370.Tu Tuong Tinh Do Cua Thien Dao Dai Su TT
Luận điểm về phàm phu là chủ thể
vãng sanh
Quan điểm về tông Tịnh Độ của Đại sư Thiện
Đạo là kết quả từ ý thức về mạt pháp, Tịnh tông
cho rằng chúng sanh đều là phàm phu căn cơ thấp
kém. Tư tưởng về phàm phu của Đại sư Thiện Đạo
chủ yếu thể hiện qua cách ngài giải thích về ba bậc
chín phẩm và tư cách của bà Vi-đề-hi trong kinh
Quán Vô Lượng Thọ.
Vi-đề-hi là nhân vật trong Quán kinh, chính bà là nguyên nhân để Đức Phật tuyên nói kinh này.
* Trang 303 *
Quán kinh đề cập việc người đời khi vãng sanh về
cõi nước Cực Lạc bao gồm trong ba bậc chín phẩm,
tức là ba bậc thượng, trung, hạ; trong đó mỗi bậc lại
chia làm ba phẩm thượng, trung, hạ.
Đối với giai vị của ba bậc chín phẩm này, cách nhìn của các tông phái Phật giáo Trung Quốc không giống nhau,
trong đó, cách nhận định của ngài Tịnh Ảnh Huệ
Viễn mang tính đại biểu nhất.
Đại sư Huệ Viễn cho rằng ba phẩm bậc thượng là Bồ-tát Đại thừa, ba phẩm bậc trung là thánh nhân Tiểu thừa, ba phẩm
bậc hạ là phàm phu mới học Đại thừa. Theo ngài
Huệ Viễn, vì căn cơ của chúng sanh không đồng,
sự nỗ lực của mỗi người cũng không đồng, vì vậy
giai vị đạt được ở cõi Tịnh độ cũng không như
nhau.
Mặc dù ngài Huệ Viễn không hề hoài nghi về khả năng vãng sanh của chúng sanh, nhưng Đại sư Thiện Đạo không đồng ý với quan điểm này. Đại sư Thiện Đạo đứng trên lập trường tư tưởng tha lực của tông Tịnh Độ, tuyệt đối phủ định khả năng chúng sanh có thể dựa vào tự lực để vãng sanh
. Theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo, nhầm lẫn của
ngài Huệ Viễn chính là từ trên quả mà phán định
giai vị của chúng sanh, cho rằng giai vị vãng sanh
mà chúng sanh đạt được là kết quả từ sự nỗ lực của
tự thân họ, quan điểm này vô tình phủ định tác dụng
của tha lực.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng chúng sanh có thể vãng sanh được đến cõi Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà hoàn toàn là nhờ lòng từ bi của Đức Phật. Vì chúng sanh trong thời mạt pháp căn cơ chênh lệch, phải nương theo nguyện lực, phải nương theo lòng từ bi của Đức Phật A-di-đà thì mới có thểđược cứu giúp, bằng không thì bất luận là họ có cố gắng đến đâu đi nữa cũng không hể vãng sanh.
Tiếp theo, chúng ta sẽ xét xem Đại sư Thiện
Đạo tiến
* Trang 304 *
hành phân tích và nhận định cụ thể như thế nào đối
với học thuyết ba bậc chín phẩm của Đại sư Huệ
Viễn.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng nếu thừa nhận
theo cách nói ngài Huệ Viễn rằng ba phẩm bậc
thượng chỉ dành cho hàng thánh nhân Đại thừa thì
sẽ có sự mâu thuẫn, vì xét theo kinh Phật thì Đại
thừa thánh nhân là bậc phải có đủ thần thông, đã
thoát khỏi sanh tử luân hồi, là người đã đạt đến
giai đoạn tu hành cao.
Nhưng trong Quán kinh lạinói vì bà Vi-đề-hi thưa thỉnh Đức Thế Tôn, cầu xin được vãng sanh về cõi An Lạc nên có ba phẩm bậc thượng, vậy thì ba phẩm bậc thượng là dành cho hạng người nào? Đại sư Thiện Đạo cho rằng là thuộc về phàm phu Đại thừa.
