15.Nhân gian đau khổ sợ hãi rất nhiều
Hàng chúng sanh như chúng ta sợ hãi đủ điều. Chúng ta đều sợ già đi, không có người nào mà không sợ già, nhất
là những người có tuổi tác lớn. Một người già yếu, nhìn nghe không tốt, hành động không tiện, ăn không ngon, ngủ không yên, cái này không được, cái kia không xong, răng đau nhức, bệnh dạ dày, bệnh tim, bệnh thận, bệnh gan… đều do tuổi già sức yếu phát ra. Bởi vì tuổi già thì các bộ phận trong cơ thể bị thoái hóa, cho nên dễ sanh bệnh, mọi người đều sợ hãi. Ngoài ra, cầu không được cũng sợ, oán ghét mà gặp cũng sợ, đặc biệt là thương yêu nhau mà lìa nhau lại càng sợ hơn, nhưng cái sợ nhất chính là cái chết của chính mình, khổ do đời nay, lại tiến vào một cái khổ càng dài dài, lại làm cho người sợ hãi.
Tất cả những sự sợ hãi của chúng ta không phải chỉ có một cái sợ mà thôi, mà tất cả đều sợ cả, Phật A-di-đà đều muốn cho chúng ta được an tâm, không chỉ là ‘an’ thôi, mà là muốn cho chúng ta được ‘an lạc’, tâm an lạc, rất hoan hỉ, rất an ổn, rất đầy đủ: Đây chính là ‘làm cho tất cả người sợ hãi đều được an lạc’.
Nhiều thứ sợ hãi giống như một cây có rễ, có thân, có cành, có lá, cây này nếu là cây có độc, thì từ rễ và thân cây đến cành và lá đều là có độc. Ngày nay chúng ta ngắt lá, ngày mai chặt cành, như vậy có thể giải quyết triệt để vấn đề không? Không thể. Chỉ khi nào chúng ta nhổ sạch gốc rễ mới có thể giải quyết triệt để.
Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói đời người là khổ, hơn nữa biển khổ vô biên: Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, ái biệt ly là khổ, oán tắng hội là khổ, cầu bất đắc là khổ, ngũ ấm xí thạnh là khổ, những thứ này đều là khổ cả, nhưng cái khổ căn bản chính là khổ trong sáu nẻo luân hồi.
Nếu có thể trừ được cái khổ trong sáu nẻo luân hồi, thì những thứ khổ khác tuy tạm thời vẫn còn, nhưng chúng không kéo dài được, bởi vì rễ đã chặt đứt rồi. Thí như rễ cây đã chặt đứt, tuy trước mắt cành và lá vẫn chưa khô, nhưng không bao lâu thì hoàn toàn khô hết.
Cũng như chúng ta hiện tại vẫn chưa lâm chung, nhưng việc lớn sanh tử luân hồi này nếu có thể giải quyết, thì cũng như rễ cây đã bị chặt đi, như vậy dù cho quả báo của chúng ta đời nay vẫn chưa hết, mà thể xác vẫn còn ở thế gian, vẫn còn phiền não, còn khổ, nhưng trải qua thời gian không lâu, nhiều nhất khoảng mấy mươi năm mà thôi, quả báo tạm thời nếu chấm dứt, thì tự nhiên bỏ Ta-bà vãng sanh Cực Lạc.
Chúng ta ở thế gian này, sống với cha mẹ vợ con cũng tốt, sống với người khác cũng tốt, thậm chí buôn bán kiếm tiền hay không kiếm tiền, tất cả đều là nhân duyên. Nếu có duyên thì đến lúc sẽ gặp. Nếu không có duyên thì tìm cầu thế nào cũng không thể được.
Vì thế, lúc duyên hết thì tự nhiên lìa thế gian, nếu như trả nghiệp chưa xong thì không thể lìa được. Có rất nhiều người già bệnh khổ nằm trên giường thời gian lâu, thậm chí trở thành người thực vật, muốn chết mà chết không được, chính là vì chưa trả xong gánh nợ cuộc đời này.
Như vậy phải làm sao đây? Nên lấy tài vật của anh ấy mà bố thí. Bố thí tất cả những đồ đạc đó rồi, đợi đến khi trả xong món nợ này, thì anh ta có thể lìa thế gian. Hơn nữa, thay anh ta bố thí có thể làm nhẹ đi nghiệp của anh ta. Nếu không làm như vậy mà đợi đến khi duyên của anh ta hết, mà chưa bố thí thì anh ta sẽ đọa lạc.
