Tu Tuong Tinh Do Cua Thien Dao Dai Su

ĩ369.TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ CỦA ĐẠI SƯ THIỆN DAO

Tóm tắt nội dung Thien Đạo là một danh tăng của đời

Đường, có vị trí quan trọng trong lịch sử Phật
giáoTrung Quốc, ngài đích thực là người sáng lập
tông Tịnh Độ.

Tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện
Đạo được cấu thành trên ba quan điểm: Thuyết bản
nguyện tha lực, luận về vãng sanh, luận về niệm
Phật. Thuyết bản nguyện tha lực là nền tảng lý
luận của Đại sư Thiện Đạo về tông Tịnh Độ, luận
về vãng sanh là tiêu chí và mục đích để trình bày
tín ngưỡng Tịnh độ, luận về niệm Phật là trọng
điểm và phương tiện nối liền hai vấn đề trên, nó
cũng là bộ phận cốt yếu của lý luận về tông Tịnh
Độ.
1. Thuyết bản nguyện tha lực
Vào thời của Đại sư Thiện Đạo (613- 681)
đang nảy sinh và lưu hành tư tưởng mạt pháp, vì
Đại sư hết sức lo lắng cho tình trạng chung của đại
đa số quần chúng trong xã hội
* Trang 297 *

nên đã đề xuất học thuyết bản nguyện tha lực.
Ngài xét căn cơ của chúng sanh thời mạt pháp, tố
chất bên trong của họ và điều kiện đủ để được
thành Phật quá chênh lệch, nếu dựa vào sức của
tự thân thì không cách nào được giải thoát, chỉ
nhờ nguyện lực của Đức Phật A-di-đà cứu giúp
mới có thể lìa khổ nạn, vượt thoát sanh tử, vãng
sanh về Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà được hạnh
phúc trọn vẹn.
1.1. Thiết lập tư tưởng tha lực
Tư tưởng tha lực của Đại sư Thiện Đạo chủ
yếu được thiết lập thông qua lý luận phán giáo.
Phán giáo là xét theo một trình tự nhất định, đem
kinh điển Phật giáo sắp xếp theo tổ hợp, từ đó đưa
ra kinh điển chính yếu mà kinh này y cứ.

Đại sư Thiện Đạo căn cứ trên lý luận phán
giáo về Tịnh độ của các vị Đàm Loan, Đạo Xước
, từ đó chia ra hai đường khó và dễ để tu hành
thành Phật. Ngài cổ xúy đạo dễ hành, phủ định
đạo khó hành, tìm pháp môn đơn giản cho chúng
sanh thời mạt pháp dễ dàng tu tập theo. Lý luận
chủ yếu của đạo khó hành và đạo dễ hành xuất
phát từ tác phẩm Thập trụ tì-bà-sa luận của Long
Thọ

. Luận này nói: “Nói đến địa vị A-duy-việt trí
là pháp rất khó, trải qua thời gian lâu dài mới đạt
được. Nếu có đạo dễ hành, có thể nhanh chóng
chứng đắc địa vị A-duy-việt trí, thì đó là lời của kẻ
yếu ớt kém cỏi, không phải là lời nói của bậc
thượng căn thượng trí.

Nếu ông nhất định muốn,được nghe pháp phương tien nay ta sẽ nói cho ông biết. Phật pháp có vô lượng pháp môn, giốngnhư những con đường trong thế gian có đường dễ

đi, có đường khó đi; người đi đường bộ thì phải
nhọc nhằn tự mình lội bộ, kẻ đi đường thủy thì
bước xuống thuyền,
* Trang 298 *

thuyền đưa đi rất khỏe khoắn. Con đường của Bồ-
tát cũng giống như vậy, hoặc có khi phải tự mình
siêng năng tinh tấn, hoặc có khi dùng tín phương
tiện, dễ thực hành mà lại nhanh chứng đắc địa vị
A-duy-việt trí. (…)

Các Đức Như Lai như vậy,
nếu người muốn nhanh đạt được địa vị bất thoai chuyển, nên dùng tâm cung kính, chấp trì xưng niệm danh hiệu”

[1]. A-duy-việt là dịch âm từ
Phạn văn, có nghĩa là không thoái chuyển, chỉ cho
hàng phàm phu một khi đã chứng đắc giai vị Bồ
-tát thì không còn quay lại thân phận phàm
, thương xót những người tâm địa kém cỏi nên mới
đưa ra pháp môn phương tiện là đạo dễ hành.