Quán kinh nói: “Có ba hạng chúng sanh được vãng sanh, một là tâm từ bikhông giết hại, giữ đầy đủ các giới hạnh; hai là đọc tụng kinh điển Đại thừa; ba là niệm Phật A-di- đà, hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh về cõi nước của Ngài, đầy đủ các công đức thì một ngày cho đến bảy ngày liền được vãng sanh”[1].
Đại sư Thiện Đạo cho rằng đoạn kinh văn này minh
chứng rằng ba hạng chúng sanh đều là chúng sanh
nguyện được vãng sanh nên được Đức Phật A-di-
đà đến tiếp dẫn, chứng tỏ họ nhờ vào nguyện lực
của Đức Phật A-di-đà nên mới được vãng sanh.
Hơn nữa, đoạn kinh trên còn chứng minh rằng ba
hạng chúng sanh tin tưởng và phụng hành theo là
Phật giáo Đại thừa, cho nên nói là phàm phu Đại
thừa, chỉ vì tình trạng vãng sanh không giống nhau nên mới chia thành ba phẩm. Thượng phẩm thượng sanh được Đức Phật cùng vô số hóa Phật đến tiếp dẫn,
Thượng phẩm trung sanh thì được Đức Phật cùng một nghìn vị hóa Phật đến tiếp dẫn,
[1] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 344.
* Trang 305 *
Thượng phẩm hạ sanh thì được Đức Phật cùng năm
trăm vị hóa Phật đến tiếp dẫn
. Xuất hiện những sai khác này là do thuở sanh tiền chúng sanh tạo tác nghiệp không giống nhau, cho nên sự tương ưng với nguyện lực của Đức Phật A-di-đà cũng không
như nhau.
Tương tự như vậy, Đại sư Thiện Đạo cho
rằng nếu như theo quan niệm của Đại sư Huệ Viễn
mà cho ba phẩm bậc trung thuộc thánh nhân Tiểu
thừa, ba phẩm bậc hạ là phàm phu mới học Đại thừa thì
cũng không thể thành lập được.
Từ sự quan sát nhân duyên được vãng sanh của ba bậc chín phẩm, Đại sư Thiện Đạo xét thấy điều kiện tiếp xúc bên ngoài
bất đồng nên phán định người được vãng sanh là
phàm phu; còn ngài Huệ Viễn thì từ sự quan sát
nghiệp quả ba bậc chín phẩm mà phán định họ là
thánh nhân.
Thông qua sự phê bình đối với ngài Huệ Viễn, Đại sư Thiện Đạo xác định tính chất phàm phu của ba bậc chín phẩm, từ đó nâng Quán kinh lên vị trí cao nhất trong thời mạt pháp.
Lý luận về phàm phu của Đại sư Thiện Đạo đồng thời cũng phán định tư cách của bà Vi-đề-hi.
Vi-đề-hi là phu nhân của vua Tần-bà-sa-la và là mẹ
của vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà, thuộc trung Ấn Độ. Theo Quán kinh ghi lại, vua A-xà-thế đã cho cầm
tù phụ vương của ông trong bảy lớp ngục thất, có ý
đồ bỏ đói cha mình cho đến chết.
Khi phu nhân Vi-đề-hi đến thăm nom chăm sóc phụ hoàng, vua A-xà-thế hay tin liền nổi cơn thịnh nộ cũng đem mẹ
mình giam vào cung cấm. Vi-đề-hi và vua Tần-bà-
sa-la chán nản thế thái nhân tình, nên ở trong ngục
họ thầm niệm Đức Phật Thích-ca, thỉnh cầu Đức
Thế Tôn dạy cho họ con đường thoát ly.