Nói theo pháp môn niệm Phật của chúng ta thì niệm Phật cho anh ta, đứng bên cạnh anh ấy mà khai thị đạo lý từ bi cứu độ của Phật A-di-đà, khiến cho trong tâm anh ta niệm Phật nguyện sanh về Cực Lạc.
Một người hôn mê, chúng ta không nên nghĩ rằng anh ta không biết gì cả, thực ra anh ấy vẫn còn linh giác. Đặc biệt là lúc hoàn toàn hôn mê, xác thân tuy hôn mê nhưng thần thức sẽ hiện ra, ra vào không cần đi qua cổng chính, mà đi xuyên qua cả vách tường, anh ta nhìn trên lầu dưới lầu, không cần phải ngẩng đầu nhìn hoặc cúi đầu dòm xuống, hơn nữa chúng ta không nên nói năng, vừa khởi tâm động niệm thì anh ta biết liền.
Vì thế, đối với người hôn mê thì phải ở bên cạnh mà khai thị đạo lý niệm Phật thì chắc chắn được vãng sanh, khiến cho anh ta niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Chư Phật chứng thành
Chắc chắn không nghi!
Bốn chữ này là chỉ cho sự chứng minh của chư Phật trong mười phương, chứng minh lời nói chân thật của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, không hư dối, chúng sanh nên tin tưởng, không phải hoài nghi! Căn cứ vào việc làm như vậy, thì tự nhiên có được sự lợi ích lớn của việc vãng sanh.
Đoạn văn này Đại sư Thiện Đạo giải thích về tính chủ yếu của kinh A-di-đà rất rõ ràng.
Tiếp theo căn cứ vào văn ‘bất vấn tội phước’ để giải thích.
Bất luận tội hay phước niệm Phật đều được vãng sanh
- Tất cả hàng phàm phu
Kinh A-di-đà nói: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân!”.
Kinh này chỉ cho hàng phàm phu ở đời ác năm trược nương vào công đức niệm Phật thì Phật liền khen rằng ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân’.
Như phần ‘Hạ phẩm hạ sanh’ trong Quán kinh nói: “Thiện nam tử (người này làm nhiều các pháp ác mà không biết hổ thẹn), vì ông xưng danh hiệu Phật A-di-đà nên các tội đều tiêu diệt, Ta đến tiếp dẫn ông”.
Kinh A-di-đà nói: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân”. Bản chất của họ chính là hàng phàm phu, nếu là hàng phàm phu thì nhất định có vô minh, phiền não, tội nghiệp. Phàm phu ở thế gian này chẳng phải là phàm phu thiện mà chính là phàm phu ác, nhưng hàng phàm phu ác tương đối nhiều.
Đã là phàm phu ác thì tại sao Đức Phật khen ngợi họ là thiện nam tử, thiện nữ nhân? Bởi vì họ biết niệm Phật, là người niệm Phật, cho nên Đức Phật mới khen ngợi họ là thiện nam tử, thiện nữ nhân. Giống như chúng sanh ở phần Hạ phẩm hạ sanh trong Quán kinh, một đời không có học Phật cũng không làm thiện, chỉ biết làm toàn các pháp ác, không biết hổ thẹn.
Nếu như họ tin tưởng Phật pháp thì sẽ có tâm hổ thẹn. Còn nếu như có lễ nghi liêm sỉ thì cũng có tâm biết hổ thẹn. Nhưng họ không có các điều thiện về lễ nghi, liêm sỉ ở thế gian, cũng không có quan niệm về nhân quả báo ứng và việc làm thiện của Phật pháp, cho nên mới làm nhiều điều ác như vậy, đến nỗi họ vẫn không biết tâm hổ thẹn.
Người như vậy thì lúc sắp mạng chung gặp vị thiện tri thức đến khai thị cho họ, dạy họ niệm Phật, họ chỉ cần niệm một câu liền tắt hơi thở, thì vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Phật liền khen rằng: Ông chính là người thiện nam tử! Nhờ ông niệm Phật mà nghiệp đã tạo trong một đời đã tiêu trừ nên Ta đích thân đến tiếp dẫn ông.
Gặp duyên có khác nên có chín phẩm
Nếu luận về chúng sanh ở đời ác năm trược trong thế giới Ta-bà của chúng ta đây, thì có thể nói là không có một người thiện nào cả, tại sao? Bởi vì từ tướng bên ngoài xem ra thì mỗi người đều khác nhau, có người xuất gia, có kẻ tại gia, cũng có người tu thân dưỡng tính, cũng có người làm thiện tích đức, cũng có người một đời làm ác không biết hổ thẹn. Nhưng nói trên phương diện bản tính thì toàn bộ đều là giống nhau, cái gọi là ‘tướng căn cơ thì có khác, mà tính căn cơ thì giống nhau’.
