16.Bất Vấn
Bất luận trong tâm có điều nghi ‘vấn’, ‘bất vấn’ trái với nhau.
‘Nghi ngờ’ chính là trong tâm có nghi vấn, khó giải đáp, khó phán đoán, khó xử lý, đây gọi là nghi ngờ; trái lại ‘bất vấn’ chính là không có những vấn đề này, không có những nghi ngờ này, cho nên không cần phải hỏi.
Có nghĩa là, phàm phu chúng ta chỉ cần niệm Phật thì nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Tội cũng tốt, phước cũng tốt, tội nhiều phước ít cũng tốt, phước nhiều tội ít cũng tốt, tội phước đều nhiều cũng tốt, tội phước đều ít cũng tốt, với những điều này đều không có liên quan gì đến việc vãng sanh về thế giới Cực Lạc mà chỉ có liên quan đến việc niệm Phật. Nếu người niệm Phật, bất kể là tội hay phước, tội phước nhiều hay ít, thì cũng đều được vãng sanh.
Nếu người không niệm Phật thì sẽ nhờ vào việc làm phước của mình mà sanh vào nhân gian, hoặc sanh lên trời, do tạo tội mà đọa vào ba đường ác. Vì thế, nếu người niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì không cần phải luận về căn cơ người này như thế nào, thiện ác thế nào, công đức thế nào, công phu thế nào, đều không cần phải luận bàn. Bởi vì vãng sanh về thế giới Cực Lạc chẳng phải nương vào phước thiện và công phu của chúng ta, mà là nương vào câu danh hiệu này. Câu danh hiệu này có công đức không thể nghĩ bàn, có thể tiêu trừ được nghiệp chướng của chúng ta, làm tăng thêm phước đức của chúng ta. Chúng ta lìa thế giới Ta-bà mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc, là nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà. Nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì không chỉ vãng sanh mà còn nhất định vãng sanh, dễ vãng sanh nữa.
Nguyên nhân chúng sanh không tin vào bản nguyện của Phật
- Không nương vào nguyện lực của Phật Di-đà có hai:
- Luận về tội nhiều hay ít, lúc tạo tội khởi tâm nghi mà thoái tâm, cho rằng thân tạo ác như vậy, tuy niệm Phật nhưng không nhất định vãng sanh.
Giống như người không học Phật thì không biết thiện có thiện báo, ác có ác báo, cho đến sau khi học Phật, thì biết có thiện ác báo ứng, thì biết bản thân mình có tội nghiệp.
Giống như người tu hành sơ sơ, thì hiểu sai cho rằng mình đã tích lũy công đức, công hạnh của mình đã đạt đến cảnh giới nào rồi, cho rằng tâm mình có thể thanh tịnh hoặc đã thanh tịnh, thậm chí chứng được quả vị nào.
Nếu như có trí huệ, cố gắng tu hành, và lại nghiêm khắc kiểm điểm chính mình, thì sẽ phát hiện thân mình kỳ thật vẫn là thân tội ác, đặc biệt là người càng tu hành siêng năng, thì càng biết rõ bản thân mình là phàm phu tội ác trong sanh tử, không có nhân duyên thoát khỏi ba cõi sáu đường.
Ở đây đã giảng ‘lúc tạo tội’, chẳng phải cố ý tạo tội mới gọi là tạo tội, mà là phàm phu chúng ta khởi tâm động niệm đều là nghiệp cả, đều là tội cả, chỉ là chưa phát giác, chưa phản tỉnh mà thôi. Có người do không hiểu rõ đạo lý này nên cho rằng tội là một loại chướng ngại đối với việc vãng sanh, ngại rằng dù niệm Phật cũng không thể vãng sanh, đây chính là ‘hỏi tội nhiều hay ít’.
- Luận về phước nhiều hay ít, cho rằng niệm Phật phải phát tâm bồ-đề, tu các công đức thì nhất định vãng sanh.
Nếu không có hạnh thiện phát tâm bồ-đề thì tuy niệm Phật nhưng vãng sanh bất định. Lấy phát tâm bồ-đề làm hàng đầu, Phật lực làm hàng thứ.
