Vấn Đáp Tịnh Độ 8

115.Vấn Đáp Tịnh Độ 8

41-Hỏi: Ý trì có phải trụ tâm ở đâu không? Có nhiều Thầy dạy trụ ở nhiều nơi khác nhau trên thân, hoặc trên hình tượng Phật. Kính xin Thầy minh xác việc này.

Đáp: 1-Không trụ mà trụ, trụ mà không trụ, như sau:

  1. Kinh Kim-cang dạy: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không trụ vào đâu cả mà sanh tâm (làm các việc). Kinh Bát-nhã dạy: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không...”, nghĩa là thấy năm uẩn đều không, đã là không thì lấy gì, lấy chỗ nào để mà trụ (không trụ)? Hành giả dùng ý niệm Phật một cách nghiêm túc (không đùa giởn), bình thường (không vội vã, hấp tấp), thanh thản (không mong cầu), nhàn nhã (buông xả vạn duyên, không bận rộn dính mắc gì cả, tâm không, tâm vô sự). Đó là không trụ (vô trụ). Còn “trụ” là sao? Dùng ý niệm Phật tức là cột ý vào danh hiệu Phật, có nghĩa là trụ trên danh hiệu Phật. Hai ý trên là nghĩa câu thứ nhất “Không trụ mà trụ”.
  2. Trụ mà không chấp tướng, không trở ngại đường tu, trái lại đem lại nhiều lợi ích, là hoà nhập ý (tâm) với danh hiệu Phật làm một. Theo Kinh Niệm Phật Ba-la-mật danh hiệu Phật là biểu tượng Pháp thân Phật, đúng như kinh Quán Vô Lượng thọ dạy: “Tâm làm Phật, tâm Phật”, Tông cảnh lục cũng nói: “Nhất niệm tương ưng, nhất niệm Phật”. Trong kinh A-di-đà Yếu GiảibLiên tông Cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư cũng nói: “Ngay khi niệm Phật mình đã là Phật rồi”. Đây là nghĩa câu thứ hai “Trụ mà không trụ”.

2-Trụ nhiều nơi khác nhau trên thân.

  1. Theo cơ thể học,tập trung ý nghĩ (trụ) ở đâu, máu sẽ tụ hội về nơi đó. Nếu trụ ở đầu thì dễ bị nhức đầu (lên máu).
  2. Ý đang niệm Phật, lại phải nghĩ trụ ở nhiều nơi nhất định nào đó, sẽ bị phân tâm, làm sao tiến tới nhất tâm được? Bởi vậy chư Tổ dạy rằng niệm Phật phải chuyên tâm nhất ý, là vậy.
  3. Minh Tuệ tôi chưa thấy kinh Phật hay chư Tổ nào dạy như vậy. Thành thật mà nói là tôi không rõ việc này.

3-Nếu đặt danh hiệu Phật ở nhiều nơi trên hình tượng Phật, rồi tưởng tượng danh hiệu ấy nổi lên mà niệm, thiết nghĩ đây là pháp quán tưởng trì danh. Minh Tuệ hành trì pháp nhiếp tâm trì danh, không có kinh nghiệm về pháp quán tưởng, nên xin phép không có ý kiến.

42-Hỏi: Biết rằng ý trì hiệu quả cao, nhưng khó tập quá, con tập lâu thường bị nhức đầu. Vậy phải làm sao để được nhập tâm?

Đáp: Liên hữu niệm Phật mà tập trung tư tưởng nhiều quá (cố trụ danh hiệu Phật ở đầu, máu dồn lên đầu cũng gọi là hỏa xông, hay động não). Tập trung quá mức như vậy, không riêng gì ý trì, mà khẩu trì (niệm bằng miệng) vẫn bị nhức đầu. Bởi vậy chư Tổ, quý Thầy có dạy: “Niệm Phật không trụ vào đâu cả”, vô trụ, trụ ở đầu sẽ nhức đầu, trụ ở nhịp đập của tim thì bị nhức tim.

Niệm một cách bình thường (không ép sức, không quá nhanh, vừa sức mình thôi), nghiêm túc (cung kính, không phải đùa giỡn), thanh thản (không mong cầu, vì mong cầu tức là vọng tưởng, tạp niệm), rành rẽ, rõ ràng (không lộn lạo, không trại giọng, nếu không thì khi nhập tâm nó sẽ bị lộn lạo như: Đà Phật A-di mà đựợc đề cập trong sách Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh).Nếu với căn tánh của mình, liên hữu thực hành ý trì không nổi, thì áp dụng pháp mặc trì hay kim cang trì vẫn được nhập tâm, nhưng hơi lâu hơn mà thôi.

43-Hỏi: Thầy nói niệm Phật trụ ở nhịp đập của tim sẽ bị đau tim. Xin hỏi vì sao?

