
Tư tưởng niệm Phật
Từ niên hiệu Quang Hòa thứ 2 (179 TL), đời
vua Linh Đế, thời Đông Hán, ngài Chi-lâu-ca-sấmdịch kinh Bát-chu tam-muội, thì tư tưởng niệm
Phật mới bắt đầu truyền vào Trung Quốc. Sau đó,
thời Ngô, ngài Chi Khiêm; thời Tây Tấn, ngài
Trúc Pháp Hộ dịch các kinh: Kinh Đại A-di-đà
(tức kinh Vô Lượng Thọ), kinh Bình đẳng viên
giác. Thời Diêu Tần, ngài Cưu-ma-la-thập; thời
Lưu Tống, ngài Bảo Vân dịch các kinh: Kinh A-di-
đà, Thập trụ tỳ-bà-sa luận, kinh Vô Lượng Thọ,
kinh Quán Vô Lượng Thọ lưu hành đi các nơi.
Sau khi tư tưởng niệm Phật được truyền vào
Trung Quốc, trải qua quá trình từ quán tưởng niệm
Phật, rồi sau đó mới thịnh hành chủ trương trì
niệm Phật. Quán tưởng niệm Phật là chỉ cho một loại thiền định, tức là thông qua tịnh tọa nhập định,
hành giả quán tưởng những tướng hảo và công đức
oai thần của Đức Phật cùng sự trang nghiêm thù
thắng trên cõi Tịnh độ của Ngài
Trì danh niệm Phat tức là miệng xưng niệm danh hiệu Đức Phật thật như nói: Người niệm danh hiệu Đức Phật được bảy vạn, mười vạn câu sẽ được thành Phật.
Ở Trung Quốc, tư tưởng niệm Phật vào thời
kỳ thông thường là quán tưởng niệm Phật,
nhân vật tiêu biểu trong giai đoạn này là ngài Lô
Sơn Huệ Viễn, một vị danh tăng thời Đông Tấn.
Quan điểm niệm Phật của ngài Huệ Viễn xuất phát
từ nhân quả báo ứng, tín ngưỡng Tịnh độ Di-đà, hy
vọng vãng sanh Tịnh độ Tây phương, thoát khỏi sự
thống khổ của kiếp người. Trong Niệm Phật tam-muội thi tập tự, hàm ý của ngài khi trình bày và phân tích quan điểm niệm Phật là nhằm làm sáng tỏ tính chất và tác dụng
* Trang 314 *
của niệm Phật tam-muội. Ngài cho rằng tam-muội
chính là chuyên tư tịch tưởng, là một loại công phu
thiền định: “Cho nên nay người nhập định này,
vắng bặt thấy biết, khi đối duyên xúc cảnh, tâm
thức chiếu soi tựa như gương”[1].
Trong kinh Tọa thiền tam-muội, ngài đem niệm Phật tam-muội chia làm ba bước:
Thứ nhất, trước tiên quán nhìn tượng Phật,
khiến toàn bộ tư duy của mình đều tập trung lên
tượng Phật.
Thứ hai, trên nền tảng đó, quán tưởng nhữnghình sắc tốt đẹp của Đức Phật.
Thứ ba, quán tưởng vô lượng trí huệ, công đức pháp thân của Đức Phật, đạt đến mức “chỉ chuyên quán tưởng hai việc: Thân Phật như hư không vàcông đức của Ngài, không xen tạp niệm nào khác, tâm được tự tại”[2].
Ngài Huệ Viễn cũng từng thỉnh vấn với ngài Cưu-ma-la-thập vấn đề niệm Phật tam-muội thế nào để thấy được trọn vẹn sắc tượng của Đức Phật, ngài đặt vấn đề: “Các kinh điển nói về thân tướng của Đức Phật đều mô tả rằng thân tướng của Phật có đầy đủ ánh sáng chiếu suốt mọi nơi, đoan nghiêm không gì bằng,…Pháp thân chân thật ấy có đúng như vậy chăng?”[3]; ‘Phật sở duyên chính là pháp thân chân thật của Đức Phật, hay đó là thân biến hóa?’[4].
Có thể thấy, quan điểm niệm Phật của ngài Huệ Viễn
[1] Cao tăng
truyện, quyển 2; Đại chánh tạng,
quyển 50, tr. 359.
[2] Đại chánh tạng, quyển 15, tr. 281.