Cho rằng cần phải có sự hành trì phát tâm bồ-đề, tu các công đức thì niệm Phật mới được vãng sanh, nếu như không có phát tâm bồ-đề, không thực hành lục độ, tích lũy công đức, tuy niệm Phật nhưng cũng không được vãng sanh.
Quan điểm này không nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà, lấy việc phát tâm bồ-đề của mình, tích lũy công đức làm trọng tâm, cho rằng đây mới là nhân tố chủ yếu, và sức của Phật là thứ yếu, đây chính là ‘hỏi phước nhiều hay ít’Phần trước là luận về tội nhiều hay ít, không đúng; đây là luận về phước nhiều hay ít, cũng không đúng. Chúng ta đều không hiểu rõ bản thân mình, vì thế cho rằng tự mình có thiện, cho rằng mình có thể phát tâm bồ-đề, hoặc cho
rằng bản thân mình chân chính đang phát tâm bồ-đề: Đây là điều sai lầm.
Điều mà gọi là phát tâm bồ-đề, chính là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, mà sau khi phát tâm bồ-đề thì còn phải thực hành Bồ-tát đạo.
Tâm bồ-đề có hai loại: Một là tâm bồ-đề của Tịnh độ môn, hai là tâm bồ-đề của Thánh đạo môn.
Tâm bồ-đề của Tịnh độ môn chính là niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc, tự nhiên sẽ đầy đủ tâm nguyện bồ-đề trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, thành tựu hạnh bồ-đề.
Tâm bồ-đề của Thánh đạo môn chính là nương vào chính mình phát tâm bồ-đề đời đời kiếp kiếp ở thế giới Ta-bà này, hành Bồ-tát đạo, thành tựu Phật đạo trong thế giới Ta-bà này.
Căn cứ theo tâm bồ-đề mà nói, tâm bồ-đề của Tịnh độ môn gọi là ‘Dị hành đạo’ rất dễ thành tựu, chỉ cần niệm Phật thì có thể thành tựu; tâm bồ-đề của Thánh đạo môn gọi là ‘Nan hành đạo’ thì chúng ta không thể làm được.
Tại sao làm không được? Tâm bồ-đề của Thánh đạo môn chính là ‘Tứ hoằng thệ nguyện’: ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện
ngộ đạo trở thành bậc thánh, gọi là Thử độ nhập thánh, đó là Thánh đạo mônthành’. Người tu theo Thánh đạo môn thông thường mỗi ngày đều phải nhớ niệm ‘Tứ hoằng thệ nguyện’để nhắc nhở và khích lệ bản thân mình. Nhưng thật tế mà nói, phần lớn chỉ là niệm niệm trên cái miệng mà thôi, đâu có thực hành một cách chân thật ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’?
Phát tâm bồ-đề thì cần phải hành Bồ-tát đạo, mà Bồ-tát đạo chính là việc ‘khó hành mà có thể hành, việc khó nhẫn mà có thể nhẫn, việc khó xả mà có thể xả’.
Hiện tại có người yêu cầu gan mình thì phải đem gan cho anh ấy, có người yêu cầu thận thì đem thận cho anh ấy, có người yêu cầu giác mạc của mắt, máu, đều phải dâng hiến cả, gặp thì phải làm, đây chính là ‘khó hành mà có thể hành, khó nhẫn mà có thể nhẫn, khó xả mà có thể xả’.
Những điều này có thể làm được không? Dù cho hiện tại có thuốc gây mê, hiến tặng những bộ phận trong cơ thể, có thể là không còn đau đớn lắm, hơn nữa nói đến lá gan, quyên tặng một phần thì nó có thể tái hồi phục lại, nhưng chúng ta vẫn làm không được: Đây chính là việc khó khăn của sự phát tâm bồ-đề, hành Bồ-tát đạo.
Hay là, nếu như có hai căn phòng bản thân mình ở một căn, căn khác thì phải bố thí cho người ta. Bên ngoài thì có người mắc nợ rất nhiều người, ngày ba bữa cơm không đủ, một khi phát tâm bồ-đề, hành Bồ-tát đạo, anh hôm nay hoặc cả đời này dùng bao nhiêu thì chỉ để lại bấy nhiêu, còn lại tất cả đều phải bố thí một cách vô điều kiện, đây mới là phát tâm bồ-đề, hành Bồ-tát đạo chân chính.
