Bất Luận Tội Hay Phước, Niệm Phật Đều Được Vãng Sanh (TT)

14.Bất Luận Tội Hay Phước, Niệm Phật Đều Được Vãng Sanh (TT)

Lời trong kinh văn và lời Tổ sư, đều là sự kết tinh của trí huệ

Kinh văn cũng tốt, hay là những tác phẩm của các vị Tổ sư truyền lại cho chúng ta cũng tốt, đều là trí huệ của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, đều là sự kết tinh thể nghiệm của lịch đại Tổ sư. Sự kết tinh trí huệ này, chúng ta có thể không cần phải tốn tiền, cũng không cần phải trải qua sự truy tìm gian khổ mà có thể tiếp nhận được.

Tiếp nhận ra sao? Chính là đọc thuộc lòng. Học thuộc lòng pháp ngữ này thì đạo lý trong đó sẽ nảy nở trong tâm chúng ta. Cũng như rải giống, hạt giống rơi xuống đất, trải qua một thời gian sẽ nảy mầm và lớn lên nở hoa, kết quả, giống như trí huệ của người khác ban cho chúng ta vậy.

Vì thế, pháp ngữ và kinh luận trong pháp môn của chúng ta, nếu có thể thì cố gắng học thuộc lòng, tuy nhiên trong thời gian ngắn không thể hiểu được, nhưng đọc thuộc lòng ôn đi ôn lại nhiều lần thì tự nhiên sẽ hiểu.

Tại sao tự nhiên sẽ hiểu? Đó gọi là ‘Tự tánh đầy đủ muôn pháp, tự tánh có thể sanh ra muôn pháp’. Tất cả muôn pháp thật ra đều ở trong bản tính, Phật tánh của chúng ta đều có sẵn, cũng đều hiểu rõ, chỉ vì bị vô minh tham sân si che lấp. Nhưng nếu chúng ta đọc thuộc lòng những pháp ngữ thì tự nhiên sẽ kích động những gì chúng ta vốn có.

Đây đều chẳng phải những thứ bên ngoài, mà là của chúng ta, là gia sản có sẵn trong nhà chúng ta, chỉ có điều từ rất lâu chúng ta đã bỏ đi, cất chúng trong kho mà thôi. Nếu như chúng ta đem nó ra rửa và mài tí xíu thì sẽ khôi phục lại nguyên trạng, nó vẫn phát ra ánh sáng. Vì thế, bài kệ này rất ngắn, hy vọng mọi người đều có thể đọc thuộc lòng.

Giải thích tâm bất điên đảo

‘Định đắc vãng sanh’

Bốn chữ này chính là nói: Quyết định vãng sanh về thế giới Cực Lạc, chắc chắn vãng sanh về thế giới Cực Lạc, là trăm phần trăm, chẳng phải là chín mươi chín phần trăm, cũng chẳng phải sáu mươi phần trăm, là nhất định vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ở đây giải thích câu kinh văn nào trong kinh A-di-đà?
Đấy là:

Người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A-di-đà.

Nếu như nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, ‘người ấy lúc sắp mạng chung’, nghĩa là người này khi sắp mạng chung còn chưa tắt thở; ‘Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy’, nghĩa là Đức Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng sẽ hiện trước mặt người ấy; ‘người ấy khi mạng chung’, nghĩa là người này lúc tắt hơi thở; tự nhiên được ‘tâm không điên đảo, liền được vãng sanh’, mà vãng sanh đến thế giới nào? Đến thế giới Cực Lạc của Phật A-di-đà.

Bađ oạn văn có hai tầng nhân quả
trong kinh A-di-đà
Đoạn thứ nhất: Xá-lợi-phất, không thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sanh nước kia.

Đoạn thứ hai: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu gày, hoặc bảy ngày, nhất tâm không loạn.

Đoạn thứ ba: Người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt. Người ấy lúc mạng chung, tâm không điên đảo, liền được vãnh sanh về cõi Cực Lạc của Phật A-di-đà.