[3] Viễn Thập Đại thừa yếu nghĩa vấn đáp, Tục tạng kinh, quyển 2, tập 1, cuốn 1, tr. 4.
[4] Sđd., tr. 5.
* Trang 315 *
là quán tưởng niệm Phật chứ không phải là xưng
danh niệm Phật. Trong Lược luận an lạc Tịnh độ nghĩa, ngài
Đàm Loan nói:“Hoặc niệm danh tự Phật, hoặc niệm tướng
hảo của Phật, hoặc niệm quang minh của Phật,
hoặc niệm thần lực của Phật, hoặc niệm công đức
của Phật, hoặc niệm trí huệ của Phật, hoặc niệm
bản nguyện của Phật; không có niệm khác xen vào
làm gián đoạn, tâm tâm nối tiếp nhau cho đến mười
niệm gọi là thập niệm…
khi lâm chung, vì xưng danh hiệu Đức Phật A-di-đà, nguyện sanh cõi An Lạc,từng câu từng câu nối tiếp nhau, liền thành thập niệm… người này khi mạng chung liền được sanh về cõi An Lạc”[1].
Trong đoạn văn này, Đại sư Đàm Loan nêu ra hai phương pháp niệm Phật, đó là quán tưởng niệm Phật và xưng danh niệm Phật. Điều này cho thấy, dù quán tưởng niệm Phật vẫn chiếm vị trí chủ đạo
\nhưng Đại sư Đàm Loan đã bắt đầu hướng về xưng
danh niệm Phật.
Đại sư Đạo Xước nắm bắt tình hình rất nhạy ben dung luc tu tuong mạt pháp hưng khởi, ngài căn cứ theo kinh Đại tập nguyệt tạng, đưa ra quan điểm: “Chư Phật Như Lai có vô lượng, hoặc Tổng hoặc Biệt, nếu chúng sanh nào nhiếp tâm xưng niệm thì không ai chẳng được trừ tội tăng phước,
đều sanh ra ở trước Phật, đó là danh hiệu độ chúng
sanh.
Tính ra chúng sanh thời nay, cách thời Đức
Phật Thích-ca diệt độ
[1] Đại chánh tạng, quyển 47, tr. 3.
* Trang 316 *
đã là 500 năm thứ tư[1], chính là thời tu phước sám
hối, xưng danh hiệu Phật. Vì một lần xưng niệm
danh hiệu Phật A-di-đà thì có thể diệt trừ tội sanh
tử trong 80 ức kiếp”[2].
Trong Đạo Xước truyện, có nói ngài Đạo Xước khuyên người niệm danh hiệu Đức Phật A-di đà, dùng hạt đậu nhỏ để đếm số lần niệm. Ngài còn dạy người niệm Phật xâu hạt mộc làm thành chuỗi để tính số. Tư tưởng xưng danh niệm Phật của Đại ư Đạo Xước có tác dụng mở đường để phát sanhra pháp môn xưng danh niệm Phật của Đại sư Thiện Đạo sau này.
Đại sư Thiện Đạo kế thừa tư tưởng niệm Phật của Đại sư Đàm Loan, ngài đem nó hệ thống hóa,sắp xếp thành lý luận niệm Phật hoàn chinh
Nhìn chung, tư tưởng nicệct của Đại sư Thiện Đạo
chủ yếu thể hiện trên nhcững quan điểm sau.
3.1. Thuyết tam tâm
Như đã đề cập ở trước, cho dù Đức Phật A-di-đà có nguyện lực rộng lớn, có thể độ khắp chúng sanh, danh nguyện lực này của Ngài cũng không thể tự phát khởi tác dụng lên chúng sanh được, nó đòi hỏi chúng sanh trước tiên phải có mong muốn được vãng sanh. Thuyết tam tâm mà Đại sư Thiện Đạo đề cập, chính là vị trí của chủ thể niệm Phật.
[1] Sau Phật diệt độ có 5 cái 500 năm, pháp tu học
đều khác nhau: 500 năm thứ nhất, học huệ được
kiên cố; 500 năm thứ hai, học định được kiên cố,
500 năm thứ ba, đa văn, đọc tụng kiên cố; 500 năm
thứ tư, chuyên tạo lập chùa tháp, tu phước, sám
hối kiên cố; 500 năm thứ năm bạch pháp ẩn tàng,
chỉ có chút thiện pháp được kiên cố (Theo kinh
Đại tập nguyệt tạng-Kinh đại phương đẳng đại tập
quyển 55).
