồi
thì đâu có lý nào mà không biết. Đạo hữu đối với tất cả các
pháp không hiểu, không biết, nguyên nhân căn bản là gì
vậy? Là đạo hữu đã mê mất tự tánh. Một câu A Di Đà Phật
này khi niệm đến lý nhất tâm bất loạn, triệt kiến tự tánh,
viên kiến tự tánh, thì vấn đề chẳng phải đã giải quyết rồi
sao, đạo hữu còn đi tìm phiền phức khác sao?
Thế gian này có một số người không biết, nên thiền tịnh
song tu, mật tịnh song tu, còn có gì nữa vậy? Thiền mật
tịnh tam tu. Thông thường người thế gian chúng ta nghe
xong, mới nghe đến, cái này tyệt quá, cao siêu! Kỳ thực,
người trong nghề biết họ đang lòng vòng. Mặc dù có thể
thành tựu, nhưng thành tựu của họ không đủ sâu, tại sao
vậy? Tinh thần, sức lực của họ bị phân tán rồi. Họ phân
thành hai mặt, phân thành ba mặt, họ không chuyên! Nếu
đạo hữu muốn nhanh, hãy chuyên công phu một môn, một
mục tiêu, một phương hướng, sẽ nhanh!
Không có gì nhanh hơn cái này. Cùng lúc đi hai đường, cùng lúc đi ba đường
thì khó lắm, không dễ đâu, lại chậm chạp nữa! Pháp môn
này đơn giản thẳng tắt thành đạo vô thượng. Chúng ta phải
nhận thức rõ ràng, chỉ có thật sự hiểu rõ thì niềm tin mới
kiên cố, nguyện mới không nghi, dứt khoát không đổi.
Pháp môn không thể nghĩ bàn.
Chúng ta xem tiếp điều thứ hai: “Tịnh niệm tương tục, vô
hữu gián đoạn, cố danh tư tuệ”. Ngẫu Ích đại sư ở trong
đoạn này giảng văn tự hơi dài một chút: “Chấp trì là mỗi
niệm nhớ đến danh hiệu Phật, như vậy là tu tuệ”. Niệm
Phật, niệm không phải niệm bằng miệng. Chữ niệm của
niệm Phật không thể thêm chữ khẩu, có rất nhiều người đã
thêm chữ khẩu cho nó, vậy là sai rồi, vậy là họ hoàn toàn
không hiểu ý nghĩa của niệm Phật. Niệm Phật là trong tâm
thật sự có Phật. Chữ niệm này của Trung Quốc là chữ hội
ý. Đạo hữu xem cách viết của chữ này, đạo hữu phải hiểu
được ý nghĩa của nó. Kim tâm, kim là hiện tại. Hiện tại
trong tâm có Phật gọi là niệm Phật, không nhất định niệm
bằng miệng, trong tâm đạo hữu thật có.
Trong tâm không có Phật, cửa miệng có Phật thì không linh, không có cảm
ứng. Trong tâm thật sự có Phật, cửa miệng không có Phật,
có cảm ứng… Không niệm ra thành tiếng, đối với người có
công phu thiền định Bát-nhã tương đối sâu, họ có thể được
lợi ích. Tại sao vậy? Họ thấy tướng được lợi ích. Người có
trí tuệ Bát-nhã định lực rất sâu. Ở trong tâm có Phật, tướng
của đạo hữu sẽ khác. Cái gọi là: “Một niệm tương ưng
một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật”.
Trong tâm đạo hữu nhớ đến Phật, thì Phật ở trong tâm đạo
hữu. Phật ở trong tâm đạo hữu thì Phật sẽ gia trì cho đạo
hữu, tự nhiên gia trì. Thân của đạo hữu phóng ra hào quang
kim sắc, tướng mạo của đạo hữu đoan trang hiền từ, họ có
thể nhìn thấy, có thể nhìn thấy thân đạo hữu tỏa sáng, hào
quang kim sắc, nên được lợi ích. Nhưng phàm phu không
được lợi ích, phàm phu nhìn không thấy, không có năng lực
này. Nhưng niệm Phật thì được, phàm phu nhĩ căn là lợi
nhất: “Ta bà chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn”. Đạo hữu
niệm ra thành tiếng thì có rất nhiều chúng sanh được lợi
ích, ngoại trừ người nghiệp chướng quá sâu thì vô phương,
họ không tin, họ không thể tiếp nhận. Tuy là không tin,
không thể tiếp nhận, nhưng họ nghe thấy rồi. Nghe thấy gì
vậy? Gieo chủng tử vào trong A-lại-da thức. Nên niệm
thành tiếng thì: “Ba căn trải khắp, lợi độn đều nhận”. Đây
là chỗ hay của niệm Phật.