Nếu xem những đoạn kinh văn này trong kinh A-di-đà, thì có hai tầng nhân quả.

Tầng thứ nhất: Chỉ cần nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà (nhân), thì có thể được quả ‘người ấy lúc sắp mạng chung, Phật A-di-đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mặt người ấy’.

Tầng thứ hai: Phật A-di-đà đã hiện ra (nhân), tự nhiên làm cho chúng ta ‘tâm không điên đảo, vãng sanh Cực Lạc’ (quả).

Vì thế, tầng thứ nhất là chúng ta hiện tại chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, có thể lâm chung được Phật A-di-đà hiện ra trước mặt; tầng thứ hai là Phật A-di-đà hiện ra trước mặt, tự nhiên tâm không điên đảo, liền vãng sanh thế giới Cực Lạc: Đây chính là ‘hai tầng nhân quả’

Kỳ thật, chỉ cần xem qua kinh văn của kinh A-di-đà, chúng ta sẽ hiểu rất rõ ‘hai tầng nhân quả’ này. Nếu đọc theo tuần tự kinh văn, chúng ta sẽ hiểu rõ ý nghĩa của kinh.

Hiểu sai nghĩa kinh, oan ba thời Phật

Vì lẽ đó, có người giải thích ‘niệm Phật phải niệm đến lúc lâm chung tâm không điên đảo, chánh niệm hiện tiền, Phật A-di-đà mới có thể đến trước người ấy tiếp dẫn’, như vậy chính là đọc sai kinh văn, hiểu sai nghĩa của kinh, giải thích sai lời của Phật, làm cho mọi người không thể đạt được mục đích của Đức Phật, đây chính là oan ba thời Phật.
Mục đích của Phật là gì? Mục đích Phật xuất hiện ở thế gian chỉ có một việc, đó chính là cứu độ chúng sanh lìa khỏi luân hồi, khiến cho chúng sanh thành Phật. Mục đích này thành tựu là nương vào pháp môn nào? Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn, chỉ có nương vào pháp môn Tịnh Độ chuyên nhất xưng danh. Kinh A-di-đà nói rõ ràng như vầy: Chỉ cần niệm Phật, khi lâm chung chính Đức Phật hiện thân tự đến đón tiếp, khiến cho lúc chúng ta vừa tắt hơi thở, liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Điều này chẳng phải chỉ có Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói, mà các Đức Phật ở phương Đông đến chứng minh, các Đức Phật ở phương Tây cũng hiện đến chứng minh, tất cả các Đức Phật ở bốn phương trên dưới, mười phương thế giới trong tất cả vũ trụ hiện đến chứng minh nữa, chứng lời thành thật của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói không hư dối.

Vì thế, nếu giải thích sai kinh văn, thì không chỉ trái với ý của Phật, mà cũng làm hại đến chúng sanh. Đại sư Thiện Đạo giải thích rất đơn giản, rõ ràng, để cho chúng ta dễ hiểu, dễ làm, khiến cho chúng ta đời nay có thể an tâm, không sợ hãi.

Trong kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật A-di-đà nói ‘tất cả sợ hãi, làm cho bình an’.

Nhân gian đau khổ sợ hãi rất nhiều

Hàng chúng sanh như chúng ta sợ hãi đủ điều. Chúng ta đều sợ già đi, không có người nào mà không sợ già, nhất
là những người có tuổi tác lớn. Một người già yếu, nhìn nghe không tốt, hành động không tiện, ăn không ngon, ngủ không yên, cái này không được, cái kia không xong, răng đau nhức, bệnh dạ dày, bệnh tim, bệnh thận, bệnh gan… đều do tuổi già sức yếu phát ra. Bởi vì tuổi già thì các bộ phận trong cơ thể bị thoái hóa, cho nên dễ sanh bệnh, mọi người đều sợ hãi. Ngoài ra, cầu không được cũng sợ, oán ghét mà gặp cũng sợ, đặc biệt là thương yêu nhau mà lìa nhau lại càng sợ hơn, nhưng cái sợ nhất chính là cái chết của chính mình, khổ do đời nay, lại tiến vào một cái khổ càng dài dài, lại làm cho người sợ hãi.