[2] An lạc tập, quyển thượng; Đại chánh tạng,
quyển 47, tr. 4.
* Trang 317 *
3.1.1. Tâm chí thành
Tâm chí thành tức là tâm châ1].n thật, Đại sư
Thiện Đạo nói: “Chí là chân, thành là thật”[
Ngài cho rằng, chúng sanh phải lấy chân thật làm
nền tảng để phát khởi tu hành trên cả ba phương
diện: Thân, khẩu, ý; không thể “bên ngoài hiện
tướng hiền thiện tinh tấn, bên trong ôm lòng giả
dối”[2], cần phải tâm khẩu nhất như, nếu tu hành
không chân thật thì không thể vãng sanh
Tịnh độ.
Đức Phật A-di-đà khi còn là Bồ-tát, nhất cử nhất
động, cho đến 48 nguyện của Ngài đều đặt nền
tảng trên sự chân thật. Nay chúng sanh muốn
nương vào Đức Phật A-di-đà để được vãng sanh
thì nhất định phải lấy Phật A-di-đà làm gương để
tu hành, nếu không thì không thể phù hợp với thệ
nguyện của Ngài, hẳn nhiên sẽ không thể giải thoát.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng ‘chân thật’ hàm
ý trên hai phương diện, tức là chân thật tự lợi và
chân thật lợi tha. Người chân thật tự lợi là trong
mỗi niệm đều xả bỏ các việc ác, xả ly uế độ và
niệm niệm siêng tu các điều thiện. Nói về vấn đề
siêng tu, tông Tịnh Độ lại lý giải trên hai phương
diện:
Tu thiện tức là dừng ác, mà dừng ác cũng chính là tu thiện, nên tu thiện và dừng ác đều quan trọng như nhau, không thể thiếu một trong hai. Chân thật lợi tha, tức là chúng ta lấy việc bỏ ác song song với siêng năng hành thiện để gây ảnh
hưởng đến cộng đồng, khiến cho họ bỏ ác làm lành, cũng siêng tu Tịnh độ giống như chúng ta. Cũng có nghĩa là: “Ta muốn làm nên
[1] Quán kinh sớ, quyển 4, Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 270.
[2] Sđd., tr. 271.
* Trang 318 *
thì giúp người làm nên, ta muốn thành đạt thì giúp
người thành đạt”[1]. Đại sư Thiện Đạo cho rằng,
trong toàn bộ việc tu hành thì tâm chân thật rất
quan trọng. Người tu hành mà không có tâm chân
thật là một thứ thiện tạp độc, là hành vi lừa gạt,
một là lừa mình, hai là lừa người
. Đức Phật A-di-đà là bậc toàn tri toàn năng, bất luận chúng sanh có hành vi giả dối ra sao đều không qua được pháp
nhãn của Ngài. Nếu chúng sanh dùng thiện tạp độc
để cầu sanh Tịnh độ, sẽ vĩnh viễn không đạt được
mục đích. Người muốn vãng sanh Tịnh độ là
người đã thật sự cảm nhận được một cách sâu sắc
cuộc sống nhân sanh đau khổ, là vì muốn giải thoát
triệt để, là muốn thành toàn việc lớn của một đời
người
. Nếu ai tự lừa dối mình, mới chỉ xét trên mặt tự lợi, kết quả phải vĩnh viễn bị đọa trong biển khổ của kiếp người.
Nguy hại của việc tự lừa dối mình không chỉ giới hạn nơi tự thân kẻ đó, mà còn làm liên lụy đến người khác.Bởi vì trong lòng họ giả dối, nhưng bên ngoài lại hiện tướng siêng năng, mọi người nhìn thấy người nọ siêng năng như vậy mà cònkhông được vãng sanh, liền đâm ra nghi ngờ khả
năng vãng sanh của mình. Vô hình trung, người
mà “bên ngoài hiện tướng hiền thiện tinh tấn, bên
trong ôm lòng giả dối” kia đã làm ảnh hưởng tín
tâm của mọi người đối với tín ngưỡng Tịnh độ, rốt
cuộc làm trở ngại bước chân của chúng sanh tiến
lên con đường giải thoát, tội này chẳng phải nhỏ!