Thậm chí người khác muốn vợ của anh, con của anh, muốn có địa vị, tài sản của anh thì anh đều hiến dâng tất cả. Đức Phật từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay hành Bồ-tát đạo chính là làm như vậy, ở trong kinh điển nói rất rõ ràng.
Những điều này phàm phu chúng ta làm được không?
Chắc chắn là không làm được.
Tâm bồ-đề này và các hạnh Bồ-tát đều rất khó thực hành, nhưng người bình thường không chịu khó xét lại, cho rằng mình đang phát tâm bồ-đề, tu lục độ vạn hạnh, trì ngũ giới thập thiện, đó đều là không tự quán sát, không hiểu rõ bản thân.
Một người nếu hiểu rõ chính mình thì sẽ giống như Đại sư Thiện Đạo nói: Trước đây mình là một phàm phu tội ác trong sanh tử, thiện căn cạn mỏng, phiền não sâu nặng, lưu chuyển trong ba cõi, nương vào bản thân mình là không cách nào thoát khỏi ngôi nhà lửa này.
Nguyên nhân chúng sanh tin nhận bản nguyện của Phật Di-đà
- Nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà có hai:
- Bất luận tội nhiều hay ít, lúc tạo tội không khởi tâm nghi ngờ, tin biết rằng: Tạo tội như vậy, chắc chắn sẽ đọa vào địa ngục; nhưng vì niệm Phật mà nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà nên nhất định vãng sanh.
Nếu nương vào đạo lý nhân quả thì tạo tội nhất định sẽ rơi vào địa ngục; nhưng bởi vì niệm Phật nương vào nguyện lực của Phật, không những sẽ không đọa vào địa ngục, mà sẽ thoát khỏi lục đạo luân hồi, vãng sanh về thế giới Cực Lạc: Tin như vậy mới là tin chân thật, như vậy mới là niệm Phật, thật sự nương vào Phật.
‘Lúc tạo tội không khởi tâm nghi’, đây chẳng phải kêu chúng ta tạo tội, chúng ta không nên tạo tội, xưa nay là thân tạo tội. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta đều có tham sân si, đều có tâm tự tư tự lợi, khởi tâm động niệm đều coi mình là
chính, có lợi cho mình, tự nhiên ưu tiên chọn lựa, nếu có ai đó xung đột với mình thì tâm lý sẽ không thỏa mái, không hoan hỷ, sẽ tính toán, thậm chí tranh đấu với người, đây chính là ngã chấp, vì thế không cần phải nỗ lực làm, mà tự nhiên thân tạo tội.
- Bất luận phước nhiều hay ít, tuy có thiện đức đạo tâm, nhưng tin rằng không nương vào thiện đức đạo tâm này mà được vãng sanh, mà chỉ có nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà mới được vãng sanh.
Đây hoàn toàn nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà. Bất luận là phước đức của bản thân như thế nào cũng đều không nương vào, biết rằng phát tâm bồ-đề cũng tốt, làm thiện tích đức cũng tốt, chẳng phải đời này kiếp này mới như thế, mà đời đời kiếp kiếp đến nay chúng ta đều đã học Phật, làm thiện tích đức, cũng đã từng xuất gia, thâm nhập kinh tạng, thậm chí trở thành vị Đại đức cao tăng, chúng ta đều từng trải qua, vậy thì tại sao đến bây giờ vẫn còn luân hồi?
Bởi vì từ trước đến nay chưa từng thật sự nương tựa vào Đức Phật A-di-đà mà niệm Phật để vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Vì thế, tuy có đạo tâm và hạnh lành này, nhưng kết quả vẫn luân hồi như thường, do đó không đáng để nương tựa.
Di-đà cứu độ không bị chướng ngại
- Bất luận tội phước nhiều hay ít
Bất luận có tội hay không tội, có phước hay không có phước, chỉ cần niệm Phật thì đều được vãng sanh. Tội không nên làm nhưng cũng không phải sợ, chưa có tội nào mà có thể làm chướng ngại sức cứu độ của Phật A-di-đà Phước thì nên làm mà không thể cậy nhờ, chưa có phước nào mà có thể hơn công đức danh hiệu Phật A-di-đà cả.