Đức Phật liền hiển thị thần thông, tuyên nói Quán kinh, dạy
họ xưng danh niệm Phật là con đường
* Trang 306 *
thoát ly sanh tử cho chung sanh thoi mat phap
Căn cứ theo ý này, ngài Tịnh Anh Huệ Viễn và Đại sư
Thiên Thai Trí Giả đều cho rằng Vi-đề-hi là đại Bồ-
tát, vì thương chúng sanh đau khổ nên thị hiện thân
phàm phu để thỉnh cầu Đức Thế Tôn thuyết pháp
cho chúng sanh. Trong Quán kinh sớ, ngài Huệ
Viễn nói: “Phu nhân Vi-đề-hi thật sự là một Bồ-tát
lớn, do đó liền đắc Vô sanh pháp nhẫn”[1].
Cũng trong Quán kinh sớ, Đại sư Trí Khải nói: “Vi-đề-hi
là một Bồ-tát lớn, do đó liền đắc Vô sanh nhẫn”[2]. Vô sanh nhẫn là chỉ cho bậc đã ngộ được đạo lý các pháp vốn bất sanh bất diệt, tiến lên giai vị Bồ-tát.
Kết luận của các ngài chủ yếu căn cứ theo câu: “
Tâm sanh hoan hỉ, khen chưa từng có, hoát nhiên
đại ngộ, đắc Vô sanh nhẫn”[3] được nói trong Quán kinh.
Đại sư Thiện Đạo không đồng ý với quan điểm trên, mà cho rằng Vi-đề-hi là phàm phu.
Trong Quán kinh sớ, ngài nói: “Phu nhân là phàm chứ không phải thánh, vì bà không phải là thánh nên
mới một lòng cầu xin Thánh lực gia hộ; do nương
theo Phật lực, nên bà có thể thấy được Cực Lạc
của Đức Phật A-di-đà dù cõi này ở rất xa.
Ý đoạn kinh trên muốn nói là Đức Như Lai vì e chúng sanh
ngu si, nếu cho rằng phu nhân Vi-đề-hi là thánh nhân chứ không phải phàm phu thì họ nổi lên nghi ngờ rồi đâm ra hèn nhát. Họ cho rằng nếu Vi-đề-hi là Bồ-tát thị hiện thân phàm, thì bọn tội nhân chúng ta làm sao mà sánh được với bà.
Vì muốn cắt đứt sự nghi ngờ này cho chúng sanh nên Đức Thế Tôn bảo rằng: Ngươi là phàm phu, tâm tưởng yếu ớt. Vì là phàm phu nên chưa từng có
[1] Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 179.
[2] Sđd., tr. 191.
[3] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 346.
* Trang 307 *
chí lớn”[1]. Đại sư Thiện Đạo đã lam sang to van dề, Vi-đề-hi sở dĩ có thể thấy được cảnh tượng trong quốc độ của Đức Phật A-di-đà là nhờ vào nguyện lực của Phật, chứ không phải vì phu nhân là Bồ-tát. Nếu nói Vi-đề-hi là Bồ-tát thì hàng phàm phu thế tục sẽ e ngại mà chùn bước, vì vậy Đức Phật nói: “Ngươi là phàm phu, tâm tưởng hạ liệt”[2]
Vi đề-hi là phàm phu, nên bà không thể dựa vào sức
của mình để được vãng sanh, mà hiện thực thì Vi-
đề-hi đã được vãng sanh, đó là tác dụng từ nguyện
lực của Đức Phật A-di-đà. Vi-đề-hi có thể vãng
sanh, vậy thì phàm phu thế tục cũng có phần, họ
cũng có thể nương vào nguyện lực của Đức Phật
A-di-đà mà vãng sanh về Tịnh độ.
Cách nói này của Đại sư Thiện Đạo có tác dụng rất lớn, thu hút mọi người tin tưởng không nghi ngờ về cõi nước
của Đức Phật. Từ những điều nêu trên, có thể nhận thấy ly luận về phàm phu của Đại sư Thiện Đạo chủ yếu
là muốn giải quyết vấn đề vãng sanh.