Tất cả những sự sợ hãi của chúng ta không phải chỉ có một cái sợ mà thôi, mà tất cả đều sợ cả, Phật A-di-đà đều muốn cho chúng ta được an tâm, không chỉ là ‘an’ thôi, mà là muốn cho chúng ta được ‘an lạc’, tâm an lạc, rất hoan hỉ, rất an ổn, rất đầy đủ: Đây chính là ‘làm cho tất cả người sợ hãi đều được an lạc’.

Nhiều thứ sợ hãi giống như một cây có rễ, có thân, có cành, có lá, cây này nếu là cây có độc, thì từ rễ và thân cây đến cành và lá đều là có độc. Ngày nay chúng ta ngắt lá, ngày mai chặt cành, như vậy có thể giải quyết triệt để vấn đề không? Không thể. Chỉ khi nào chúng ta nhổ sạch gốc rễ mới có thể giải quyết triệt để.

Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói đời người là khổ, hơn nữa biển khổ vô biên: Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, ái biệt ly là khổ, oán tắng hội là khổ, cầu bất đắc là khổ, ngũ ấm xí thạnh là khổ, những thứ này đều là khổ cả, nhưng cái khổ căn bản chính là khổ trong sáu nẻo luân hồi.

Nếu có thể trừ được cái khổ trong sáu nẻo luân hồi, thì những thứ khổ khác tuy tạm thời vẫn còn, nhưng chúng không kéo dài được, bởi vì rễ đã chặt đứt rồi. Thí như rễ cây đã chặt đứt, tuy trước mắt cành và lá vẫn chưa khô, nhưng không bao lâu thì hoàn toàn khô hết.

Cũng như chúng ta hiện tại vẫn chưa lâm chung, nhưng việc lớn sanh tử luân hồi này nếu có thể giải quyết, thì cũng như rễ cây đã bị chặt đi, như vậy dù cho quả báo của chúng ta đời nay vẫn chưa hết, mà thể xác vẫn còn ở thế gian, vẫn còn phiền não, còn khổ, nhưng trải qua thời gian không lâu, nhiều nhất khoảng mấy mươi năm mà thôi, quả báo tạm thời nếu chấm dứt, thì tự nhiên bỏ Ta-bà vãng sanh Cực Lạc.

Chúng ta ở thế gian này, sống với cha mẹ vợ con cũng tốt, sống với người khác cũng tốt, thậm chí buôn bán kiếm tiền hay không kiếm tiền, tất cả đều là nhân duyên. Nếu có duyên thì đến lúc sẽ gặp. Nếu không có duyên thì tìm cầu thế nào cũng không thể được.

Vì thế, lúc duyên hết thì tự nhiên lìa thế gian, nếu như trả nghiệp chưa xong thì không thể lìa được. Có rất nhiều người già bệnh khổ nằm trên giường thời gian lâu, thậm chí trở thành người thực vật, muốn chết mà chết không được, chính là vì chưa trả xong gánh nợ cuộc đời này.

Như vậy phải làm sao đây? Nên lấy tài vật của anh ấy mà bố thí. Bố thí tất cả những đồ đạc đó rồi, đợi đến khi trả xong món nợ này, thì anh ta có thể lìa thế gian. Hơn nữa, thay anh ta bố thí có thể làm nhẹ đi nghiệp của anh ta. Nếu không làm như vậy mà đợi đến khi duyên của anh ta hết, mà chưa bố thí thì anh ta sẽ đọa lạc.

Nói theo pháp môn niệm Phật của chúng ta thì niệm Phật cho anh ta, đứng bên cạnh anh ấy mà khai thị đạo lý từ bi cứu độ của Phật A-di-đà, khiến cho trong tâm anh ta niệm Phật nguyện sanh về Cực Lạc.