Có nghĩa là, bất kể có tội hay không tội, bất kể có phước hay không có phước mà chỉ cần niệm Phật thì đều nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
‘Tội không nên làm, cũng không đáng sợ’: Tội thì chúng ta đương nhiên không thể làm, chẳng qua chúng ta đều là thân tội nghiệp, nhưng chỉ cần niệm Phật thì quyết định vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Vì thế, chúng ta tuy có tội nghiệp, nhưng không cần phải sợ hãi, lo âu hoài nghi Phật A-di-đà phải chăng có đủ năng lực cứu độ chúng ta. Sức cứu độ của Phật A-di-đà đối với chúng ta là mang tính tuyệt đối, không bị chướng ngại, tội của phàm phu chúng ta dù có lớn đến mấy cũng không làm chướng ngại sự cứu độ của Phật A-di-đà. Có nhân duyên gì mà Đức Phật A-di-đà ở cõi Cực Lạc được tôn xưng là Phật A-di-đà?
Kinh A-di-đà nói:
Ánh sáng vô lượng của Đức Phật A-di-đà chiếu khắp mười phương cõi nước không bị chướng ngại, thế nên hiệu là A-di-đà.
Ánh sáng của Phật A-di-đà chiếu khắp mười phương thế giới nhiếp thọ chúng sanh niệm Phật, không bị bất kì tội nghiệp nào dù lớn hay nhỏ của chúng sanh làm chướng ngại nên gọi là Phật A-di-đà, cũng gọi là Phật Vô Lượng Quang, Phật Vô Ngại Quang. Do đây có thể biết: Phật có năng lực cứu độ bất kể chúng sanh nào, cũng không bị bất kì sự chướng ngại nào, nên mới được tôn xưng là Phật A-di-đà. Người niệm Phật nên biết và tin đạo lý này.
‘Phước nên làm mà không thể cậy nhờ’: ‘Phước’ chính là thiện. Mọi người ở thế gian này phải tuân thủ tam cương ngũ thường, tứ duy bát đức, phải hiếu thuận phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu ngũ giới thập thiện, phải hòa thuận gần gũi hàng xóm, cứu giúp người nghèo khổ, điều có thể làm được thì gắng sức làm, trách nhiệm trên cương vị phải tận tâm hoàn thành, đây chính là thiện, chính là phước.
Nhưng đây không đáng để nương tựa, nếu đáng để nương tựa thì đời đời kiếp kiếp về trước chúng ta nhất định đã làm các điều phước thiện, đã được giải thoát từ lâu, tại sao hiện tại vẫn còn luân hồi? Đấy đều là các điều thiện tương đối, không phải là điều thiện chân thật, là điều thiện xen chất độc, điều thiện hữu lậu, cho nên không đáng để nương tựa.
Điều mà chúng ta có thể nương tựa là, chỉ có câu danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật, công đức của chúng ta tạo ở thế gian này dù cho rất lớn, nhưng đều không thể sánh bằng công đức danh hiệu bất tư nghị của Phật A-di-đà.
Cần nhấn mạnh rằng, bất kể thiện hạnh nhiều bao nhiêu cũng đều là thiện hữu lậu, đều là giả cả, chẳng phải là chân thật; đã chẳng phải chân thật thì cũng như không có. Thí dụ như vào một kho báu, trong kho báu ấy chứa đầy đô la mỹ, tiền trong kho báu đó nhiều hay không nhiều? Rất nhiều.
Nhưng nếu như những loại tiền đó đều là tiền giả thì sao? Thì nó không có giá trị, cũng như không có. Vì thế, nói trên phương diện tính tuyệt đối, tính cứu cánh thì điều thiện của chúng ta làm đều là điên đảo, hư giả cả, đều là thiện xen chất độc, thiện hữu lậu, cho nên không thể trở thành điều thiện giải thoát sanh tử luân hồi.
Chỉ có câu danh hiệu này mới là điều thiện chân thật, điều thiện tuyệt đối, điều thiện viên mãn, có thể khiến chúng ta nương vào đó vãng sanh về thế giới Cực Lạc mà thoát khỏi lục đạo luân hồi.