Câu 144: Phước huệ song tu cách nào tiện lợi nhất
Hỏi:Hàng cư sĩ chúng con phước huệ song tu cách nào tiện lợi
nhất?
Đáp:.
Liên Tông Tứ Tổ Pháp Chiếu đại sư viếng Ngũ Đài sơn
được Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát trực tiếp dạy: “Nay ông
niệm Phật thì chính là đúng thời, trong các hành môn để tu
không có môn nào hơn được Niệm Phật Cúng dường Tam
Bảo, phước huệ song tu, hai môn này là đường tắt trọng
yếu nhất. Trong kiếp quá khứ, ta do Niệm Phật Cúng
dường mà đắc Nhất Thiết Trí. Ông nên niệm Phật A Di Đà
liên tiếp chẳng để gián đoạn thì khi mạng chung quyết định
vãng sanh, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển”.
Vậy thì cách phước huệ song tiện lợi nhất là Niệm Phật A
Di Đà và cúng dường Tam Bảo (Phật Pháp Tăng).
Câu 145: Làm gì để được vãng sanh?
Hỏi:Con già yếu đau ốm bệnh hoạn, chữa trị mãi vẫn không hết,
đau đớn, khổ sở vô cùng! Con niệm Phật không được, nên
con sợ không được vãng sanh. Vậy bây giờ con phải làm gì
để được vãng sanh, thưa Thầy?
Đáp:
1. Châm ngôn nói: “Cây già cây cỗi, người gìà người suy”.
Như chiếc xe hơi cũ, hết hư cái này lại hư cái khác. Người
già yếu, đau ốm bệnh hoạn hoài là việc tự nhiên thôi.
Bệnh có hai loại: Thân bệnh và tâm (nghiệp) bệnh. Thân
bệnh thì đến bác sĩ điều trị. Tâm bệnh phải sám hối để tiêu
trừ nghiệp chướng.
Từ Vân sám chủ nói: “Các loại sám hối (Hồng danh sám,
Lương Hoàng sám, Thủy Sám, Từ Bi sám, …), mỗi loại chỉ
tiêu trừ được một số tội, duy có Thánh hiệu Di Đà là diệt
trừ được hết tất cả tội.
Kinh Quán Vô Lương Thọ nói: “Niệm một câu A Di Đà
Phật diệt trừ được trọng tội sanh tử trong tám mươi ức
kiếp”.
2. Đau đớn, khổ sở từ đâu mà có? Người chết, thân xác còn
đó mà họ đâu thấy (biết) đau đớn khổ sở phải không? Quý
vị thiền sư đắc định, khi mổ xẻ không cần thuốc tê, thuốc
mê, mà quý Ngài đâu có đau nhức, vì quý Ngài làm chủ
được tâm. Rõ ràng đau đớn, khổ sở không phải từ thân
bệnh hoạn mà là do Tâm.
3. Phàm phu chúng ta chưa làm chủ được tâm, nhưng nếu
thúc liễm (thu nhiếp) được Tâm, thay đổi quan niệm thì sẽ
bớt đau nhức và hết (không) khổ sở.
4. Thúc liễm Tâm như thế nào?
Đừng quan tâm đến việc đau nhức, nhiếp tâm niệm Phật là
xong.
Thay đổi quan niệm như thế nào?
Đừng nghĩ rằng sự đau nhức này làm mình khổ sở. Kinh
Hoa Nghiêm dạy: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Vậy thì khổ đau
hay hạnh phúc do Tâm quyết định. Luật nhân quả dạy:
“Nhân nào quả nấy”, sự đau ốm bệnh hoạn ngày hôm nay
là cái quả của cái nhân mà ta đã gây ra từ thuở thiếu thời
hay nhiều đời nhiều kiếp trước. Bụng làm dạ chịu, chớ than
van! Chấp nhận, hoan hỉ trả nghiệp (nợ) thì sẽ hết nghiệp
(nợ).
5. Tóm lại, nhiếp tâm niệm Phật thì sẽ bớt hoặc hết đau
nhức. Chấp nhận, hoan hỉ trả nghiệp thì sẽ hết nghiệp và
không khổ mà còn cảm thấy nhẹ nhàng, thơi thới hơn là
khác
6. Muốn được vãng sanh Cực Lạc, chỉ có cách duy nhất là
nổ lực tinh tấn lão thật niệm Phật. Công phu thuần thục, đạt
Bất niệm tự niệm thì sẽ bảo đảm vãng sanh, bất luận hoàn
cảnh, tình huống nào.
Trích Sách Lá Thư Cực Lac
Thích Minh Tuệ