Một người hôn mê, chúng ta không nên nghĩ rằng anh ta không biết gì cả, thực ra anh ấy vẫn còn linh giác. Đặc biệt là lúc hoàn toàn hôn mê, xác thân tuy hôn mê nhưng thần thức sẽ hiện ra, ra vào không cần đi qua cổng chính, mà đi xuyên qua cả vách tường, anh ta nhìn trên lầu dưới lầu, không cần phải ngẩng đầu nhìn hoặc cúi đầu dòm xuống, hơn nữa chúng ta không nên nói năng, vừa khởi tâm động niệm thì anh ta biết liền.
Vì thế, đối với người hôn mê thì phải ở bên cạnh mà khai thị đạo lý niệm Phật thì chắc chắn được vãng sanh, khiến cho anh ta niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Chư Phật chứng thành

Chắc chắn không nghi!

Bốn chữ này là chỉ cho sự chứng minh của chư Phật trong mười phương, chứng minh lời nói chân thật của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, không hư dối, chúng sanh nên tin tưởng, không phải hoài nghi! Căn cứ vào việc làm như vậy, thì tự nhiên có được sự lợi ích lớn của việc vãng sanh.

Đoạn văn này Đại sư Thiện Đạo giải thích về tính chủ yếu của kinh A-di-đà rất rõ ràng.

Tiếp theo căn cứ vào văn ‘bất vấn tội phước’ để giải thích.

Bất luận tội hay phước niệm Phật đều được vãng sanh

1. Tất cả hàng phàm phu

Kinh A-di-đà nói: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân!”.

Kinh này chỉ cho hàng phàm phu ở đời ác năm trược nương vào công đức niệm Phật thì Phật liền khen rằng ‘Thiện nam tử, thiện nữ nhân’.

Như phần ‘Hạ phẩm hạ sanh’ trong Quán kinh nói: “Thiện nam tử (người này làm nhiều các pháp ác mà không biết hổ thẹn), vì ông xưng danh hiệu Phật A-di-đà nên các tội đều tiêu diệt, Ta đến tiếp dẫn ông”.

Kinh A-di-đà nói: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân”. Bản chất của họ chính là hàng phàm phu, nếu là hàng phàm phu thì nhất định có vô minh, phiền não, tội nghiệp. Phàm phu ở thế gian này chẳng phải là phàm phu thiện mà chính là phàm phu ác, nhưng hàng phàm phu ác tương đối nhiều.

Đã là phàm phu ác thì tại sao Đức Phật khen ngợi họ là thiện nam tử, thiện nữ nhân? Bởi vì họ biết niệm Phật, là người niệm Phật, cho nên Đức Phật mới khen ngợi họ là thiện nam tử, thiện nữ nhân. Giống như chúng sanh ở phần Hạ phẩm hạ sanh trong Quán kinh, một đời không có học Phật cũng không làm thiện, chỉ biết làm toàn các pháp ác, không biết hổ thẹn.

Nếu như họ tin tưởng Phật pháp thì sẽ có tâm hổ thẹn. Còn nếu như có lễ nghi liêm sỉ thì cũng có tâm biết hổ thẹn. Nhưng họ không có các điều thiện về lễ nghi, liêm sỉ ở thế gian, cũng không có quan niệm về nhân quả báo ứng và việc làm thiện của Phật pháp, cho nên mới làm nhiều điều ác như vậy, đến nỗi họ vẫn không biết tâm hổ thẹn.

Người như vậy thì lúc sắp mạng chung gặp vị thiện tri thức đến khai thị cho họ, dạy họ niệm Phật, họ chỉ cần niệm một câu liền tắt hơi thở, thì vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Phật liền khen rằng: Ông chính là người thiện nam tử! Nhờ ông niệm Phật mà nghiệp đã tạo trong một đời đã tiêu trừ nên Ta đích thân đến tiếp dẫn ông.

