Tu Tuong Tinh Do Cua Thien Dao Dai Su TT

Tu Tuong Tinh Do cua Then Dao Dai Su TT

Tu chánh định nghiệp. Đại sư Thiện Đạo nói:

“Chúng sanh chướng trọng, cảnh tế, tâm thô, thức tâm

loạn động, tu tập quán niệm rất khó thành tựu, vì vậy Đức Thế Tôn mới thương xót khuyên nên chuyên

xưng danh hiệu”.
Đoạn trước đã đề cập đến kinh điển Tịnh độ cho rằng chúng sanh đang trong thời đại mạt pháp, căn cơ hạ liệt, có hiện hữu thì cũng chỉ là một sự tồn tại rất

hữu hạn, còn sự tồn tại của Đức Phật A-di-đà là vô

hạn. Danh hiệu của Đức Phật là nhịp cầu nối giữa

hai bên, cung cấp cho chúng sanh khả năng vãng

sanh về Tịnh độ. Vì sao danh hiệu lại có tác dụng

lớn lao như thế? Đại sư Thiện Đạo cho rằng điều

này nhất định phải lý giải dựa trên lòng từ bi của

Đức Phật. Phật thương xót chúng sanh đau khổ, nên

Ngài đem công đức của chính mình kết tinh thành

danh hiệu ‘A-di-đà Phật’. Đức Phật hoàn toàn buông

bỏ tự kỷ, danh hiệu chính là hình thức tồn tại của

Ngài. Như vậy, trong danh hiệu đã bao hàm toàn bộ

công năng của Đức Phật, trong đó tập trung thể hiện

nguyện lực của Ngài. Tất cả hạnh, tất cả nguyện,

toàn thể vũ trụ đều bao hàm trong câu ‘A-di-đà Phật’

. Vì vậy, Đại sư Thiện Đạo nói: “Trên thì suốt một

đời, dưới thì dù một câu hay mười câu, nhờ nguyện

lực của Đức Phật nên rất dễ được vãng sanh”[2]. Sự

tồn tại của Đức Phật chỉ có hóa thành danh hiệu mới

dễ dàng cứu vớt tất cả chúng sanh, và chúng sanh

cũng chỉ dựa vào danh hiệu của Đức Phật mới có

thể đến được cảnh giới của Ngài.

 

[1] Pháp sự tán, quyển hạ; Đại chánh tạng, quyển 47, tr. 439.

[2] Vãng sanh lễ tán; Đại chánh tạng, quyển 47, tr.

439.

 

* Trang 328 *

Đại sư Thiện Đạo còn trình bày và phân tích tác

dụng cụ thể khi chúng sanh niệm Phật, ngài nêu lên

ba tác dụng:
1. Tác dụng thân duyên, tức là: “Chúng sanh khởi hạnh, miệng thường xưng danh hiệu Phật, Đức Phật liền nghe; thân thường lễ Phật, Đức Phật liền thấy;

tâm thường niệm Phật, Đức Phật liền biết. Chúng

sanh nhớ nghĩ đến Phật, Phật cũng nhớ nghĩ đến

chúng sanh, hai bên không hề xa cách nhau, cho nên

gọi là thân duyên”[1]. Niệm Phật là đang ở trong

bản nguyện của Phật, vì vậy người niệm Phật cùng

với Đức Phật kết thành nhân duyên sâu sắc.
2. Tác dụng cận duyên: “Chúng sanh nguyện

muốn thấy Phật, Đức Phật liền ứng hiện, nên gọi là

cận duyên”. Chúng sanh niệm Phật, nếu như phát

nguyện muốn thấy Phật, Phật sẽ liền xuất hiện trước

mắt.
3. Tác dụng tăng thượng duyên: “Chúng sanh

 

 

 

 

 

 

xưng niệm danh hiệu, liền trừ được nghiệp tội trong

nhiều kiếp. Khi lâm chung, được Đức Phật cùng

thánh chúng đến nghinh tiếp, tà nghiệp không thể

ngăn trở được, cho nên gọi là tăng thượng duyên”.

Do chúng sanh chuyên tâm xưng danh hiệu Phật,

liền tiêu trừ được những lỗi lầm trước đó, loại bỏ

những thứ tạp tưởng trong ý thức, tiến vào một

trạng thái thuần túy thanh tịnh không thiện, không ác. Trạng thái này siêu vượt tất cả tâm thiện ác, những

sự tạo tác hữu vi cũng ngưng nghỉ, chúng sanh nhờ

đó mà đạt được giải thoát. Vì vậy nói: Niệm Phật có

tác dụng làm tăng thượng duyên giúp chúng sanh

giải thoát.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng, bên cạnh việc kiên

trì xưng

 

[1] Quán kinh sớ, quyển 3; Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 268.

 

* Trang 329 *

danh, còn phải có phương thức tu hành chính xác.

