
243.Phật pháp thâm sâu, nghĩa nhiệm mầu
Kinh Vô Lượng Thọ tường thuật, nước trong ao bảy báu nơi cõi Cực Lạc chẳng những có khả năng tẩy sạch cấu ô trong tâm chúng sanh mà lại còn biết tùy thuận ý thích và căn tánh của chúng sanh để khai hiển thần thức. Một khi thần thức được khai hiển, thân tâm tự nhiên vui sướng bất tận. Nước dâng cao lên hay hạ thấp xuống, nóng hay lạnh, chảy gấp hay chảy từ từ, hết thảy đều tùy theo ý muốn của chúng sanh mà biến hóa vô cùng.
Tỷ dụ, nếu ai thoạt đầu muốn nước chỉ ngập đến chân, ngập đến hông, đến cổ, hoặc muốn nước phủ toàn thân, thì cũng chỉ là một dòng nước đó nhưng lại tùy theo ý nghĩ của mỗi người mà dâng lên hay hạ xuống một cách tự tại, thậm chí nước có thể dâng đến tận hư không để xối xuống. Lại nữa, người tắm trong ao chẳng cần phải nói ra; thế mà nước tự nhiên biết chuyển thành cạn hay sâu thuận theo ý muốn, chẳng hề sai trái dù chỉ là một tí, muốn nước sâu bao nhiêu, nước bèn sâu bấy nhiêu, muốn nước cạn một chút chỉ ngập đến bàn chân, nước bèn dâng ngập bàn chân, muốn sâu hơn một chút ngập tới gối, nước dâng tới đầu gối v.v… Còn nữa, người tắm trong ao muốn nước ấy ấm một chút thì nước ấm một chút, muốn nước mát một chút thì nước mát một chút. Nước ấy nhất nhất làm cho người tắm trong ao thần thể khai vui.
Dẫu cùng một lúc, cùng một chỗ, có rất nhiều người vào tắm trong cùng một khối nước trong ao, vậy mà nước ấy lại biết tùy theo ý thích mỗi người, hiển hiện các sự bất đồng như là hoặc cao hoặc thấp, hoặc ấm hoặc mát, hoặc gấp hoặc thong thả, hoặc sâu hoặc cạn v.v…, khiến họ thỏa mãn. Vậy, nước ấy là thứ nước gì? Cảnh giới ấy là cảnh giới nào? Kinh Pháp Hoa bảo: “Thôi, thôi, chớ nên nói, pháp của ta mầu nhiệm khó nghĩ nổi.”
Tuy là những điều nhiệm mầu ấy chẳng thể nào diễn tả nổi, nhưng chúng ta cũng có thể miễn cưỡng mà suy luận rằng: Thứ nhất, nước ấy ví cho diệu pháp kinh Vô Lượng Thọ có khả năng tùy ý thích, tùy căn tánh của từng mỗi chúng sanh mà diễn biến cảnh giới trí khác nhau, khiến cho mọi chúng sanh đều được lợi ích chân thật nơi Phật pháp. Thứ hai, Phật Di Ðà lúc còn tu nhân đã trụ trong chân thật huệ để trang nghiêm cõi Tịnh độ, có khả năng khai hóa, hiển thị chân thật tế, mà cái chân thật tế ấy chính là Thật tế Lý thể, là Tự tâm của đương nhân, là một thanh tịnh cú và cũng là Chân thật Trí huệ Vô vi Pháp thân.
Cõi nước ấy hiển thị chân thật tế của Chân thật Trí huệ Vô vi Pháp thân có nghĩa là tuy Pháp thân Phật thanh tịnh bình đẳng, như như nhất vị, nhưng lại có thể phổ môn thị hiện, biến hóa vô lượng vô biên các tướng khác nhau, nhằm làm thỏa mãn tâm nguyện của từng mỗi chúng sanh một cách trọn vẹn. Bởi vì nước trong ao thất bảo có khả năng phổ môn thị hiện, diễn nói diệu pháp, nên ai đáng được nghe pháp nào thì nước ấy diễn biến pháp đó bằng âm thanh, ngôn từ và cảnh tướng khác nhau để khai hiển thần thức cho họ, khiến cho trí huệ của họ được mở sáng, thấy thông suốt sự lý một cách tự tại.