Giống nhau thế nào? Chúng sanh trong đời ác năm trược đều là nghiệp chướng sâu nặng, tham sân dữ dội, nên mới đầu thai vào thế giới Ta-bà này, đây chính là ‘vật tụ theo loài, người phân theo nhóm’. Vì thế, luận về bản tính phàm phu của chúng ta đều là giống nhau cả, cho nên có tướng bề ngoài khác nhau, đây do vì căn duyên của mỗi người khác nhau. Thế nên, phần Huyền nghĩa trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo nói: “Gặp duyên có sai khác, nên chín phẩm có khác nhau”.
Trong Quán kinh lấy căn cơ chúng sanh chia làm chín loại, có căn cơ Thượng phẩm, căn cơ Trung phẩm, căn cơ Hạ phẩm. Vì thế, biết có căn cơ khác nhau nên
Đại sư Thiện Đạo nói:
Đây là bởi vì gặp duyên có khác nhau, gặp duyên Đại thừa thì học pháp Đại thừa, chính là căn cơ Thượng phẩm thượng sanh, hoặc là căn cơ Thượng phẩm trung sanh, hoặc là căn cơ Thượng phẩm hạ sanh, nhưng họ vẫn là phàm phu tội ác trong sanh tử; gặp được pháp Tiểu thừa thì chính là căn cơ Trung phẩm thượng sanh hoặc Trung phẩm trung sanh; Trung phẩm hạ sanh thì không gặp được Phật pháp, nhưng cái duyên mà họ gặp là đạo đức luân lý của Nho gia, cái gọi là ‘giảng nhân nghĩa, nói đạo đức’, nhưng bản chất của họ giống nhau là hàng phàm phu tội ác trong sanh tử; hàng phàm phu Hạ phẩm gặp duyên ác, khiến cho một đời của họ tạo nhiều tội nghiệp mà không có tâm hổ thẹn.
Vì thế, tuy gặp duyên khác nhau, có người gặp pháp Đại thừa, có người học pháp Tiểu thừa, có người gặp được thế gian thiện, cũng nương vào duyên này mà học tập, nhưng vẫn là phàm phu tội ác trong sanh tử, và hoàn toàn không đoạn trừ được phiền não.
Trái lại mà nói thì hàng phàm phu học pháp Đại thừa, nếu như ban đầu không gặp được duyên Đại thừa, mà gặp duyên ác, vậy thì họ chính là phàm phu Hạ phẩm tạo tội mà không biết hổ thẹn. Phàm phu Hạ phẩm nếu như ban đầu gặp được pháp Đại thừa, vậy thì họ chính là phàm phu Thượng phẩm phát tâm bồ-đề tu học Đại thừa.
Vì thế, Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Gặp duyên có sai khác, nên chín phẩm có khác nhau”.
Sở dĩ, tướng bên ngoài có sai biệt, là bởi vì duyên có khác nhau nên tướng bên ngoài cũng khác nhau. Nhưng trong chín phẩm, bản tính nội tại mỗi một phẩm, mỗi một chúng sanh đều không có sai biệt, giống như có đầy đủ phiền não, đầy đủ tham sân si, mạn, nghi, tuy có nhẹ có nặng nhưng cũng đều không thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, tất cả đều y như vậy.
Đặc biệt, lúc họ hoặc đọa lạc thì căn bản không cách nào gặp được pháp Đại thừa, pháp Tiểu thừa và việc thiện ở thế gian .
Vì thế, Đại sư Thiện Đạo có nói về thiện ác mang tính ‘tuyệt đối’, cũng có nói thiện ác mang tính ‘tương đối’.
Điều thiện của tính tương đối thì có điều thiện của pháp luật trong xã hội, nếu như tuân theo pháp luật thì chính là người thiện của xã hội này, cũng có điều thiện trong luân lý đạo đức. Đây đều là điều thiện của thế gian.
Nếu như trì năm giới, hành mười điều thiện, thì đó là điều thiện của Phật pháp. Nhưng bất kể là điều thiện trong pháp luật, điều thiện trong nhân luân, điều thiện trong đạo đức, hay là năm giới, mười giới, đấy đều là điều thiện tương đối, chẳng phải là điều thiện tuyệt đối.
Điều thiện tương đối chính là: Họ còn có phiền não, có phiền não thì gọi là ‘thiện hữu lậu’, bởi vì bên trong có phiền não, cho nên cũng gọi là điều thiện xen ác, xen chất độc.