Đại sư Thiện Đạo nhận định rằng, ngài Long Tho
không chủ trương đạo dễ hành vì thời đại của
ngài chưa phải là thời mạt pháp, chúng sanh phần nhiều là lợi căn, nên đạo khó hành thích hợp với họ. Còn hiện tại, thời Đại sư Thiện Đạo đang sống là thời mạt
pháp, chúng sanh đều là hạng độn căn, không thể
thực hành được pháp môn của bậc thượng căn, họ
không đi nổi con đường nhọc nhằn

Chúng sanh trong thời mạt pháp, chỉ có một con đường họ có thể đi được, đó là đạo dễ hành. Bằng không thì
chúng sanh sẽ vĩnh viễn chìm trong dầu sôi lửa
bỏng, không thể giải thoát. Đại sư Thiện Đạo cho
rằng đặc trưng của tông Tịnh Độ là chấp trì danh
hiệu Đức Phật A-di-đà, đây là con đường duy nhất
để chúng sanh thời mạt pháp cầu giải thoát. Long
Thọ tuy cũng đề cập

________________________________________
[1] Đại chánh tạng, quyển 26, tr. 41.

* Trang 299 *

đạo dễ hành, nhưng không xác định là hạng người
có tâm tánh kém cỏi như thế nào mới nên áp dụng
đạo dễ hành để được cứu thoát. Đại sư Thiện Đạo
thì nhận thức minh bạch quan điểm này, ngài trình
bày và phát huy triệt để tư tưởng bản nguyện tha
lực, dùng đạo dễ hành để giải quyết vấn đề là làm
cách nào để cứu giúp chúng sanh khổ nạn.
1.2. Tư tưởng bản nguyện
Tư tưởng bản nguyện là đặc trưng chủ yếu
của Phật giáo Đại thừa. Bản nguyện là chỉ cho Bồ-
tát khi đang tu hành, tương lai sẽ thành Phật, ngài
lập thệ nguyện trước khi kiến thiết quốc độ của
mình. Bản nguyện có hai loại là Tổng nguyện và
Biệt nguyện

. Tổng nguyện là tất cả Bồ-tát đều có chung thệ nguyện, đó là “Trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sanh”. Biệt nguyện là cách riêng mà mỗi vị Bồ-tát dùng để độ sanh. Kinh điển Tịnh độ tuyên dương rằng, nói về tư tưởng bản nguyện thì
bản nguyện của Đức Phật A-di-đà là nổi tiếng hơn
hết.

Đại sư Thiện Đạo đã căn cứ theo tư tưởng này
để thành lập lý luận về đạo dễ hành. Theo kinh Vô
Lượng Thọ nói: Trước khi thành Phật, tiền thân
của Đức Phật A-di-đà là Bồ-tát Pháp Tạng, khi
đang tu hành trong pháp hội của Đức Phật Thế Tự
Tại Vương, Ngài từng phát ra 48 thệ nguyện vĩ đại
để cứu độ tất cả chúng sanh. Sau đó, trải qua thời
gian tu hành lâu dài, Bồ-tát Pháp Tạng đầy đủ
công đức, được thành Phật.

Căn cứ theo lời Thế Tôn nói trong kinh này thì 48 nguyện của Phật A-di-đà cũng đã hình thành nên sinh mạng của Ngài,
chúng sanh tu hành chỉ cần ở trong phạm vi 48
nguyện thì nhất định được đầy đủ, từ đây trở thành
một thành viên trong cõi nước của Đức Phật A-di-
đà. Trong
* Trang 300 *

bốn mươi tám nguyện của Đức Phật, xưng danh là
trọng tâm, nguyện thứ 34 đến nguyện thứ 37; 42
đến 45, cùng các nguyện 47, 48 đều xác định rõ
chỉ cần chúng sanh xưng niệm danh hiệu Đức Phật
A-di-đà, liền được vãng sanh. Tư tưởng này đặc
biệt thích hợp với quan điểm cơ bản tha lực thành
Phật của tông Tịnh Độ, đây cũng chính là điểm
được Đại sư Thiện Đạo xem trọng.

Theo Đại sư Thiện Đạo, do chúng sanh thời mạt pháp căn cơ
hạ liệt, hơn nữa, sống trong thời ngũ trược[1] ác
thế Phật pháp hỗn loạn, chúng sanh không cách
nào có thể giải thoát. May mắn gặp được Đức Thế
Tôn với lòng từ bi vô lượng đã mở ra pháp môn
chấp trì danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Chúng sanh
nương vào nguyện lực của Đức Phật A-di-đà, đột
phá sự hạn chế của bản thân, liền được vãng sanh
về quốc độ của Ngài.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng, nguyện lực của
Đức Phật A-di-đà hiện hữu mọi nơi, tồn tại mọi lúc; bất cứ nơi đâu cũng đều khởi tác dụng, bất cứ thời nào cũng đều hiển nhiên tồn tại. Đây là nói đến sức ảnh
hưởng của ngài, có thể tùy thời mà hiển hiện kỳ
tích, can dự vào đời sống của người thế tục.