Trước ấy chẳng những làm thân thể của người tắm trong ao được mát mẻ, thoải mái, vui vẻ, sạch sẽ, mà còn làm tinh thần của họ sáng suốt, gột sạch hết những mối tình chấp ưu lự, trong sáng, lắng sạch, thanh tịnh đến mức dường như vô hình vô tướng, mà còn có khả năng khai hiển thần trí sẵn có trong thức tánh của đương nhân, khiến họ triệt khai triệt ngộ, đắc Thật tướng Bát-nhã, chánh nhân thành Phật. Đây là ưu điểm của chất nước nơi cõi Cực Lạc!
Thể tánh của nước nơi cõi Cực Lạc hết sức thanh tịnh tinh khiết, trong lặng, không nhơ giống như là không có hình, không có tướng, nên dù cát báu trải đáy ao ở chỗ sâu đến cùng tận, cũng có thể phản chiếu ánh sáng lên tận mặt nước, khiến người ta có thể trông thấy thấu tận đáy ao. Hiểu một cách sâu xa, thâm thúy hơn, kinh dùng tánh tướng của nước trong ao thất bảo để biểu thị tánh tướng của Chân tâm Tự tánh vốn sẵn thanh tịnh sáng suốt vô cùng tận, có thể rõ thông tất cả thế gian và xuất thế gian pháp đến mức rốt ráo, không ngằn mé.
Nói tóm lại, tướng của nước nơi cõi Cực Lạc là thanh tịnh tinh khiết, không hình không tướng. Công dụng của nước ấy là khai hiển thần thức, thân thể vui sướng. Vì tướng lẫn dụng của nước đều vi diệu, không thể nghĩ bàn cho nổi, nên kinh Pháp Hoa mới bảo: “Thôi, thôi, chớ nên nói, pháp của ta mầu nhiệm khó nghĩ nổi.” Vì sao kinh lại dùng nước trong ao thất bảo để hiển thị Chân tâm Tự tánh? Có ba lý do về mặt Tự thể, Tự tướng và Tự dụng
- Về mặt Tự thể, kinh dùng nước ấy ví cho Chân tâm Tự tánh vốn chỉ là thanh tịnh bình đẳng, bất tăng bất giảm, bất cấu, bất tịnh. Thí dụ, tuy nước trong ao thất bảo có thể hiện ra các tướng cao thấp, sâu cạn, nóng lạnh, nhanh chậm khác nhau, nhưng Tự thể của nó chỉ thuần là thanh tịnh tinh khiết, không hình không tướng. Thanh tịnh tinh khiết, không hình không tướng chính là Tự thể thanh tịnh bình đẳng, bất tăng bất giảm, bất cấu, bất tịnh của Chân tâm Tự tánh.
- Về mặt Tự tướng, kinh dùng nước ấy ví cho Như Lai Tạng có đầy đủ vô lượng tánh công đức. Tám công đức của nước được nói trong kinh chỉ là con số tiêu biểu, chớ chẳng phải thật bởi vì trong một tánh công đức của tám công đức vốn đã bao gồm vô lượng tánh công đức không thể nghĩ bàn. Thí dụ, tuy Tự thể của nước ấy vốn chỉ là nhất thể thanh tịnh tinh khiết, không hình không tướng, nhưng lại có khả năng biến hiện ra nhiều tướng dạng khác nhau để làm Phật sự, thành tựu vô lượng vô biên công đức không thể nghĩ bàn.
- Về mặt Tự dụng, kinh dùng nước ấy ví cho công năng của Chân tâm Tự tánh có thể phát sanh ra tất cả nhân quả lành thế gian và xuất thế gian. Tất cả chư Phật đều lấy một pháp này để phổ độ chúng sanh. Tất cả chư Bồ-tát cũng đều lấy một pháp này làm phương tiện để đi đến đất nước của Như Lai. Thí dụ, tuy Tự thể của nước ấy chỉ là thanh tịnh tinh khiết, không hình không tướng, nhưng lại biết tùy ý thích của mỗi chúng sanh mà biến hiện các tướng dạng khác nhau, khiến cho tất cả mọi căn cơ, bất luận là người trí hay kẻ ngu, đều có thể khai mở thần trí, chứng được Thật tướng Bát-nhã, chánh nhân thành Phật. Đây chính là Tự dụng của Chân tâm Tự tánh, phổ môn thị hiện diễn biến pháp Đại thừa bằng vô lượng phương tiện thiện xảo môn.