Ngược lại, nếu tất cả đều xuất phát từ tâm chân
thật của chúng ta, thì ngay đó đã đem đến cho
người khác tấm gương vãng sanh, gián tiếp dẫn dắt
mọi người quay về nương tựa vào Tịnh độ.
em
[1]己欲立而立人,己欲達而達人 (Luận ngữ,
Khổng Tử).
* Trang 319 *
Theo một số sách ghi lại hành trạng của Đại
sư Thiện Đạo, thì ngài đúng là một bậc mô phạm:
[“Hơn ba mươi năm ngài chưa từng đặt lưng xuống
chiếu, rất ít ngủ nghỉ, trừ tắm rửa ra thì thân không
rời ca sa; tu hạnh bát-chu tam-muội, lấy việc tụng
[ kinh lễ Phật làm hạnh nghiệp, giữ gìn giới hạnh
một mảy may cũng không phạm.
Ngài chưa từng liếc mắt nhìn nữ nhân, không móng tâm danh lợi, cũng không từng có một lời nói đùa”[1]. Tinh thần
của Đại sư Thiện Đạo ảnh hưởng rộng đến mọi
tầng lớp trong xã hội thời bấy giờ, đến nỗi: “Tăng
tục trong kinh thành và các châu, có người tự gieo
mình từ núi cao xuống vực, hoặc có người tự trầm
mình vào dòng suối sâu, hoặc có người tự gieo
mình từ trên cành cây cao xuống, hay là thiêu thân
[cúng dường, xa gần cũng khoảng hơn trăm người.
Họ tu các phạm hạnh, xả bỏ vợ con, đọc tụng kinh
A-di-đà từ mười vạn đến ba mươi vạn lần, niệm
danh hiệu Phật một ngày được một vạn năm nghìn
câu đến mười vạn câu, đắc niệm Phật tam-muội,
những người được vãng sanh Tịnh độ nhiều không
kể xiết”[2]
Xem đây thì đủ biết, Đại sư Thiện Đạo
[có sức ảnh hưởng vô cùng lớn lao đối với quần
chúng thời bấy giờ.
3. 1.2. Tâm tin tưởng sâu sắc
Trong Quán kinh sớ, Đại sư Thiện Đạo nói:
“Nói thâm tâm, tức là tâm tin tưởng sâu sắc”[3].
Thâm tâm còn gọi là thâm tín, tức là tâm tin tưởng
sâu sắc, là có tín tâm sâu dày đối với Phật pháp.
Đại sư Thiện Đạo rất xem trọng tham
[1] Tân tu vãng sanh truyện, Hắc cốc thượng
ngữ đăng lục, quyển 9, Đại chánh tạng, quyển 83,
- 158.
[2] Sđd., tr. 158.tt
[3] Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 271.
* Trang 320 *
tâm, ngài triển khai trình bày và phân tích trên hai
phương diện chủ thể và khách thể.
Phương diện thứ nhất, Đại sư Thiện Đạo cho
rằng chủ thể cần phải xác định tâm tin tưởng sâu sắc
thế nào, tức là phải tin tưởng rằng chính ta đang là
một phàm phu sống trong thời mạt pháp, cần phải
phủ định hoàn toàn khả năng của tự thân, không thể
nương vào sức của mình để được vãng sanh thành
Phật.
Phương diện thứ hai, Đại sư Thiện Đạo lại từ
phương diện khách quan xác lập tâm tin tưởng sâu
sắc, nội dung có ba điểm:
– Phải tin tưởng tuyệt đối vào 48 nguyện nhiếp
thọ chúng sanh của Đức Phật A-di-đà, chúng sanh
nương vào nguyện lực của Phật, chắc chắn được
vãng sanh.
– Phải tin tưởng nhị thiện định tán, cửu phẩm,
tam phước mà Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã nói
trong Quán kinh.
– Tin tưởng sâu sắc
kinh A-di-đà, chư Phật đến
chứng tín
độ trong thời mạt pháp, ngài mong
– Tin tưởng sâu sắcho việc xưng danh được vãng sanh.
Thông qua việc trình bày và phân tích chặt chẽ,
Đại sư Thiện Đạo đã xác định tầm quan trọng của
kinh điển Tịnhmỏi mọi người có niềm tin thật vững chắc đối với
Tịnh độ.