Trong Quán kinh có nói: “Chư Phật Như Lai là thân pháp
giới vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh,
do đó, khi tâm các ngươi nghĩ tưởng đến Phật, tức
là 32 tướng, 80 tùy hình hảo thì tâm này làm Phật,
tâm này là Phật”[2], đối với đoạn kinh này, Đại sư
Thiện Đạo trình bày như sau: “Nói pháp giới là
cảnh được hóa

________________________________________
[1] 五濁: Tức mạng trược, chúng sanh trược, phiền
não trược, kiến trược, kiếp trược.
[2] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 343.

* Trang 301 *

hiện, tức là cảnh giới của chúng sanh; nói thân là
thân được hóa hiện, tức là thân chư Phật. Nói vào
trong tâm tưởng của chúng sanh, do vì chúng sanh
khởi niệm mong được thấy Phật, Phật nhờ trí thấy
biết vô ngại, liền hiển hiện trong tâm tưởng của
họ”[1]. Theo Đại sư Thiện Đạo, sở dĩ chúng sanh
có thể thành Phật, kết quả đều là từ nguyện lực
của Đức Phật.
Học thuyết bản nguyện tha lực của Đại sư
Thiện Đạo khac voi tu luc tu hanh de thanh Phat học thuyết này của Đại sư đã mang đến một nếp
sống trong lành, phù hợp với giới Phật giáo đương
thời. Đại sư Thiện Đạo nhấn manh den tac dung gianh cho moi nguoi nho vao suc manh tu ben ngoai cua Duc Phat A Di Da khien cho nhan to tin tuong va ngung mo Phat giao cang nổi bật, ngài đã vạch ra lối tu cho giới bình dân đối với Phật pháp.

2. Luận điểm về vãng sanh
Phật giáo cho rằng chúng sanh ở trong thế
giới này rất đau khổ, không được tự do, muốn
thoát khỏi tình trạng này thì cảnh giới lý tưởng họ
phải đạt đến là niết-bàn, Niết-bàn có hai loại là
Niết-bàn Hữu dư và niết-bàn Vô dư. Niết-bàn Hữu
dư là đã đoạn trừ tham dục, đoạn dứt phiền não,
tiêu diệt nguyên nhân sanh tử, chỉ vì quả báo được
tạo thành do hoặc nghiệp đã tạo tác từ đời trước,
nên còn tồn tại nhục thân.

Niết-bàn Vô dư là cảnh
giới cao hơn so với Niết-bàn Hữu dư, trong cảnh
giới này không những đã không tồn tại nhục thân
trước kia, mà tư tưởng cũng dừng lặng, chìm

________________________________________
[1] Quán kinh sớ quyển 3, Đại chánh tạng quyển 37, tr. 267.

* Trang 302 *

vào trạng thái thân tâm tịch tĩnh, tiêu mất nhân quả
sanh tử, không còn trở lại thọ sanh trong luân hồi.
Theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo, lý luận về
niết-bàn không phù hợp cho nhu cầu thiết yếu của
chúng sanh thời mạt pháp.

Niết-bàn Hữu dư dựa
vào tự lực, còn niết-bàn Vô dư không những phải
dựa vào tự lực, mà cảnh giới lại quá cao, đối với
dân chúng thông thường trong hạ tầng xã hội thì
không có ý nghĩa bao nhiêu, do đó ngài đề xuất lý
luận vãng sanh. Vãng sanh chính là xa lìa thế giới
Ta-bà, tức là xa lìa thế giới thế tục, đến cõi Tịnh độ
Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà, hóa sanh trong hoa sen.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng thế giới mà chúng sanh đang cư ngụ là Uế độ, thế giới Tây phương Cực
Lạc là Tịnh độ, trong cõi Tịnh độ chỉ có hạnh phúc
, không có đau khổ; chỉ có niềm vui, không có buồn phiền. Do nguyện lực vĩ đại của Đức Phật A-di-đà nên tất cả chúng sanh, dù là chúng sanh tạo trọng tội cực ác, chỉ cần thành tâm xưng danh hiệu của Ngài thì đều được tiếp dẫn đến thế giới Tịnh độ. Nội dung học thuyết vãng sanh của Đại sư
Thiện Đạo chủ yếu bao hàm trong hai phuong dien Pham phu luan va Bao do luan

Con Tiep

Thich Minh Tue

Viết một bình luận