Thế nào là điều thiện tuyệt đối? Điều thiện tuyệt đối chính là không còn phiền não, không còn tham sân si. Điều thiện tuyệt đối này có thể thoát khỏi luân hồi trong ba cõi sáu đường.
Nhưng điều thiện tương đối, thì bất luận thế nào đi nữa cũng đều bị luân hồi ở trong ba cõi sáu đường. Dù cho mười điều thiện viên mãn, cao nhất thì cũng sanh lên cõi trời mà thôi, nhưng cõi trời cũng là hàng phàm phu, vẫn còn phải luân hồi trong sanh tử.
Vì thế, điều thiện này là không cứu cánh cũng không viên mãn. Điều thiện này chẳng phải là điều thiện tuyệt đối mà chỉ là điều thiện tương đối, là điều thiện giả lập, chẳng phải là điều thiện chân thật.
Luận về thế giới Ta-bà của chúng ta đây thì có nói lục đạo, cũng có nói về ngũ đạo (a-tu-la quy nạp về súc sanh đạo, ngạ quỉ đạo), năm đường cũng gọi là (năm đường ác), tại sao gọi là năm đường ác? Thông thường mà nói thì địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh là ba đường ác, trời, a-tu-la và người là ba đường thiện. Đây là nói tương đối. Nói tuyệt đối thì, năm đường đều là ác đạo cả.
Kinh Vô Lượng Thọ có một câu ‘cắt ngang năm đường ác’, cũng chính là nói chỉ cần niệm Phật thì có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, vượt ngang, cắt ngang năm đường ác, rõ ràng nói sáu nẻo luân hồi đều là ác đạo.
Đại sư Đạo Xước giải thích: “Năm đường trong cõi Ta-bà đều gọi là đường ác. Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh thuộc về thuần ác, nên gọi là đường ác; trời, người ở cõi Ta-bà thuộc về nghiệp tạp nhiễm, nên cũng gọi là đường ác”.
Đời ác năm trược ở thế giới Ta-bà, bất luận năm đường hay sáu nẻo, cũng đều gọi là ác đạo. Đương nhiên, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh thuần là ác, cho nên mới rơi vào ba đường ác; cõi người cũng tốt, cõi trời cũng tốt, tuy có thiện nhưng xen lẫn ác ở trong đây, cho nên cũng gọi là ác đạo.
Vì thế, nói về điều thiện tuyệt đối thì ba cõi sáu đường đều gọi là ác đạo. Điều thiện của chúng sanh làm ở trong sáu đường đều là điều thiện hữu lậu, thiện xen lẫn chất độc, đây chẳng phải là điều thiện thanh tịnh, cũng chẳng phải là điều thiện cứu cánh tuyệt đối.
Trong Vãng sanh luận chú của ngài Đàm Loan nói:
“Các điều thiện của phàm phu trời người, quả báo trời người, hoặc nhân hoặc quả, đều là điên đảo, đều là hư ngụy, thế nên gọi là công đức không chân thật”.
Có nghĩa là, bất luận là tu nhân năm giới, mười giới, được quả cõi người, cõi trời đều là điên đảo cả, đều là hư vọng cả, chẳng phải là công đức chân thật. Cũng chính vì vậy mà trong kinh Niết-bàn Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói:
Tuy lại được thọ thân Phạm thiên, cho đến cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng, lúc sắp mạng chung vẫn đọa vào trong ba đường ác.
Tuy thành tựu ngũ giới thập thiện, cho đến công phu thiền định cao, có thể sanh lên cõi trời Sơ thiền, thậm chí cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng, tuy cảnh giới rất cao và thọ mạng rất dài, nhưng vẫn không thoát khỏi ba đường ác, thọ mạng vừa hết, thì dễ rơi vào ba đường ác.
Trong kinh Chánh pháp niệm xứ Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói:
Từ cõi trời vào địa ngục, từ nơi địa ngục lại sanh lên trời.
Cõi trời là cõi rất cao trong sáu đường, địa ngục là chỗ rất thấp trong sáu nẻo, nhưng thời gian vừa đến thì sinh mạng cũng vừa hết, quả báo vừa đến nếu phải đọa vào địa ngục, thì dĩ nhiên phải rơi vào địa ngục, nếu được sanh lên trời thì sẽ được sanh lên trời, lưu chuyển qua lại trong ba cõi, cho nên gọi là luân hồi trong sáu nẻo.