Người chuyên niệm Phật chính là thiện nam tử, thiện nữ nhân, bất kể thọ tam quy hay không thọ tam quy y, ăn chay hay không ăn chay, trì giới hay không trì giới, phát tâm bồ-đề hay không phát tâm bồ-đề, tu các công đức, nghiệp chướng nhẹ hay nặng, bất kể công đức nhiều hay ít, công phu sâu hay cạn, tâm thanh tịnh hay không thanh tịnh, tâm định hay bất định… đều không cần quan tâm, bởi vì chúng không có liên quan gì đến việc vãng sanh.
Thậm chí lúc lâm chung bị hôn mê cũng tốt, bệnh khổ niệm không được danh hiệu Phật cũng tốt, đều không cần để tâm làm gì, bởi vì đến lúc đó thì Đức Phật A-di-đà nhất định đến tiếp dẫn.
Cũng không cần hỏi: Hiện tại niệm Phật, nếu như gặp nạn xe, nạn trên không, nạn nước, nạn lửa…những tai nạn này mà đột nhiên chết, như vậy phải chăng có thể vãng sanh Cực Lạc không? Đương nhiên chắc chắn vãng sanh Cực Lạc. Trách nhiệm hiện tại của chúng ta là niệm Phật, còn trách nhiệm của Phật A-di-đà là lúc chúng ta lâm chung Ngài đến tiếp dẫn.
Lúc nào chúng ta lâm chung, lâm chung ở đâu, lâm chung trong tình cảnh nào, Phật A-di-đà đều biết cả, cho nên tiếp dẫn vãng sanh lúc chúng ta lâm chung là công việc của Đức Phật A-di-đà, nên chúng ta không cần phải lo cho Đức Phật, cũng chẳng cần phải trợ giúp Đức Phật. Phật không cần chúng ta giúp đỡ, chúng ta cũng không có năng lực gì để giúp đỡ, chúng ta chỉ cần chân thành niệm Phật là được rồi.
Phá đi sự sai lầm tà tín
Cần nói thêm một điều nữa, có người nói ‘bất kể thiện hay là ác, Đức Phật A-di-đà đều sẽ cứu độ như nhau, cho nên tội ác cũng không cần phải sợ, thiện phước cũng không cần phải tu. Nếu sợ tội, nhất định sẽ tu thiện, điều này chứng tỏ không tin tưởng sự cứu độ của Phật A-di-đà’. Suy nghĩ này đúng không? Không đúng! Đây là tà tri tà kiến.
Bởi vì loại tà tín này làm tăng thêm sự giải đãi của mình, càng tăng thêm tội nghiệp của chính mình, mà còn bảo người phỉ báng pháp môn Tịnh Độ, phỉ báng người niệm Phật, làm người ta hiểu lầm rằng Phật A-di-đà dung túng người ác; đồng thời, đây còn là luận về tội phước, cho rằng tu phước là sai, tạo tội là đúng. Loại sai lầm tà tín này lại càng nặng hơn tội trước.
Đại sư Thiện Đạo nói:
“Bất luận tội phước”, cũng là phá trừ đi loại tà tri tà kiến này.
Suốt đời thọ mạng xưng danh không giải đãi
- Thời gian lâu hay gần
‘Thời cơ lúc bình sanh, trên suốt cả một đời; thời cơ lúc lâm chung, dưới đến mười tiếng’, cho đến niệm Phật ‘một tiếng, một niệm’.
Đoạn văn này giải thích ‘hoặc một ngày… hoặc bảy ngày’. ‘Hoặc’ là từ bất định, và giống như ý nghĩa của ‘nãi chí’. Cho đến một ngày, cho đến bảy ngày, cho đến bảy năm, cho đến bảy mươi năm, đây chính là ‘thời cơ lúc bình sanh’, nếu như hiện tại gặp được pháp môn này thì suốt đời phải niệm Phật; ‘thời cơ lúc lâm chung’ là hiện tại đã nằm trên giường bệnh chỉ còn lại mười hơi thở, chỉ có thể niệm mười tiếng, thậm chí chỉ có thể niệm một tiếng hoặc khởi lên bằng ý, tùy theo hoàn cảnh mà chúng sanh niệm Phật, đây chính là ý nghĩa hoặc một ngày, hoặc một tiếng, hoặc một niệm.