Đáp: Thực tế trường hợp này đã xảy ra rồi. Có liên hữu nọ thường ngày (huân tập) nương vào nhịp đập của tim (thay thế xâu chuỗi) mà niệm Phật. Hiệu quả rất tốt là không có vọng niệm, vì ý thức bận theo dõi (cột vào) nhịp đập của tim để niệm Phật, nghĩa là nhiếp cả ba: ý thức,nhịp đập của tim, danh hiệu Phật làm một.

Tâm một lúc không thể làm hai việc, ở đây nhiếp ý vào nhịp đập của tim và danh hiệu Phật thì tạp niệm làm sao khởi dậy được, quá đúng lý (logic)! Tập lâu ngày (huân tập) thành thói quen, vị ấy nương vào nhịp đập của tim khởi câu Phật hiệu. Nhịp đập của tim hoạt động đều đặn, thường xuyên 24/24, do vậy công phu đắc lực hơn, rất tốt ở giai đoạn này. Như trên đã nói, hành giả nương (trụ) vào nhịp đập của tim để niệm Phật. Bình thường tim đập 80 lần/phút thì niệm 80 câu Phật hiệu. Tiếng tim đập và tiếng Phật hiệu đồng hành nhịp nhàng như thế thành thói quen. Khi nhập tâm, tự nhiên tiếng Phật hiệu tăng từ 100 đến 120 lần/phút, nó kéo tim cũng phải đập theo. Vì thói quen niệm đồng hành với nhịp tim, từ 100 đến 120 lần/ phút, bắt tim làm việc quá sức, dẫn đến đau tim (triệu chứng ban đầu là nhức nơi tim). Đây là thực tế có người đã bị rồi. Từ đây suy ra, không nên nương vào hơi thở để niệm Phật (Tùy tức trì danh). Chưa nói khi nhập Bất niệm tự niệm sâu, tốc độ niệm Phật gia tăng càng nhiều hơn. Do vậy, nên nói niệm Phật không nên trụ bất cứ nơi nào trên cơ thể (vô trụ), như tôi đã trình bày ở phần trên.

44-Hỏi: Liên hữu ấy đã bị bệnh tim như vậy, phải chữa trị thế nào?

Đáp: Với bệnh này, nhập viện Tây y tìm không ra nguyên nhân, bác sĩ chỉ cho uống thuốc hạ nhịp đập của tim. Đây là cách trị ngọn, làm sao dứt bệnh được? Uống thuốc hạ nhịp đập của tim lâu ngày quen thuốc và gây nhiều phản ứng phụ, rất nguy hiểm. Còn Bất niệm tự niệm, tôi đã trực tiếp hỏi bác sĩ, việc đó là sao? Nguyên nhân như thế nào? Bác sĩ không trả lời được, vậy thì làm sao tìm biết được nguyên nhân bệnh tim nói trên? Cách chữa trị như sau:

1-Tách rời tiếng Phật hiệu với nhịp đập của tim bằng cách không quan tâm để ý nghe tiếng nhịp đập của tim nữa (thả lỏng để nó tự đập). Miệng niệm Phật ra tiếng càng lớn càng tốt, tai lắng nghe, tâm ghi nhận danh hiệu Phật (miệng, tai và tâm đều niệm Phật). Niệm khoảng ba mươi(30)phút hoặcsáu mươi (60)phút, liền hết nhức ngực. Đó là thành công bước đầu. Hành trì như vậy đôi ba ngày, sẽ dứt hẳn đau nhức, được lành bệnh.

2-Nếu cách trên không thành công thì tập cách thứ hai:

Tách rời tiếng Phật hiệu với nhịp đập của tim bằng cách không quan tâm, không để ý nghe tiếng nhịp đập của trái tim (thả lỏng để nó tự đập), miệng niệm Phật ra tiếng càng lớn càng tốt, trụ danh hiệu Phật ở một nơi nào đó trên thân như ở bụng hay đầu gối chẳng hạn (thay chỗ trụ của danh hiệu Phật, trước đây ở tim, bây giờ ở bụng). Tai lắng nghe, tâm ghi nhận danh hiệu Phật (miệng, tai và tâm đều niệm Phật). Niệm khoảng ba mươi (30) phút hoặc sáu mươi (60)phút, liền hết nhức ngực. Đó là thành công bước đầu. Hành trì như vậy đôi ba ngày, sẽ dứt hẳn đau nhức, được lành bệnh.

Hai cách này chỉ khác nhau ở chỗ: Cách thứ nhất không trụ danh hiệu Phật và ođâu cả. Cách thứ hai trụ danh hiệu Phật ở bụng. Sau khi lành bệnh hẳn, xả bỏ không trụ danh hiệu Phật ở bụng nữa (vô trụ). Có chăng, ý chỉ trụ vào danh hiệu Phật

45-Hỏi: Nhập tâm lộn lạo Đà Phật A Di là sao?