Hơn nữa cho thấy rằng, thiện và ác, thiên đường và địa ngục, tợ như không có sai biệt. Nếu người nào lìa được sáu nẻo thì họ vĩnh viễn được tự do, nếu như vẫn chưa lìa được sáu đường, thì chẳng qua là sanh lên cõi trời hoặc vào nhân gian hít thở bầu không khí trong lành mà thôi.
Tựa như bị nhốt trong nhà giam, nhà giam thì rất nhỏ, mỗi tuần có mấy lần ra ngoài dạo chơi. Luân hồi trong sáu nẻo thì giống như nhà giam lớn, ba đường ác là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, bị giam trong nhà ngục, chỉ là phạm vi rất nhỏ; trời, người thì giống như ra ngoài hóng mát, mà hóng mát xong lại trở vào nhà giam, cho nên cõi trời cũng là ác đạo, chẳng phải cứu cánh.
Điều thiện ở thế gian không cứu cánh, điều thiện ở thế gian cũng gọi là ‘tam thế oán’. Thí như một vị cao tăng trong tông Tịnh Độ là Đại sư Hành Sách nói: “Người tu hành nếu không chánh tín cầu sanh Tây Phương, tu các điều thiện nên gọi là thế oán thứ ba”
Có nghĩa là nói, một vị tu hành, đời nay hành thiện tích đức, nhưng không biết cầu sanh về thế giới Cực Lạc, cái nhân thiện như vậy sẽ được làm người trở lại hoặc được quả báo sanh lên cõi trời hưởng lạc; nhưng ở trong sự hưởng lạc này dễ tạo tội, quả báo nếu hết thì sẽ đọa lạc như thường, cho nên gọi là ‘thế oán thứ ba’.
Đại sư Ấn Quang nói: “Nghiệp thiện ở thế gian không thoát khỏi luân hồi. Nếu so với tịnh nghiệp vãng sanh đầy
đủ tín nguyện thì thiện nghiệp kia vẫn thuộc về ác nghiệp”.
Ý nghĩa này giống với điều được nói ở phần trước: Nếu như không so sánh, chỉ căn cứ vào tính tương đối mà nói thì đó là thiện; nhưng để so sánh với tính tuyệt đối thì chẳng phải là thiện, mà là ác.
Niệm Phật là điều thiện tuyệt đối
Nếu nói về niệm Phật, thì niệm Phật chẳng phải là điều thiện tương đối, mà là điều thiện tuyệt đối; chẳng phải là điều thiện hư giả mà là điều thiện chân chính. Vì thế, chỉ cần niệm Phật thì Phật khen ngợi chúng ta là thiện nam tử, thiện nữ nhân; không chỉ là thiện nam tử, thiện nữ nhân bình thường mà là ‘hoa Phân-đà-lợi’.
Trong Quán kinh, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni rất mực khen ngợi người niệm Phật là:
Nếu người niệm Phật thì phải biết người này chính là hoa Phân-đà-lợi trong loài người; Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí là bạn tốt của người ấy, sẽ ngồi nơi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật.
‘Hoa Phân-đà-lợi’ là dùng để khen ngợi Phật, bởi vì ở thế gian này chỉ có Phật mới là bậc thanh tịnh tuyệt đối. Thí như hoa sen mọc từ đất bùn mà không bị nhiễm ô, Đức Phật ở trong đời ác năm trược không bị nhiễm, mà có thể được gọi là ‘hoa Phân-đà-lợi’.
Nhưng chúng ta là chúng sanh ở trong đời ác năm trược, thân vẫn ở trong đời ác năm trược này, trong tâm còn có kiến trược, phiền não trược, có nhiều thứ nhiễm ô; nhưng Đức Phật Thích-ca-mâu-ni lấy ‘hoa Phân-đà-lợi’ để khen ngợi chúng ta.
Đây chẳng phải là nói tâm của chúng ta đã thanh tịnh, qua đời này đến đời sau thì sẽ ở cõi Cực Lạc, nhưng thế giới Cực Lạc là cảnh giới của Đức Phật. Một khi chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì tuyệt đối sẽ thành Phật, cho nên Đức Phật Thích-ca-mâu-ni thọ ký trước, khen ngợi chúng ta là ‘hoa Phân-đà-lợi’, chính là Phật vị lai, không bị nhiễm ô bởi tham sân si và sự luân hồi trong sáu nẻo nữa.
Vì thế nói: ‘Nếu người niệm Phật’, nếu là người niệm Phật thì phải biết người này tức là ‘hoa Phân-đà-lợi’ trong loài người, Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí chính là bạn của người này và người này được khen ngợi như hàng Bồ-tát Đẳng giác.