- Niệm Phật dài hay ngắn
Văn ‘niệm Phật dài hay ngắn’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (Đại sư Thiện Đạo toàn tập, trang 263) nói: “Trên suốt một đời, dưới đến một ngày, một giờ, một niệm…; hoặc từ một niệm, mười niệm, cho đến một giờ, một ngày, một đời”.
Đại ý: Một khi phát tâm thì nguyện suốt đời này, không có thoái chuyển, chỉ lấy Tịnh độ làm kỳ hạn.
Đoạn văn này cũng giải thích ‘hoặc một ngày…hoặc bảy ngày’ trong kinh A-di-đà, đồng thời cũng giải thích ‘cho đến mười niệm’ của lời nguyện thứ mười tám đã nói trong kinh Vô Lượng Thọ, và ‘cho đến một niệm’ của văn thành tựu và văn lưu thông đã nói. ‘Một niệm’ này, nói theo phương diện người lúc lâm chung thì khi sắp mạng chung mới gặp được pháp này.
Nếu như lúc bình sanh gặp được pháp này, từ lúc họ gặp được mới bắt đầu niệm Phật, một đời không bao giờ thay đổi, không thoái chuyển, mãi đến khi vãng sanh về Tịnh độ Di-đà.
Người học Phật nên làm thiện tích đức, đây là bổn phận; nhưng chẳng phải dùng thiện đức này để làm điều kiện vãng sanh, hoặc dùng thiện đức này để trợ giúp sự cứu độ của Phật A-di-đà đối với chúng ta, Phật A-di-đà không cần chúng ta trợ giúp.
Vì thế, niệm Phật chính là niệm Phật, không cần phải thêm trợ giúp, không cần phải thêm gia vị khác vào nữa, bất kể là thiện hay ác, là tịnh hay uế, là tin hay nghi, là lâm chung hay không, chỉ cần chân thành niệm Phật, nhân như thế thì tự nhiên được quả như vậy.
Nếu như cho rằng ngoài niệm Phật ra còn phải tu các thiện hạnh khác, hoặc các pháp môn khác để trợ giúp sự cứu độ của Đức Phật A-di-đà, thì mới được vãng sanh, mới dễ vãng sanh, đó chính là sanh tâm hoài nghi Đức Phật A-di-đà. Nếu có tâm nguyện sanh thì tuy hoài nghi mà cũng được vãng sanh, nhưng trong kinh Vô Lượng Thọ nói: “Có tâm nghi thì sẽ vãng sanh vào trong bào thai hoa sen, năm trăm năm không thể thấy nghe được Tam bảo”.
Điểm này cần phải chú ý.
Một câu chuyện để minh chứng
Tôi kể một câu chuyên có liên quan đến ‘bất luận là tội hay phước niệm Phật đều được vãng sanh’.
Năm Dân Quốc thứ 42 (1953), có bà Lại ở tại Tân Trang, Đẩu Lục, Đài Loan. Bà ấy không biết chữ, thật thà, tuy trong nhà có tiền nhưng vợ chồng sống lâu nhiều năm mà cảm thấy không được hòa thuận, trong lòng luôn phiền muộn không vui, chỉ có thể nhân lúc chồng rảnh rỗi ra
ngoài, bà xếp đặt một cái bàn nhỏ ở trong sân, cúng một ly nước trong, tay cầm ba cây nhang đối trước giữa trời lễ bái niệm Phật. Đầu tiên khởi xưng niệm ‘Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát’, mãi đến khi đứa con gái thiết nơi an trí Phật, khuyên bà ấy chuyên nhất niệm Phật, bà ấy mới đổi thành chuyên nhất xưng niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’.
Con gái của bà Lại từng do thân thể không khỏe nên mới phát tâm đến hang núi Phước Sơn, Mai Lâm, huyện Vân Lâm nấu ăn ba năm. Sau ba năm quả thật thân thể không uống thuốc mà tự khỏi, về nhà liền thiết nơi thờ Phật.
Trước khi bà cụ vãng sanh nói với con gái rằng: “Mẹ còn ba tháng nữa thì vãng sanh rồi”. Con gái khuyên bà rằng: “Không nói những chuyện không vui như vậy. Đừng quan tâm chuyện của ba, chỉ siêng năng niệm Phật là được rồi’.