Đại sư Thiện Đạo nêu lên bốn phương thức:
1. Cung kính tu: Khi chúng sanh lễ bái Đức Phật

A-di-đà, nên có thái độ ân cần cung kính.
2. Vô dư tu: Tức là khi ba nghiệp thân, khẩu, ý

khởi lên, hành vi của chúng ta không được xen tạp,

miệng chỉ chuyên xưng danh hiệu Đức Phật A-di-

đà, chuyên nhớ, quán tưởng, lễ bái, tán thán Đức

Phật A-di-đà và Thánh chúng ở Tịnh độ.
3. Vô gián tu: Tâm đặt vào nơi khởi hạnh không

gián đoạn, đây là pháp tu không tạo nghiệp khác,

không khởi vọng niệm phiền não. Nhưng chúng sanh là hạng phàm phu sanh tử, thường thì chánh hạnh sẽ bị gián đoạn, Đại sư Thiện Đạo cho rằng đây là việc

không thể nào tránh khỏi, chỉ nên tùy lúc sám hối là

được.
4. Trường thời tu: Từ khi phát tâm cho đến lúc

lâm chung, đều tin tưởng và hành trì liên tục, không

dừng giữa chừng.
Tóm lại, xét theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo,

chỉ cần chúng sanh phát khởi ba tâm, chuyên tu

chánh định nghiệp là trì danh, không xen lẫn những

hạnh khác, tu hành không gián đoạn, không lười

biếng, thì nhất định nương vào nguyện lực của Đức

Phật A-di-đà, vãng sanh về thế giới Báo độ của Ngài.
     4. Ảnh hưởng của Đại sư Thiện Đạo đối với

hậu thế và vị trí của ngài trong lịch sử
Đại sư Thiện Đạo kế thừa tư tưởng Tịnh độ của

Đàm Loan, Đạo Xước, ngài đem tư tưởng “xưng

danh niệm Phật”

 

* Trang 330 *

Con tiep

nâng lên một tầm cao mà trước đó chưa từng có,

hơn nữa chính ngài cũng nỗ lực thực hành, nêu lên

một tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Từ đó

về sau, xưng danh niệm Phật trong tông Tịnh Độ

nhanh chóng phát triển, đến độ mà “nhà nhà đều

A-di-đà Phật”. Về sau, khi Đường Vũ Tông diệt

Phật, hầu hết các tông phái đều bị ảnh hưởng và suy

vi trầm trọng không thể cứu vãn, chỉ có tông Tịnh

Độ và Thiền tông vẫn thịnh hành như cũ. Do xưng

danh niệm Phật rất đơn giản, dễ thực hành, thấm

sâu vào lòng người, nên sau này các tông phái khác

cũng đều chú ý hấp thu tư tưởng Tịnh độ, dần dần

có cùng xu hướng với tông Tịnh Độ và trở thành

tông chung của các tông phái.
Tuy Đại sư Thiện Đạo có tầm ảnh hưởng rất lớn

trong lịch sử, nhưng tính từ dạo ấy đến nay, trải qua

khoảng thời gian quá dài, nên hình ảnh Đại sư trở

nên khá mờ nhạt. Chúng ta đã vô tình xem nhẹ việc

nghiên cứu về tư tưởng xưng danh niệm Phật của

ngài, nên đánh giá chưa đúng tầm vóc của ngài

trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Chúng tôi cho

rằng muốn lý giải vị trí của Đại sư Thiện Đạo, không

chỉ đơn thuần dựa theo tư tưởng lý luận để nhận định. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, nhìn chung đã trải qua hai giai đoạn phát triển. Một là \

Phật giáo trước thời đại nhà Đường, với đặc trưng

dùng hình thức lý luận; hai là Phật giáo sau thời đại

nha Đường, với hình thức đặc trưng tín ngưỡng. Có

thể gọi Phật giáo giai đoạn trước là Phật giáo kinh điển

, giai đoạn sau là Phật giáo dân gian. Cột mốc quan

trọng để Đại sư Thiện Đạo sáng lập tông Tịnh Độ là

Phật giáo kinh điển chuyển hướng sang Phật giáo

dân gian.

* Trang 331 *

Tông Tịnh Độ xuất hiện, đã giải quyết được hai vấn

đề mà Phật giáo phát triển phải đối mặt:
Một là, Phật giáo phát triển đã tinh vi hoá,

chuyên môn hóa lý luận Phật giáo lên rất cao, làm

cho người chưa trải qua quá trình huấn luyện

chuyên môn thì không thể nắm bắt được. Như vậy,

Phật giáo dần biến thành tôn giáo của hình thức học

viện, xa rời nhu cầu cần thiết của đại đa số quần

chúng và có nguy cơ sẽ bị suy vi.
Hai là, các loại chú sớ, trứ tác của các vị cao

tăng đại đức trong Phật giáo phần nhiều đều muốn

luận chứng tín ngưỡng từ trên lý luận, trong đó

tiềm tàng sự phá vỡ tín ngưỡng, có nguy cơ tách rời

sự

tu hành thực tiễn.
Đại sư Thiện Đạo nêu lên pháp môn xưng danh

niệm Phật đơn giản, dễ hành, cũng phù hợp với chủ

trương đơn giản, dễ hành của Thiền tông, đả phá sự

độc quyền của tầng lớp quý tộc đối với Phật giáo.

Ngài đã giúp một tín đồ tầm thường cũng trở thành

chủ thể của tín ngưỡng Phật giáo. Sau này, Phật giáo Trung Quốc tiến đến một giai đoạn phát triển mới, Phật giáo thâm nhập vào mọi tầng lớp, mọi ngõ

ngách trong xã hội, thật sự cắm rễ trên lãnh thổ

Trung Quốc. Có thể nói, Đại sư Thiện Đạo là một

nhân vật quan trọng đánh dấu một bước ngoặt trên

lộ trình phát triển của lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Cần phải xác định đúng vị trí của Đại sư Thiện Đạo bằng cách chú trọng tư tưởng của ngài. Ngài là một

vị Đại sư Phật học mà chúng ta cần phải nỗ lực

nghiên cứu.

* Trang 332 *

 

Viết một bình luận