Hiện tại chúng ta đang ở trong cõi Ta-bà này niệm Phật để cầu vãng sanh về thế giới Cực Lạc, phiền não không thể đoạn trừ, mà Đức Phật lại dùng ‘hoa Phân-đà-lợi’ và hàng Bồ-tát Đẳng giác khen ngợi chúng ta, như vậy thì chúng ta đảm nhận nổi không? Quả thật là không đảm nhận nổi.
Chẳng qua điều Đức Phật nói, chúng ta không thể cự tuyệt, không thể phủ định hoặc nghi vấn, cho nên không dám đảm nhận cũng phải đảm nhận. Vậy thì sau khi đảm nhận sẽ như thế nào? Thì sẽ lại càng thêm hổ thẹn, càng thêm khiêm tốn dịu dàng, càng nên nghĩ đến người khác, như trong ‘Tông phong’ đã nói: “Sự quan tâm nhân từ đối với người khác và sự khiêm tốn dịu dàng đối với chính mình”, chính là sẽ ‘học tâm đại bi của Phật’, sẽ ‘quan tâm yêu mến chúng sanh, nồng hậu với mọi người’, thậm chí sẽ ‘nhường công lao phần thưởng cho người, và chịu sự oán trách, nhận lấy trách nhiệm…’, sẽ là như vậy.
Chúng ta hoàn toàn không thể làm được 100%, mà nói chúng ta nên có khí phách và trình độ như vậy. Đương nhiên, trình độ làm một phần cũng là trình độ, làm một trăm phần cũng là trình độ, làm đến trình độ nào thì hay trình độ nấy.
Kinh Vô Lượng Thọ nói:
Nếu có người nào nghe được danh hiệu của Phật A-di-đà, mà sanh tâm hoan hỷ vui mừng cho đến một niệm, nên biết người này làm được lợi ích rất lớn, thì sẽ đầy đủ công đức vô thượng.
Có nghĩa là, nếu như chúng ta ‘cho đến một niệm’, thì chính là niệm Phật ‘căn cơ lúc bình sanh cho đến cả một đời, căn cơ lúc lâm chung cho đến một niệm’, như vậy sẽ được lợi ích rất lớn. Lợi ích lớn như thế nào? Lợi ích lớn là so sánh với sự lợi ích nhỏ, thí như bậc A-la-hán chính là lợi ích nhỏ, hàng Bồ-tát cũng vẫn là lợi ích nhỏ, chỉ có Đức Phật mới là lợi ích lớn, lợi ích lớn của Phật chính là công đức vô thượng.
Vì thế, kinh Vô Lượng Thọ nói:
Để được lợi ích lớn, chính là đầy đủ công đức vô thượng.
Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Nếu người niệm Phật thì tức là người tốt trong loài người, người rất tốt trong loài người, người thượng thượng trong loài người, người hiếm có trong loài người, người hơn hết trong loài người”.
Lấy năm loại người tốt này để khen ngợi chúng ta.
‘Người tốt trong loài người’, người niệm Phật là người tốt trong sáu, bảy tỉ người trên trái đất này. Người tốt trong loài người còn không đủ huống chi là người rất tốt?
‘Diệu’ chính là bất khả tư nghị, không thể tưởng tượng được. Người niệm Phật chúng ta rốt cuộc tốt như thế nào mà không thể tưởng tượng được? Vì chúng ta vẫn còn tham sân si, còn vọng tưởng tạp niệm, bất cứ việc gì cũng vẫn còn so sánh, tính toán, vẫn có tình cảm, vẫn còn giận dữ, oán hận, phê bình, chúng ta là những người niệm Phật như vậy ngược lại được hình dung là người tốt không thể nghĩ bàn.
Cũng là người thượng thượng trong loài người, là người hiếm có nhất, tối thắng nhất. Nguyên nhân do đâu? Do chúng ta chuyên niệm một câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’. Bởi vì người như vậy dù phiền não sâu dày như thế nào, vọng tưởng dày đặc đến mức độ nào, tính nóng nảy xấu xa hay thích so đo tính toán như thế nào đi chăng nữa nhưng nhờ niệm Phật cho nên nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Một khi vãng sanh về thế giới Cực Lạc rồi thì những thứ phiền não, nghiệp chướng, nóng nảy, tính toán đều không còn nữa, đều trở nên đại từ bi, đại trí huệ, đại nguyện lực, đại thần thông, đại biện tài, và trở thành một vị Phật độ khắp chúng sanh trong mười phương. Như thế nếu không dùng người rất tốt, người tối thắng để hình dung thì dùng thứ gì để hình dung chứ?