Đáp: Kinh nghiệm cho thấy, nếu niệm không rành rẽ, rõ ràng thì khi nhập tâm sẽ không rành rẽ, rõ ràng. Khi niệm nhấn mạnh chữ nào, sẽ nhập tâm chữ đó trước, tiếp theo những chữ kế tiếp. Ví dụ, nhấn mạnh chữ “A” khi nhập tâm, sẽ ra “A-di-đà Phật”. Nhấn mạnh chữ “Phật”, khi nhập tâm nó sẽ ra “Phật A-di-đà”. Nhấn mạnh chữ “Đà”, khi nhập tâm nó sẽ ra “Đà Phật A Di”.

Tôi đã bị rồi. Thuở đó không phải tôi niệm Phật, nhấn mạnh chữ “Đà”, mà buổi tối ngủ tôi để máy niệm Phật suốt đêm. Máy Sony có một nút điều chỉnh, hát nhấn mạnh chữ đầu, giữa, hay cuối, tôi không để ý, nên nhấn lầm chữ giữa, mới ra nông nỗi như vậy. Một liên hữu khác cũng bị như tôi, nguyên nhân vì cô ấy niệm bốn chữ, mà chữ “Đà” kéo dài hơn hết, như vậy coi như là nhấn mạnh chữ “Đà”.

Muốn điều chỉnh lại cũng được nhưng mất thời gian khá lâu. Xin gợi ý cách điều chỉnh sau đây: Theo Duy thức học, khi chủng tử khởi hiện hành, ta quan tâm (thương, ghét, vui, buồn) đến nó, nó sẽ rơi (huân tập) vào tạng thức lớn mạnh hơn trước. Bằng không để ý đến nó, nó cũng rơi vào tạng thức, nhưng yếu dần dần, nhẹ hơn trước.

Do vậy, khi nghe Tự tánh tự niệm “Đà Phật A Di” ta phớt lờ, dửng dưng (không quan tâm đến nó). Miệng lớn tiếng niệm A-di-đà Phật đè lấp “Đà Phật A Di” để điều chỉnh lại. Tùy người, tôi phải mất gần một năm, liên hữu nọ chỉ cần mấy tháng thôi, là điều chỉnh lại được hoàn toàn, nghĩa là mất hẳn không còn “Đà Phật A Di” nữa, mà toàn là “A Di Đà Phật” mà thôi 

.46-Hỏi: Niệm Phật cách nào gọi là “Lão Thật niệm Phật”?

Đáp:Lão thật niệm Phật” có nghĩa là thật thà (thànhthật,chắc thiệt) niệm Phật. Thực hành bằng cách sau:

1-Chuyên tâm nhất ý niệm Phật, ngoài danh hiệu Phật, không còn sự việc gì khác nữa.

2-Miệng niệm Phật, tâm cũng phải niệm Phật.

3-Miệng và tâm niệm Phật không xen tạp, không gián đoạn cho đến giờ phút cuối cùng cuộc đời,nghĩa là lấy danh hiệu Phật làm mạng sống của mình.

a.Tâm không hoài nghi, tuyệt đối tin tưởng vào lời giáo hóa của Phật Thích-ca và đại nguyện của Phật A-di-đà.

b.Tâm không mong cầu bất cứ gì khác như: chứng đắc, vãng sanh, thành Phật…

c.Tâm buông xả vạn duyên, nghĩa là tâm không nhớ nghĩ gì khác, kể cả ăn, uống, mặc, ngủ nghỉ, ngũ dục lục trần, danh văn ợi dưỡng, thị phi, được mất, hơn thua, thành bại….

  1. Tâm không còn chấp ngã.
  2. Toànthân tâm đều niệm Phật. Ban đầu dùng nhĩ căn niệm Phật, nghĩa là nghe bất cứ tiếng gì cũng là tiếng niệm Phật, như tiếng chim kêu, gió thổi, nuớc chảy, xe chạy, thậm chí tiếng mắng chửi mình cũng là tiếng niệm Phật (gọi là giả tá). Sau đó các căn khác cũng đều như vậy.

Kinh nghiệm cho biết dễ giả tá nhất là tiếng mõ. Bản thân tôi và nhiều Phật tử thực hành, có kết quả như ý.

  1. Hòa nhập năng-sở làm một, nghĩa là ta, người niệm Phật (năng) và danh hiệu Phật được niệm (sở) là một. Tóm lại: Buông xả vạn duyên, không mong cầu, suốt đời chuyên tâm nhất ý,toàn thân tâm niệm Phật không hoài nghi, không mong cầu, không xen tạp, không gián đoạn.

Cuối cùng không còn chấp ngã, hòa nhập năng sở làm một. Thực hiện được những điều nói trên, tùy theo mức độ cạn sâu, sẽ lần lượt chứng nhập: Nhập tâm, Bất niệm tự niệm, (Thành một khối), Nhất tâm bất  loạn (Niệm Phật Tam muội). Hành giả nên cố gắng, kiên trì thực tập từng bước, hầu sớm thành tựu Tịnh nghiệp, bảo đảm vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh.

Trích sách Tịnh Độ Thực hành Vấn Đáp

Thích Minh Tuệ

Viết một bình luận