Xét trên bề mặt, hai phương diện chủ thể và
khách thể của thâm tâm có chút mâu thuẫn, Đại sư
Thiện Đạo nhấn mạnh rằng trên thực tế hai phương
diện này hoàn toàn thống nhất với nhau. Theo Đại
sư Thiện Đạo, chúng sanh tội ác sâu nặng khó có
thể được cứu, bởi vì nhận thức trọn vẹn được trình
độ của tự thân là vô cùng yếu ớt, dựa vào tự
* Trang 321 *
lực thì không có cách nào được giải thoát, nên họ có
thể buông bỏ tất cả những thấy biết lệch lạc, một
lòng trông mong vào nguyện lực từ bi của Đức Phật
A-di-đà. Nhìn theo góc độ này thì chúng ta cách cõi
nước Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà không xa.
Ngược lại, nếu tự thị trình độ của mình là giỏi, không tin tưởng rằng ta là chúng sanh cần nương vào nguyện lực của Đức Phật A-di-đà thì giữa Ngài và
chúng ta có khoảng cách rất xa.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng một khi đã có được
tâm thâm tín thì chúng ta sẽ chỉ một lòng tin tưởng
vào lời Phật, trong kinh Đức Phật dạy như thế nào
thì chúng ta vâng làm như thế ấy.
Hẳn nhiên, sẽ xuất hiện những người lợi dụng kinh điển của Đức Phật để phê bình tình hình tín ngưỡng Tịnh độ. Đại sư Thiện
Đạo cho rằng trước tiên chúng ta phải có tín tâm
kiên cố không dao động; tiếp theo cần nhận thức
rằng Đức Thế Tôn thuyết pháp luôn phù hợp trình
độ thính chúng, kinh điển Tịnh độ là Như Lai nói
cho chúng sanh thời mạt pháp, không nên dùng
những kinh điển khác của Ngài để phê bình kinh
điển Tịnh độ.
Tóm lại, chỉ cần chúng sanh khắc cốt ghi tâm
rằng: Thân ta là phàm phu tội ác không có cơ hội
giải thoát, chỉ nương vào nguyện lực của Đức Phật
A-di-đà mới có thể được vãng sanh. Giữ được tín
tâm không dao động thì đây chính là tiến trình để
chúng sanh tu hành tiến vào Tịnh độ của Đức Phật
A-di-đà.
3.1.3. Tâm hồi hướng phát nguyện
Hồi hướng phát nguyện là một điểm rất đặc
sắc của Phật giáo; hồi là hồi chuyển, hướng là thú
hướng. Bất cứ ai
* Trang 322 *
thuộc tín đồ Phật giáo, khi tạo tác điều gì hữu ích
cho Phật pháp đều nên hồi hướng phát nguyện, tức
là hồi chuyển công đức mà ta đã tu hành được,
hướng đến kỳ vọng vào bản thân.
Trong tông Tịnh Độ có hai loại hồi hướng:
Một là vãng tướng hồi hướng, tức là đem công
đức mà ta đã tạo tác chuyển tặng cho tất cả chúng
sanh, hi vọng tất cả cùng đồng được vãng sanh về
quốc độ của Đức Phật A-di-đà.
Hai la hoan tuong hồi hướng, là sau khi vãng
sanh về Tịnh độ, thành tựu tất cả công đức, vị Bồ-
tát này sẵn lòng quay lại thế giới giới Ta-bà để giáo
hóa chúng sanh, giúp họ quay về Tịnh độ
Đại sư Thiện Đạo cho rằng thiện hạnh của
vãng tướng hồi hướng có hai phương diện:
Một là thiện hạnh mà bản thân người đó đã tu
tập được, bao quá phước.t tất cả công đức thiện hạnh đã
được tạo tác từ quá khứ, hiện tại và tất cả công đức
thiện hạnh đã được tạo tác từ thân, khẩu, ý của họ.
Thiện hạnh thế tục tức là giới phước và hạnh phuoc
Giới phước là giữ đủ các giới đã thọ, không phạm
oai nghi. Hạnh phước là phát tâm bồ-đề, tin nhân
quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người tu
tập. Một phương diện khác của vãng tướng hồi
hướng là tùy hỉ thiện hạnh.