Ngài áp dụng một phương thức rất đặc biệt, trước hết phủ định khả năng tự lực của chúng sanh, sau đó nêu lên nguyện
lực của Đức Phật A-di-đà, giúp chúng sanh nương
theo sức bên ngoài để được vãng sanh, vì vậy cách
nhìn của Đại sư Thiện Đạo đối với chúng sanh thời
mạt pháp và phương thức mà ngài chọn để áp dụng
có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Tuy trên mặt lý luận,Đại sư Thiện Đạo cũng đặt ra giả thuyết chúng sanh có khả năng tự vãng sanh nhưng ngài không
thể không lưu ý
[1] Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 260.
[2] Kinh Quán Vô Lượng Thọ; Đại chánh tạng,
quyển 12, tr. 341.
* Trang 308 *
đến tình trạng hiện thực của chúng sanh, không
phải bất cứ người nào trong xã hội cũng đều có
cảm tình với Phật giáo, thậm chí họ còn tỏ thái độ
chống đối quyết liệt.
Nếu như ngài không tiến hành phân tích làm sáng tỏ vấn đề, mà chỉ một mực chú trọng đề cập đến việc vãng sanh thì sẽ
làm giảm đi sức thu hút của tông Tịnh Độ đối với
mọi người. Đại sư Thiện Đạo nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có thể vãng sanh, ngài cũng chỉ ra sự bất đồng khi vãng sanh.
Như đã nói ở trước, Thượng phẩm thượng sanh thì được Tây phương Tam Thánh (Đức Phậngcô số hóa Phật và đại
chúng đến nghênh đón, hoa sen cung liền nở ra. Hạ
phẩm hạ sanh thì không có người đến nghênh đón,
hoa sen cũng phải trải qua thời gian mười hai kiếp
dài đằng đẵng mới nở, sau đó Bồ-tát Đại Thế Chí,
Bồ-tát Quán Thế Âm mới thuyết pháp cho họ.
Đại sư Thiện Đạo rất tin tưởng về việc vãng sanh của
chúng sanh, đối với việc vãng sanh khác nhau của
họ, ngài tiến hành phân tích chia chẻ rõ ràng,
nhằm thu hút mọi người trong mọi giai tầng xã hội
đều tin tưởng và ngưỡng mộ về Tịnh độ của Đức
Phật A-di-đà.
2.2. Luận về đối tượng được vãng sanh Báo do
Đại sư Thiện Đạo khẳng định rằng chúng sanh nhờ tác dụng từ nguyện lực của Đức Phật A-di-đà mới có thể vãng sanh về quốc độ của Ngài.
Nói về cõi nước của Đức Phật A-di-đà là chỉ
cho thế giới Báo độ của Ngài. Để lý giải trọn vẹn
tư tưởng của Đại sư Thiện Đạo về Báo độ, không
thể thiếu việc giới thiệu tóm tắt quan điểm của giới
Phật giáo đối với Tịnh độ.
Giới
* Trang 309 *
học giả Phật giáo Trung Quốc có ba quan niệm
tiêu biểu về Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà.
Thứ nhất, cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-
di-đà là ‘sự Tịnh độ’, đó là Tịnh độ mà phàm phu
tu hành đạt được, quan điểm này thừa nhận phàm
phu có thể vãng sanh về Tịnh độ. Các ngài Tịnh
Ảnh Huệ Viễn, Đại sư Trí Giả của tông Thiên
Thai và ngài Cát Tạng thuộc Tam Luận tông đều
chủ trương quan điểm này.
Thứ hai, cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-
di-đà là Báo độ, đó là cõi nước mà Đức Phật A-di
đà tu hành đạt được, chỉ có các Đức Phật và hàng
Bồ-tát mới có thể vãng sanh, phàm phu không có
phần. Đây là quan điểm của Nhiếp Luận sư.
Thứ ba, cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-di-
đà vừa là Báo độ, vừa là Hóa độ. Hóa độ là cõi nước được Đức Phật biến hóa ra để độ khắp chúng sanh, đây là chỗ chúng sanh vãng sanh về, còn Đức Phật
thì ở tại thế giới Báo độ. Các ngài Ca Tài, Nguyên
Hiểu chủ trương quan điểm này.