Sau ba tháng, Lão Bồ-tát lại nói với con gái: “Ta sắp vãng sanh rồi”, và nói: “Cha con sống thêm ba năm nữa” (quả thật, ông Lại ba năm sau thì qua đời), nói xong, quét nhà rất sạch sẽ, và ra ngoài mua gỗ đàn hương đem về nhà nấu nước tắm gội, thay áo quần sạch sẽ, vén búi tóc đẹp, sau khi ăn xong bữa tối thì đi ngủ.
Hôm sau, con dâu phát hiện mẹ chồng ngủ không thức dậy, mới đến trước thì thấy mẹ chồng đang nằm ngủ say theo kiểu cát tường, nên không dám kêu. Mãi đến mười giờ trưa, con dâu cảm thấy mẹ không trả lời, nên đến trước xem lại lần nữa thì mới biết mẹ sớm đã vãng sanh.
Do chịu sự ảnh hưởng từ sự vãng sanh thù thắng như vậy, nên hai đứa cháu gái và cháu ngoại của Lão Bồ-tát đều xuất gia.
Bà Lại sống vào năm Dân Quốc thứ 40 (1951), bà không được học hành, không biết chữ, nhưng lúc đó cũng rất ít có pháp sư giảng kinh thuyết pháp, giảng kinh trên truyền hình lại càng ít, cho nên cũng ít có cơ hội nghe kinh nghe pháp, vì thế bà cũng không hiểu rõ giáo lý Phật pháp cho lắm; nhưng bà chỉ nương vào câu ‘trên suốt một trăm năm, dưới đến một ngày, bảy ngày, nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’ của Đại sư Thiện Đạo nói, mà bà ấy đã biết thời gian vãng sanh trước ba tháng .
Từ bối cảnh văn hóa hoặc điều kiện khác mà nói thì, bà Lại này có thể nói là không bằng chúng ta; nhưng việc vãng sanh thù thắng của bà ấy thì chưa hẳn chúng ta có thể làm được. Nếu chúng ta muốn giống bà ấy thì cần phải như Đại sư Thiện Đạo nói ‘Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’, hơn nữa dốc lòng ‘không tranh với mọi người, không cầu gì trong thế gian này, trong tâm giữ cho được nhẹ nhàng bình tĩnh’.
Biết thời gian vãng sanh trước ba tháng, trước đó bà tắm rửa thân thể sạch sẽ, thay y phục tốt nằm trên giường đợi Phật đến tiếp dẫn, không đợi bạn hữu đến trợ niệm, mà còn vẫn biết người khác (chồng bà) chỉ có thể sống thêm được ba năm nữa. Điều mong mỏi sau cùng của hàng cao tăng Đại đức đại khái cũng như vậy mà thôi.
Chúc tất cả mọi người một lòng niệm Phật, đồng sanh Cực Lạc.
Nam-mô A-di-đà Phật!
Phần phụ–Giảng nghĩa
Bất luận tội hay phước niệm Phật
đều được vãng sanh
Văn ‘bất luận tội hay phước’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (Đại sư Thiện Đạo toàn tập, trang 250) nói: “Tất cả phàm phu bất luận tội phước nhiều hay ít, thời gian lâu hay gần, trên suốt một trăm năm, dưới đến một ngày, hoặc bảy ngày, một lòng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì nhất định vãng sanh, chắc chắn không hoài nghi!”.
Văn ‘chánh định nghiệp’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (Đại sư Thiện Đạo toàn tập, trang 250) nói: “Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, bốn uy nghi đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận thời gian lâu hay gần, mỗi niệm không bỏ, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà”.
- Tất cả phàm phu— kinh A-di-đà nói: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân” . Đây chỉ cho phàm phu ở đời ác ngũ trược, nương vào công đức niệm Phật thì Phật liền khen rằng ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân’. Như phần Hạ phẩm hạ sanh trong Quán kinh nói: “Thiện nam tử (người này làm nhiều các pháp ác mà không biết hổ thẹn), vì ông xưng danh hiệu Phật A-di-đà nên các tội tiêu diệt, Ta đến tiếp dẫn ông”.