Tùy hỉ hàm nghĩa trên hai mặt: Một là thấy người khác có điều vui, ta cũngtùy hỉ với niềm vui của người. Hai là vui theo việc xả thí trong mọi hoàn cảnh. Ví dụ cũng là việc bố thí, nếu người giàu có thí xả tiền của, vải vóc; thì kẻ nghèo khó bố thí ngụm nước, bó rau… Tất cả đều xuất phát từ sự vui vẻ trong nội tâm.
* Trang 323 *
Phát nguyện là chỉ cho việc chúng sanh nên phát
khởi thệ nguyện vãng sanh Tịnh độ. Trong tín
ngưỡng Tịnh độ, sự phát nguyện có vị trí rất quan
trọng, trong bộ kinh A-di-đà, Đức Phật trước sau ba
lần khuyên chúng sanh nên phát nguyện.
Lần th]ứ nhất là sau khi mô tả sự trang nghiêm
trên thế giới Tịnh độ Tây phương, Đức Thế Tôn
khuyên: “Chúng sanh nghe như vậy, cần nên phát
nguyện, nguyện sanh về nước kia”[1.
Lần thứ hai, khi khai thị: “Nghe nói về chấp trì
danh hiệu Đức Phật A-di-đà”, Thế Tôn nói: “Chúng
sanh nghe lời này, phải nên phát nguyện sanh về
nước kia”.
Lần thứ ba, khi khai thị chúng sanh nên phát
nguyện vãng sanh, Ngài nói:
“Nếu có niềm tin, phải nên phát nguyện sanh về
nước kia”[2].
Vì vậy, Đại sư Thiện Đạo nói: “Tâm thâm tín
này cứng chắc như kim cang, một dạ nhất tâm, một
lòng chính trực, không bị những kiến giải, những
môn học khác, hay những người tu theo hạnh khác… làm lay động hay phá hoại được”[3].
Tóm lại, tâm chí thành mà Đại sư Thiện Đạo nói đến chính là tâm chân thật, là tâm mong mỏi được vãng sanh không chút giả dối; tâm tin tưởng sâu sắc
là tâm tin tưởng trọn vẹn vào nguyện lực của Đức
Phật; tâm hồi hướng phát
[1] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 347.
[2] Sđd., tr. 348.
[3] Quán kinh sớ, quyển 4; Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 272.
* Trang 324 *
nguyện là tâm hồi hướng tất cả những điều đã tu tập
được, để cầu nguyện vãng sanh. Ba tâm này gọi
chung la tam tâm, tức là đem tâm đặt vào nơi ba
việc: Sở cầu Tịnh độ, sở quy Đức Phật A-di-đà và
sở hành niệm Phật.
Trọng điểm của ba tâm là an tâm, do đó, Đại sư Thiện Đạoa”[1] nói: “Ba tâm đầy đủ thì hạnh nào cũng được thành tựu, nếu người có đủ ba tâm này mà không được vãng sanh là chuyện không thể. xay ra
3.2. Thuyết xưng danh
Đại sư Thiện Đạo cho rằng chúng sanh là phàm phu, không thể dựa vào tự lực để đến được thế giới Báo độ cao diệu của Đức Phật A-di-đà, chỉ nhờ vào nguyện lực của Đức Phật m ới có thể vào, và ngài cổ xúy. rằng xưng danh chính là nguyện lực vĩ đại nhat
“Nam mô A-di-đà Phật” giống như chiếc cầu nối, xưa nay giữa chúng sanh và nguyện lực của Đức Phật bị ngăn cách, nhờ vào sáu chữ danh hiệu, hai bên được nối liền thông suốt với nhau.
Sau đây, chúng ta sẽ phân tích cụ thể đôi chút
về tư tưởng xưng danh của Đại sư Thiện Đạo.
Trước hết, Đại sư Thiện Đạo thông qua xác
định tông chỉ của Quán kinh, từ đó ngài đặt ra vị trí
của xưng danh niệm Phật.
Các vị Tịnh Ảnh Huệ Viễn và Cát Tạng cho rằng trọn bộ Quán kinh là nói
về quán Phật tam-muội, Đại sư Thiện Đạo thì cho
rằng Quán kinh là nói về niệm Phật tam-muội, trong
đó mười ba đề mục quán phía trước là quán Phật tam-muội, là do Vi-đề-hi thỉnh Đức Thế Tôn nói cho hạng lợi căn; ba đề mục quán tiếp sau là pháp môn Thế Tôn tự thuyết để cứu độ chúng sanh.