Cả ba quan điểm kể trên đều có một điểm
chung là không thừa nhận phàm phu có thể vãng
sanh về Báo độ.
Đại sư Thiện Đạo có cách nhìn riêng, không
giống những quan điểm nêu trên, không những
ngài cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà là
Báo độ, mà còn thừa nhận hàng phàm phu cũng
được vãng sanh về cõi này.
Nói Báo độ, Hóa độ là căn cứ theo thuyết tam
thân của Đức Phật, tam thân Phật là Pháp thân,
Báo thân và Hóa thân. Pháp thân là thân chân thật
của Đức Phật, đó là sự tồn tại không thể nghĩ bàn;
Báo thân là Đức Phật
* Trang 310 *
hiện hữu trong thế giới thanh tịnh, chứng đắc bồ-
đề vô thượng; Hóa thân là Đức Phật hiện hữu trong
thế giới uế trược mà chứng đắc bồ-đề vô thượng.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng quốc độ của Đức Phật
A-di-đà là Báo độ, là Tịnh độ được thành tựu nhờ
quá trình tu tập từ nhân địa quá khứ của Đức Phật,
đó là Tịnh độ mà Báo thân Phật cư trú.
Lý do đầu tiên là vì Đức Phật A-di-đà không có thân bát
tướng, thân bát tướng này là tiêu chí hóa thân của
các Đức Như Lai. Nghĩa là chư Phật vì muốn độ
khắp chúng sanh, trước sau sẽ thị hiện qua tám giai
đoạn: Bồ-tát từ cung trời Đâu-suất giáng hạ đến thế giới Ta-bà, nhập thai, trụ thai, xuất thai, thành đạo, chuyển pháp luân (truyền pháp), nhập niết-bàn.
Vì thân Ngài là Báo thân chứ không phải Hóa thân.
Tiếp theo, Đại sư Thiện Đạo cho rằng thân
của Đức Phật A-di-đà là thân đáp ứng với nhân,
cho nên là Báo thân. Kinh Vô Lượng Thọ có nói
về việc Bồ-tát Pháp Tạng phát nguyện:
“Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương xưng danh
hiệu của Tôi, chuyên nhớ nước Tôi, trồng những
cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về
nước Tôi mà chẳng được toại nguyện thì Tôi không thành Chánh giác”[1].
Đại sư Thiện Đạo nói: “Hiện tại, Bồ-tát Pháp Tạng đã thành Phật, tức là thân đáp ứng với nhân”[2]. Nhưng thân đáp ứng với nhâ n cũng có hai loại là Báo thân và Hóa thân: Báo thân là sự tồn tại nhờ sự tu nhân mà cảm được quả làm thể, Hóa thân là sự tồn tại tùy duyên thị hiện. Đức Phật A-di-đà không phải là tùy duyên thị hiện, cho nên Đại sư
[1] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 268.
[2] Quán kinh sớ, quyển 1; Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 250.
* Trang 311 *
Khi lam chung hạng người đắc ba phẩm bậc thượng sẽ
được: “Đức Phật A-di-đà cùng những vị hóa Phật
đến tiếp đón”. Đại sư Thiện Đạo cho rằng, kinh
văn đã xác định rõ rằng Đức Phật A-di-đà là Báo
thân mà chẳng phải là Hóa thân Thien Đạo cho rằng thân đáp ứng với nhân địa tu hành của Ngài là Báo thân.
Kế đến, Đại sư Thiện Đạo lại dẫn chứng
Quán kinh. Trong Quán kinh, đề cập việc khi lâm
chung, hạng người đắc ba phẩm bậc thượng sẽ
được: “Đức Phật A-di-đà cùng những vị hóa Phật
đến tiếp đón”. Đại sư Thiện Đạo cho rằng, kinh
văn đã xác định rõ rằng Đức Phật A-di-đà là Báo
thân mà chẳng phải là Hóa thân
, vì: “Thân của Phật Vô Lượng Thọ (Phật A-di-đà) vô biên, hạng
phàm phu tâm lượng nhỏ hẹp không thể nào biết
được”[1]. Theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo,
vì chúng sanh căn cơ kém cỏi, nên chỉ có thể thấy
được Hóa thân của Đức Phật A-di-đà thị hiện để
nghinh tiếp, chứ không thể nào thấy được Báo thân
cao diệu của Ngài.