Gặp duyên có khác nên có chín phẩm

Nếu luận về chúng sanh ở đời ác năm trược trong thế giới Ta-bà của chúng ta đây, thì có thể nói là không có một người thiện nào cả, tại sao? Bởi vì từ tướng bên ngoài xem ra thì mỗi người đều khác nhau, có người xuất gia, có kẻ tại gia, cũng có người tu thân dưỡng tính, cũng có người làm thiện tích đức, cũng có người một đời làm ác không biết hổ thẹn. Nhưng nói trên phương diện bản tính thì toàn bộ đều là giống nhau, cái gọi là ‘tướng căn cơ thì có khác, mà tính căn cơ thì giống nhau’.

Giống nhau thế nào? Chúng sanh trong đời ác năm trược đều là nghiệp chướng sâu nặng, tham sân dữ dội, nên mới đầu thai vào thế giới Ta-bà này, đây chính là ‘vật tụ theo loài, người phân theo nhóm’. Vì thế, luận về bản tính phàm phu của chúng ta đều là giống nhau cả, cho nên có tướng bề ngoài khác nhau, đây do vì căn duyên của mỗi người khác nhau. Thế nên, phần Huyền nghĩa trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo nói: “Gặp duyên có sai khác, nên chín phẩm có khác nhau”.

Trong Quán kinh lấy căn cơ chúng sanh chia làm chín loại, có căn cơ Thượng phẩm, căn cơ Trung phẩm, căn cơ Hạ phẩm. Vì thế, biết có căn cơ khác nhau nên

Đại sư Thiện Đạo nói:

Đây là bởi vì gặp duyên có khác nhau, gặp duyên Đại thừa thì học pháp Đại thừa, chính là căn cơ Thượng phẩm thượng sanh, hoặc là căn cơ Thượng phẩm trung sanh, hoặc là căn cơ Thượng phẩm hạ sanh, nhưng họ vẫn là phàm phu tội ác trong sanh tử; gặp được pháp Tiểu thừa thì chính là căn cơ Trung phẩm thượng sanh hoặc Trung phẩm trung sanh; Trung phẩm hạ sanh thì không gặp được Phật pháp, nhưng cái duyên mà họ gặp là đạo đức luân lý của Nho gia, cái gọi là ‘giảng nhân nghĩa, nói đạo đức’, nhưng bản chất của họ giống nhau là hàng phàm phu tội ác trong sanh tử; hàng phàm phu Hạ phẩm gặp duyên ác, khiến cho một đời của họ tạo nhiều tội nghiệp mà không có tâm hổ thẹn.

Vì thế, tuy gặp duyên khác nhau, có người gặp pháp Đại thừa, có người học pháp Tiểu thừa, có người gặp được thế gian thiện, cũng nương vào duyên này mà học tập, nhưng vẫn là phàm phu tội ác trong sanh tử, và hoàn toàn không đoạn trừ được phiền não.

Trái lại mà nói thì hàng phàm phu học pháp Đại thừa, nếu như ban đầu không gặp được duyên Đại thừa, mà gặp duyên ác, vậy thì họ chính là phàm phu Hạ phẩm tạo tội mà không biết hổ thẹn. Phàm phu Hạ phẩm nếu như ban đầu gặp được pháp Đại thừa, vậy thì họ chính là phàm phu Thượng phẩm phát tâm bồ-đề tu học Đại thừa.

Vì thế, Đại sư Thiện Đạo giải thích: “Gặp duyên có sai khác, nên chín phẩm có khác nhau”.

Sở dĩ, tướng bên ngoài có sai biệt, là bởi vì duyên có khác nhau nên tướng bên ngoài cũng khác nhau. Nhưng trong chín phẩm, bản tính nội tại mỗi một phẩm, mỗi một chúng sanh đều không có sai biệt, giống như có đầy đủ phiền não, đầy đủ tham sân si, mạn, nghi, tuy có nhẹ có nặng nhưng cũng đều không thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, tất cả đều y như vậy.