Tuy cảnh tướng của nước thiên biến vạn hóa, nhưng nó lại chỉ nhằm mục đích giáo hóa chúng sanh, khiến chúng sanh trở về với cái dạng đồng nhất, đó là Phật pháp thân. Phật A Di Đà từ nơi Chân tâm Tự tánh biến hiện ra vô lượng phương tiện thiện xảo môn, mỗi môn đều có đầy đủ vô lượng tánh công đức không thể nghĩ bàn, khiến mọi căn cơ đều có thể ở nơi pháp mình ưa thích, khai hiển thần trí, chứng nhập Thật tướng Bát-nhã, trở thành một vị Quán Tự Tại Bồ-tát, thoát khỏi mọi khổ ách, hưởng mọi sự vui sướng của thường-lạc-ngã-tịnh trong Vô vi Niết-bàn, nhất tâm hướng đến Nhất thừa, vượt qua khỏi mười pháp giới, chánh nhân thành Phật.
Kinh nói chất nước ấy vô hình vô tướng là nói về tánh nhẹ nhàng, mềm mại, chẳng ô trược, nặng nề như nước ở cõi này. Nói sâu xa hơn, nước ấy vốn vô tâm nên mới có thể tùy thuận ý muốn trong lòng mỗi người tắm trong ao. Người tắm trong chất nước vô hình vô tướng như vậy mới có thể diệt trừ được tập khí phiền não, đạt đến cảnh giới vô tâm, khiến Trí Huệ Chân Thật trong Tự tánh hiện tiền, thành tựu sức định huệ trong Lục độ rất thâm sâu.
So sánh Thế giới Cực Lạc và thế giới Sa-bà, chúng ta thấy chúng sanh nơi ấy do ngộ chẳng mê nên có thể chuyển cảnh giới, mọi thứ họ mong muốn đều được thành tựu đến mức viên mãn. Ngược lại, chúng ta trong thế giới này do mê chẳng ngộ nên bị cảnh giới chuyển đến mức rất đáng thương! Tây Phương Cực Lạc Thế Giới quả thật là cảnh giới cao tột độc nhất vô nhị, không có cảnh giới nào của chư Phật trong mười phương có thể sánh bằng, đúng như kinh này đã nói: “Cảm ứng sâu xa chỗ thanh tịnh, trang nghiêm thù thắng chẳng đâu bằng.
” Tây Phương Cực Lạc Thế Giới có thể thù thắng đến ngần ấy đều là do vô lượng vô biên công đức thành tựu của Phật A Di Đà và chư Bồ-tát trong cõi ấy. Nếu chẳng phải do tu hành, tích lũy công đức thù thắng thì làm sao có đại phước báo đến mức mọi thứ mọi điều đều tùy theo ý muốn đến dường ấy cho được! Nay nếu chúng ta thật thà tu hành đúng theo lời Phật dạy trong kinh này, ắt cũng sẽ được tùy theo ý muốn mà tự nhiên cảm nhận mọi nguyện ước thành đạt, tức là tâm vừa nghĩ cái gì thì cái đó bèn hiện ra đúng như lòng mong muốn, chẳng hề sai trật. Tỷ dụ, chúng ta cầu học kinh pháp nào thì kinh pháp đó liền tự nhiên đến với chúng ta, không cần phải nhọc công hao sức tìm kiếm, lục lạo mới có. Điều này là sự thật, vô cùng chân thật, ai thật tâm cầu học Phật pháp thì tự mình biết rõ hơn ai hết.
Phương pháp “Nhiếp thủ sáu căn, tịnh niệm tiếp nối câu A Di Đà Phật” của Bồ-tát Đại Thế Chí là cách để chỉnh sửa lỗi lầm hay nhất, tốt nhất và viên mãn nhất. Khi sáu căn của mình tiếp xúc với sáu trần, chỉ có một câu niệm Phật hiễn hiện trong tâm, chẳng phạm một lỗi lầm nào hết, thì đấy chính là vô lượng vô biên công đức. Do đó, niệm Phật là cách thức dùng để sửa đổi lỗi lầm, đơn giản, ngắn gọn và có hiệu quả nhanh chóng bậc nhất! Hơn nữa, trong các kinh sớ đều nói, Niệm Phật là Nhị Lực pháp môn vô cùng diệu dụng, có thể chuyển biến công đức của A Di Đà Phật thành công đức của chính mình.
CònTiếp
Trích Diệu Âm Trí Thành
Thích Minh Tuệ