Đây chính là nói rõ phương pháp niệm Phật là dễ dàng nhất, công đức thù thắng nhất.
Chúng ta vốn là hàng phàm phu tội ác trong sanh tử, do duyên niệm Phật, do công đức niệm Phật, nên Đức Phật khen ngợi chúng ta là thiện nam tử, thiện nữ nhân, là ‘hoa Phân-đà-lợi’, xếp ngang với hàng Bồ-tát Đẳng giác, đã được sự lợi ích rất lớn và công đức vô thượng. Tổ sư thì nói chúng ta là người tốt, người rất tốt, người thượng thượng, người hiếm có, người hơn hết.
Vì thế, cái thiện khác so với cái thiện niệm Phật thì chẳng phải là thiện, là không có cách nào để so sánh cả, cho nên
Đại sư Thiện Đạo nói:
“Các hạnh khác tuy gọi là thiện, nhưng nếu so với niệm Phật thì hoàn toàn không thể sánh bằng”.
Tu lục độ vạn hạnh, trì ngũ giới hành thập thiện, đây là thiện hay bất thiện? Đương nhiên là thiện, là công đức, nhưng nếu so với niệm Phật thì không cách nào sánh bằng, ‘hoàn toàn không thể so sánh được’.
Trong kinh A-di-đà yếu giải, Đại sư Ngẫu Ích nói:
Trì danh hiệu Phật thì thiện căn phước đức đồng với Phật. Người trì danh hiệu thì thọ mạng và quang minh đồng với Phật không khác.
Phàm phu mang đầy tham sân si, chỉ cần niệm Phật thì thiện căn, phước đức, thọ mạng, quang minh, đều đồng nhất với Phật không hai. Vì thế, tám tông phái lớn trong Phật giáo, chỉ có niệm Phật của tông Tịnh Độ là bất khả tư nghị nhất.
Có một câu nói:
Vượt tình lìa kiến, bất khả tư nghị
Cũng chính là nói, pháp môn này không thể nghĩ bàn, siêu việt kiến giải, trí huệ, tư duy của hàng phàm phu chúng ta, thậm chí siêu việt hàng Nhị thừa và hàng A-la-hán của
Tiểu thừa cũng tốt, Bồ-tát Đại thừa cũng tốt, đều chẳng thể hiểu được pháp môn này. Như trong kinh Vô Lượng Thọ nói:
Chẳng phải là chỗ suy lường của hàng Nhị thừa, chỉ có Đức Phật mới hiểu được mà thôi
.
Đại thừa, Tiểu thừa đều không thể suy lường pháp môn này, chỉ có Phật mới có thể hiểu được mà thôi. Nếu như chẳng phải là Phật thì hoàn toàn không thể hiểu được, bởi vì vượt qua cái thấy biết của hàng phàm phu chúng ta cho đến cái thấy biết của hàng Nhị thừa. Vì thế, kinh Hoa nghiêm nói:
Thà chịu khổ địa ngục mà được nghe danh hiệu chư Phật;
Không nhận vô lượng điều vui mà không nghe danh hiệu Phật.
Có nghĩa là chỉ cần có thể nghe được danh hiệu Phật, dù cho đọa vào địa ngục thống khổ như vậy cũng thỏa lòng; tuyệt đối không cần sanh lên trời mà không được gặp Phật pháp, không được nghe đến danh hiệu Phật. Bởi vì cảnh địa ngục tuy khổ nhưng nghe được danh hiệu Phật, thì có thể giải thoát nỗi khổ địa ngục; không chỉ giải thoát nỗi khổ ở địa ngục, mà giải thoát nỗi khổ ở ba đường ác, hơn nữa cũng giải thoát nỗi khổ luân hồi nơi sáu nẻo.
Nếu như ở cõi trời, tuy là vui, thọ mạng dài, nhưng không thể nghe được danh hiệu Phật, đến một lúc nào đó thì vẫn đọa lạc như thường, hơn nữa đời đời kiếp kiếp luân hồi. Nói như vậy thì chỉ cần nghe được danh hiệu Phật thì khổ là tạm thời, vui là vĩnh hằng; nếu không thể nghe đến danh hiệu Phật, thì vui là tạm thời, khổ là vĩnh hằng.