Đặc biệt, lúc họ hoặc đọa lạc thì căn bản không cách nào gặp được pháp Đại thừa, pháp Tiểu thừa và việc thiện ở thế gian .

Vì thế, Đại sư Thiện Đạo có nói về thiện ác mang tính ‘tuyệt đối’, cũng có nói thiện ác mang tính ‘tương đối’.
Điều thiện của tính tương đối thì có điều thiện của pháp luật trong xã hội, nếu như tuân theo pháp luật thì chính là người thiện của xã hội này, cũng có điều thiện trong luân lý đạo đức. Đây đều là điều thiện của thế gian.

Nếu như trì năm giới, hành mười điều thiện, thì đó là điều thiện của Phật pháp. Nhưng bất kể là điều thiện trong pháp luật, điều thiện trong nhân luân, điều thiện trong đạo đức, hay là năm giới, mười giới, đấy đều là điều thiện tương đối, chẳng phải là điều thiện tuyệt đối.

Điều thiện tương đối chính là: Họ còn có phiền não, có phiền não thì gọi là ‘thiện hữu lậu’, bởi vì bên trong có phiền não, cho nên cũng gọi là điều thiện xen ác, xen chất độc.

Thế nào là điều thiện tuyệt đối? Điều thiện tuyệt đối chính là không còn phiền não, không còn tham sân si. Điều thiện tuyệt đối này có thể thoát khỏi luân hồi trong ba cõi sáu đường.

Nhưng điều thiện tương đối, thì bất luận thế nào đi nữa cũng đều bị luân hồi ở trong ba cõi sáu đường. Dù cho mười điều thiện viên mãn, cao nhất thì cũng sanh lên cõi trời mà thôi, nhưng cõi trời cũng là hàng phàm phu, vẫn còn phải luân hồi trong sanh tử.

Vì thế, điều thiện này là không cứu cánh cũng không viên mãn. Điều thiện này chẳng phải là điều thiện tuyệt đối mà chỉ là điều thiện tương đối, là điều thiện giả lập, chẳng phải là điều thiện chân thật.

Luận về thế giới Ta-bà của chúng ta đây thì có nói lục đạo, cũng có nói về ngũ đạo (a-tu-la quy nạp về súc sanh đạo, ngạ quỉ đạo), năm đường cũng gọi là (năm đường ác), tại sao gọi là năm đường ác? Thông thường mà nói thì địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh là ba đường ác, trời, a-tu-la và người là ba đường thiện. Đây là nói tương đối. Nói tuyệt đối thì, năm đường đều là ác đạo cả.

Kinh Vô Lượng Thọ có một câu ‘cắt ngang năm đường ác’, cũng chính là nói chỉ cần niệm Phật thì có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, vượt ngang, cắt ngang năm đường ác, rõ ràng nói sáu nẻo luân hồi đều là ác đạo.

Đại sư Đạo Xước giải thích: “Năm đường trong cõi Ta-bà đều gọi là đường ác. Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh thuộc về thuần ác, nên gọi là đường ác; trời, người ở cõi Ta-bà thuộc về nghiệp tạp nhiễm, nên cũng gọi là đường ác”.
Đời ác năm trược ở thế giới Ta-bà, bất luận năm đường hay sáu nẻo, cũng đều gọi là ác đạo. Đương nhiên, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh thuần là ác, cho nên mới rơi vào ba đường ác; cõi người cũng tốt, cõi trời cũng tốt, tuy có thiện nhưng xen lẫn ác ở trong đây, cho nên cũng gọi là ác đạo.

Vì thế, nói về điều thiện tuyệt đối thì ba cõi sáu đường đều gọi là ác đạo. Điều thiện của chúng sanh làm ở trong sáu đường đều là điều thiện hữu lậu, thiện xen lẫn chất độc, đây chẳng phải là điều thiện thanh tịnh, cũng chẳng phải là điều thiện cứu cánh tuyệt đối.