Khi Đại sư Thiện Đạo khẳng định rằng thân
của Đức Phật A-di-đà là Báo thân, thì ngài cũng
gặp phải mâu thuẫn, đó là trong kinh Quán Âm thọ
kí có đề cập đến việc Đức Phật A-di-đà cũng sẽ
nhập Niết-bàn, như vậy, nếu nói rằng thân Phật Di-
đà là Báo thân thì không khớp với báo thân Phật
thường trụ bất diệt.
Ve việc này, Đại sư Thiện Đạo giải thích như sau: Vấn đề Đức Phật A-di-đà nhập Niết-bàn hay không nhập Niết-bàn, đó là cảnh giới mà chỉ có Phật cùng Phật mới biết được. Vì khuyến khích chúng sanh tu hành nên Đức Phật mới nói Niết-bàn là bất diệt. Trên căn bản, Niết-bàn cũng là không, nó không phải là mục tiêu để chúng sanh hướng đến[2]. Đại sư Thiện Đạo đặt trọng điểm tư tưởng của ngài ở chỗ phải giải quyết tốt nhất cho Về
[1] Kinh Quán Vô LượngThọ; Đại chánh tạng,
quyển 12, tr. 344.
[2] Quán kinh sớ, quyển 2; Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 250-251.
* Trang 312 *
Tang lớp bình dân về vấn đề lý tưởng tốt đẹp mà họ nhap niet ban hay không nhập Niết-bàn, với tông Tịnh Độ thật sự không phải là vấn đề quan trọng,
quan trọng là chúng sanh nên vãng sanh về thế gioi
Báo độ của Đức Phật để bỏ những khổ đau nơi trần thế.
Xét theo lý luận thông thường của Phật giáo,
Báo độ là thế giới vô cùng tốt đẹp, chỉ có thánh
nhân Đại thừa mới có thể cư ngụ, hạng phàm phu
tầm thường không đủ tư cách để đặt chân vào cõi
này.
Nhưng Đại sư Thiện Đạo lại khẳng định
chúng sanh cũng đến được thế giới Báo độ, cách
giải quyết của ngài đặt căn bản trên nguyện lực
của Đức Phật A-di-đà. Theo Đại sư Thiện Đạo,
thế giới Báo độ của Đức Phật A-di-đà là kết quả
từ sự tu hành của Bồ-tát Pháp Tạng trải qua thời
gian rất dài lâu, đó là kết quả báo đáp lại hạnh
nguyện của Ngài từ quá khứ.
Hạng pàm phu bình thường cũng có thể nương theo nguyện
lực của Duc Phat A Di Da trực tiếp tiến vào thế giới Báo độ. Nếu phàm phu không thể vãng sanh về Báo độ của Đức Phật A-di-đà thì thệ nguyen của Bồ-tát Pháp Tạng cũng bằng không, và Ngài không thể thành Phật
Trên thực tế thì Bồ-tát Pháp Tạng đã thành Phật, thệ
nguyện của Ngài đã có kết quả, vậy thì phàm phu
có thể vãng sanh về Báo độ. Quan điểm bản nguyện tha lực của Đại sư Thiện Đạo đã chứng minh rằng chúng sanh thời
mạt pháp cũng có khả năng được vãng sanh về Báo
độ cao tột của Đức Phật A-di-đà, khả năng này
muốn biến thành hiện thực, phải có một phương
pháp nhất định, đó chính là học thuyết niệm Phật
của Đại sư Thiện Đạo.
* Trang 313 *
Con Tiep
Thich Minh Tue