Chúng sanh đều là phàm phu trong sanh tử
- Tội phước nhiều hay ít
Chúng sanh ở đời ngũ trược có người ‘phước nhiều tội ít’, có người ‘phước ít tội nhiều’, không có người nào ‘chỉ có phước mà không có tội’. Tại sao vậy? Vì lúc đời ác ngũ trược, thế giới ác, chúng sanh ác.
Thiện ác và tội phước có sáu điều khác nhau. Kỳ thật, tội phước có nghĩa là thiện ác, thiện ác là nhân, tội phước là quả.
Câu thứ nhất là ‘phước nhiều tội ít’; câu thứ hai ‘phước ít tội nhiều’; câu thứ ba ‘tội phước đều nhiều’, tội và phước đều giống nhau, tội nhiều phước cũng nhiều; câu thứ tư ‘tội phước đều ít’, tội ít phước cũng ít; câu thứ năm ‘chỉ có tội mà không có phước’, một đời đều tạo nghiệp tạo tội, chưa từng làm điều thiện tích lũy phước; câu thứ sáu ‘chỉ có phước mà không có tội’, chỉ có thiện mà không có tội, nhưng trên cõi đời này không có người như vậy, trừ khi là bậc A-la-hán đã đoạn trừ phiền não, cho nên họ khởi tâm động niệm đều sẽ không tạo tội nghiệp.
Chẳng phải bậc A-la-hán khởi tâm động niệm sẽ như thế nào? Giống như trong kinh Địa Tạng nói:
Chúng sanh trong cõi Nam diêm-phù-đề, mọi cử chỉ động niệm đều là nghiệp cả.
‘Nam diêm-phù-đề’ là chỉ cho địa cầu. ‘Cử chỉ’ chính là động tĩnh. Chúng sanh trong địa cầu này trong khoảng động và tĩnh khởi lên trăm nghìn vạn loại ý niệm; không chỉ trăm nghìn vạn loại mà trong các kinh điển nói trong khoảng một khảy móng tay có sáu mươi sát-na, một sát-na có chín trăm lần sanh diệt, tính như vậy thì ý niệm khởi lên giữa sự động và tĩnh của chúng ta đếm không xuể, tính không hết.
Ý niệm phát khởi ‘đều là nghiệp cả’, nghiệp chính là hành vi, lời trong miệng nói ra là hành vi, động tác trên thân cũng là hành vi, ý nghiệp là vô hình, khởi tâm động niệm vô hình cũng là hành vi. Khởi tâm động niệm vô hình thì chúng ta không thấy được, nhưng quỷ thần thấy được, Phật và Bồ-tát cũng thấy được, cho nên cùng là hữu hình, thì đều là nghiệp cả.
Thân nghiệp, khẩu nghiệp là hữu biểu nghiệp, ý nghiệp gọi là vô biểu nghiệp, những nghiệp này đều là tội cả, chẳng phải là thiện nghiệp.
Đây là nương vào cảnh giới của Phật để nhìn chúng sanh chúng ta, nếu nương vào hàng chúng sanh chúng ta thì không thể hiểu rõ là nghiệp, là tội, tại sao vậy? Bởi vì phàm phu ngu si đều là cá mè một lứa cả, đều là than củi đen. Ta và người đều là nghiệp đen, đều là vô minh.
Phật thì chẳng phải như vậy, giống như chúng ta dùng mắt thịt để xem hai tay đều là sạch sẽ, nhưng nếu dùng cái kính phóng đại để xem thì không sạch sẽ, dùng kính hiển vi để xem thì có vi khuẩn rất nhiều. Phật thì đầy đủ tam minh, lục thông, Phật nhãn cũng như kính hiển vi vậy, việc ác của người thế
gian thì bất luận trong hay ngoài, tối hay sáng, đại ác, tiểu ác, vi tế ác, Đức Phật đều thấy rõ ràng. Vì thế, người thế gian phần nhiều là ‘tội nhiều phước ít’. Thậm chí là ‘chỉ có tội mà không có phước’.
Đại sư Thiện Đạo yêu cầu chúng ta phải tự giác và tin sâu: Chúng ta chính là phàm phu tội ác trong sanh tử, người thực hành ngũ giới, thập thiện cũng đều là phàm phu tội ác trong sanh tử. Tại sao vậy? Bởi vì không có duyên giải thoát, ngũ giới, thập thiện vẫn là phàm phu thiện, vẫn còn ở trong ba cõi, vẫn còn đọa lạc, như thế chẳng phải là hàng phàm phu sanh tử tội ác hay sao?
Niệm Phật nhất định vãng sanh Cực Lạc
(Còn tiếp)
Trích Bản Nguyện Niệm Phật
Thích Minh Tuệ