Tội phước nhiều hay ít— chúng sanh ngũ trược có người ‘phước nhiều tội ít’, có người ‘phước ít tội nhiều’, có người ‘tội phước đều nhiều’, có người ‘tội phước đều ít’, có người ‘chỉ có tội mà không có phước’, không có người nào ‘chỉ có phước mà không có tội’. Tại sao vậy? Bởi vì lúc đời ác ngũ trược, thế giới ác, chúng sanh ác.- 3. Bất luận— trong tâm có điều nghi rằng ‘vấn’, ‘bất vấn’ trái với nhau.
- 4. Không nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà có hai:
- Luận về tội nhiều hay ít, lúc tạo tội khởi tâm nghi ngờ mà thoái tâm. Cho rằng thân tạo tội ác như vậy tuy niệm Phật nhưng chưa chắc vãng sanh.
- Luận về phước nhiều hay ít, cho rằng vì niệm Phật mà phát tâm bồ-đề, tu các công đức thì vãng sanh chắc chắn; nếu không có thiện hạnh phát tâm bồ-đề thì tuy niệm Phật vãng sanh cũng bất định. Lấy phát tâm bồ-đề làm hàng đầu, Phật lực làm hàng thứ.
- 5. Nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà có hai:
- Bất luận tội nhiều hay ít, lúc tạo tội không khởi tâm nghi ngờ, tin rằng: Tạo tội như vậy thì chắc chắn đọa vào địa ngục; nhưng vì nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà thì nhất định được vãng sanh.
- Bất luận phước nhiều hay ít, tuy có thiện đức phát tâm bồ-đề, nhưng tin rằng không nương vào thiện đức phát tâm bồ-đề này mà được vãng sanh, chỉ nương vào nguyện lực của Phật A-di-đà mà được vãng sanh.
- 6. Bất luận tội phước nhiều hay ít, bất luận có tội hay không có tội, có phước hay không có phước, chỉ cần niệm Phật thì đều được vãng sanh. Tội không nên làm nhưng cũng không phải sợ, chưa có tội nào mà có thể làm chướng ngại sức cứu độ của Phật A-di-đà; phước thì nên làm nhưng không thể ỷ lại, chưa có phước nào có thể hơn công đức danh hiệu Phật A-di-đà cả.
- Thời gian lâu hay gần, ‘thời cơ lúc bình sanh, trên suốt cả đời; thời cơ lúc lâm chung, dưới đến mười tiếng’, cho đến niệm Phật ‘một tiếng, một niệm’.
- Văn ‘niệm Phật dài hay ngắn’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo (Đại sư Thiện Đạo toàn tập, trang 263) nói:
“Trên suốt một đời, dưới đến một ngày, một giờ, một niệm…; hoặc từ một niệm, mười niệm, cho đến một giờ, một ngày, một đời”.
Đại ý: Sau khi phát tâm thì thệ nguyện suốt đời này, không có thoái chuyển, chỉ lấy Tịnh độ làm kỳ hạn.
Kinh A-di-đà nói: “Chấp trì danh hiệu” tức là ‘Đa thiện căn phước đức’ (lấy ý).
Quán kinh nói: “Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ”.
Không tin sự cứu độ của Phật A-di-đà là điều ác trong tất cả điều ác; tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà là điều thiện trong tất cả điều thiện.
Ngũ nghịch,thập ác dĩ nhiên là cực ác, nhưng tin Phật A-di-đà khi lâm chung chắc chắn được cứu độ; ngũ giới thập thiện tất nhiên là đại thiện, nhưng hoài nghi Phật A-di-đà thì khó mà thoát khỏi đọa lạc.
Không có điều thiện nào có thể hơn điều thiện tin được Phật A-di-đà cứu độ, và cũng không có tội nào hơn cái tội không tin Phật A-di-đà cứu độ cả.
Sáu chữ vạn đức hồng danh là diệu thể của lục độ vạn hạnh; xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà là kết tinh của Hằng sa công đức.
Người tin thì được cứu, vì niệm Phật rất dễ dàng, là thù thắng, vì thuận theo bản nguyện Phật A-di-đà.
Tuy là người ác, nhưng tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà thì cũng hơn người đại thiện ở thế gian.
Nguyện vãng sanh và xưng danh không những không luân hồi mà trái lại còn được thành Phật.
Trích Sách Bản Nguyện Niệm Phật
Thích MinhTuệ