Trong Vãng sanh luận chú của ngài Đàm Loan nói:

“Các điều thiện của phàm phu trời người, quả báo trời người, hoặc nhân hoặc quả, đều là điên đảo, đều là hư ngụy, thế nên gọi là công đức không chân thật”.

Có nghĩa là, bất luận là tu nhân năm giới, mười giới, được quả cõi người, cõi trời đều là điên đảo cả, đều là hư vọng cả, chẳng phải là công đức chân thật. Cũng chính vì vậy mà trong kinh Niết-bàn Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói:
Tuy lại được thọ thân Phạm thiên, cho đến cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng, lúc sắp mạng chung vẫn đọa vào trong ba đường ác.

Tuy thành tựu ngũ giới thập thiện, cho đến công phu thiền định cao, có thể sanh lên cõi trời Sơ thiền, thậm chí cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng, tuy cảnh giới rất cao và thọ mạng rất dài, nhưng vẫn không thoát khỏi ba đường ác, thọ mạng vừa hết, thì dễ rơi vào ba đường ác.
Trong kinh Chánh pháp niệm xứ Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói:

Từ cõi trời vào địa ngục, từ nơi địa ngục lại sanh lên trời.

Cõi trời là cõi rất cao trong sáu đường, địa ngục là chỗ rất thấp trong sáu nẻo, nhưng thời gian vừa đến thì sinh mạng cũng vừa hết, quả báo vừa đến nếu phải đọa vào địa ngục, thì dĩ nhiên phải rơi vào địa ngục, nếu được sanh lên trời thì sẽ được sanh lên trời, lưu chuyển qua lại trong ba cõi, cho nên gọi là luân hồi trong sáu nẻo.

Hơn nữa cho thấy rằng, thiện và ác, thiên đường và địa ngục, tợ như không có sai biệt. Nếu người nào lìa được sáu nẻo thì họ vĩnh viễn được tự do, nếu như vẫn chưa lìa được sáu đường, thì chẳng qua là sanh lên cõi trời hoặc vào nhân gian hít thở bầu không khí trong lành mà thôi.

Tựa như bị nhốt trong nhà giam, nhà giam thì rất nhỏ, mỗi tuần có mấy lần ra ngoài dạo chơi. Luân hồi trong sáu nẻo thì giống như nhà giam lớn, ba đường ác là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, bị giam trong nhà ngục, chỉ là phạm vi rất nhỏ; trời, người thì giống như ra ngoài hóng mát, mà hóng mát xong lại trở vào nhà giam, cho nên cõi trời cũng là ác đạo, chẳng phải cứu cánh.

Điều thiện ở thế gian không cứu cánh, điều thiện ở thế gian cũng gọi là ‘tam thế oán’. Thí như một vị cao tăng trong tông Tịnh Độ là Đại sư Hành Sách nói: “Người tu hành nếu không chánh tín cầu sanh Tây Phương, tu các điều thiện nên gọi là thế oán thứ ba”

Có nghĩa là nói, một vị tu hành, đời nay hành thiện tích đức, nhưng không biết cầu sanh về thế giới Cực Lạc, cái nhân thiện như vậy sẽ được làm người trở lại hoặc được quả báo sanh lên cõi trời hưởng lạc; nhưng ở trong sự hưởng lạc này dễ tạo tội, quả báo nếu hết thì sẽ đọa lạc như thường, cho nên gọi là ‘thế oán thứ ba’.

Đại sư Ấn Quang nói: “Nghiệp thiện ở thế gian không thoát khỏi luân hồi. Nếu so với tịnh nghiệp vãng sanh đầy
đủ tín nguyện thì thiện nghiệp kia vẫn thuộc về ác nghiệp”.

Ý nghĩa này giống với điều được nói ở phần trước: Nếu như không so sánh, chỉ căn cứ vào tính tương đối mà nói thì đó là thiện; nhưng để so sánh với tính tuyệt đối thì chẳng phải là thiện, mà là ác.
(Còn tiếp)
Trích Bản Nguyện Niệm Phật
Thích Minh Tuệ

Viết một bình luận