Do mục đích của Quan
[1] Sđd., tr. 273.
* Trang 325 *
kinh là Đức Phật tuyên nói cho chúng sanh thời mạt
pháp, vì vậy, quán Phật tam-muội chính là Đức
Phật kiến lập một loại giả thuyết về niệm Phật. Khi
Đức Thế Tôn truyền trao Quán kinh cho tôn giả A
-nan, Ngài chưa phó chúc quán Phật tam-muội, mà
dặn dò rằng: “Ông nên ghi nhớ kỹ lời này, vâng giữ
lời này cũng chính là thọ trì danh hiệu của Đức Phật Vô Lượng Thọ”[1]
Căn cứ theo đoạn văn kinh này, Đại sư Thiện Đạo cho rằng quán Phật tam-muội là thuyết phế, niệm Phật tam-muội là thuyết lập; vừa phế vừa lập, đó chính là tông chỉ niệm Phật của Quán kinh. Kế đến, tư tưởng xưng danh của Đại sư Thiện Đạo còn được thể hiện qua cách ngài giải thích vấn
đề mười niệm trước khi lâm chung.
Neu Khong niem Phat duoc thi nen
xưng danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật. Chí tâm xưng
niệm âm thanh không dứt, đủ mười niệm xưng
Nam mô A-di-đà Phật, do xưng danh hiệu Phật, nên
trong mỗi một niệm tiêu trừ được tám mươi ức kiếp
tội sanh tử. Trong một niệm cũng được vãng sanh
về nước An Lạc”[2]
. Đại sư Thiện Đạo cho rằng
lâm chung thập niệm chính là xưng mười câu Phật.
Trong tác phẩm Vãng sanh lễ tán, ngài cũng có
nói: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh ở mười
phương xưng danh hiệu của Tôi, dù chỉ mười tiếng
mà nếu họ không được vãng sanh thì Tôi không
thành Chánh giác”[3]. Trong Quán kinh sớ, khi giải
thích văn kinh “đủ mười niệm”,
[1] Kinh Quán Vô Lượng Thọ; Đại chánh tạng,
quyển 12, tr. 346.
[2] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 346.
[3] Đại chánh tạng, quyển 47, tr. 448.
* Trang 326 *
Đại sư Thiện Đạo lại nói: “Trong mười tiếng xưng
danh hiệu Đức Phật, có đầy đủ thập nguyện, thập
hạnh”[1]
Có thể thấy, Đại sư Thiện Đạo lấy việc
xưng danh để giải thích về mười niệm.
Lại nữa, Đại sư Thiện Đạo còn thông qua quá[
trình phân biệt việc tu chánh hạnh hay tạp hạnh của[
chúng sanh để xác lập vị trí của việc xưng danh niệm Phật. Đại sư Thiện Đạo cho rằng tất cả hành vi của chúng sanh, một loại là ‘chánh hạnh’, là chuyên y cứ vào kinh điển Tịnh độ để tu hành; loại thứ hai, ngoài những hạnh vừa nêu trên thì đều là ‘tạp hạnh’. Đại sư Thiện Đạo y cứ theo Ngũ niệm môn của Đàm Loan, đem chánh hạnh phân thành năm loại:
1. Chánh hạnh đọc tụng: Nhất tâm chuyên đọc
tụng kinh điển Tịnh độ.
2. Chánh hạnh quán sát: Nhất tâm chuyên chú
quán tưởng, ức niệm về cõi nước của Đức Phật A-di
-đà.
3. Chánh hạnh lễ bái: Nhất tâm chuyên lễ bái Đức
Phật A-di-đà.
4. Chánh hạnh tán thán: Nhất tâm chuyên cúng
dường, tán thán Đức Phật A-di-đà.
5. Chánh hạnh xưng danh: Nhất tâm chuyên dùng
miệng xưng danh Đức Phật A-di-đà.
Trong năm loại chánh hạnh, Đại sư Thiện Đạo
lại đem chánh hạnh xưng danh làm chánh định
nghiệp. Ngài cho rằng xưng danh là bản nguyện của
Đức Phật, hơn nữa mọi người đều có thể tu hành, vì
vậy chúng ta nên bỏ tạp hạnh,
Con Tiep
Thich Minh Tue


