Bài Tựa Sách Niệm Phật Cảm Ứng Lục

 18.BÀI TỰA SÁCH
NIỆM PHẬT CẢM ỨNG LỤC

  1. Chỉ có niệm Phật là pháp môn vi diệu phù hợp với mọi căn cơ

Pháp không có cao thấp, phù hợp với căn cơ là pháp diệu; thuốc không màng đắt rẻ, trị lành bệnh là thuốc hay. Nhưng cõi này là cõi Ta-bà, lại đương thời mạt pháp, chúng sanh đều là căn cơ ám độn, tạo nghiệp ác. Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn, chỉ có ‘Bản nguyện xưng danh niệm Phật A-di-đà’ là diệu pháp phù hợp với mọi căn cơ chúng sanh trong thời mạt pháp ở cõi Ta-bà này.
Tổ sư nói: “Niệm Phật là thù thắng nhất, dễ dàng nhất, là cực thiện tối thượng”.

Vì danh hiệu Phật A-di-đà thâu nhiếp tất cả các công đức, cho nên gọi là ‘tối thắng’.

Bất luận căn cơ nào cũng đều xưng danh niệm Phật được, cho nên gọi là ‘tối dị’.

Pháp môn Tịnh Độ gọi là ‘Dị hành đạo’, ‘Dị’ có hai nghĩa

là giản dị, dễ dàng, cũng tức là đơn thuần hóa, dị hành hóa. Do vì đơn thuần, dễ hành, nên mọi người đều làm được. Nếu cần phải hiểu rõ lý luận cao sâu vi diệu thì không phải là đơn thuần; nếu lại phải tu hành phức tạp gian nan thì chẳng phải là dễ dàng. Vì không đơn thuần, không dễ dàng, nên mọi người đều không làm được thì không phải là bản nguyện của Đức Phật A-di-đà, lại cũng chẳng phải là pháp môn Tịnh Độ.
Đại sư Thiện Đạo nói: “Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà”, cũng tức là đơn thuần hóa, dị hành hóa, chưa cần phải thể ngộ tam tâm cũng không cần phải đạt đến công phu nhất tâm. Bởi vì, muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc mà chuyên niệm Phật A-di-đà, thì tự có tác dụng của sức bản nguyện Phật A-di-đà, khiến cho người niệm Phật hiện đời được an ổn, khi lâm chung được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Mọi người ai cũng làm được, mà công đức lại như nhau không có hơn kém. Pháp môn Tịnh Độ vốn rất bình dị, đơn giản. Nếu mỗi người đều cần phải lĩnh hội học thuyết phiền toái của các tông phái khác, hoặc muốn thể nghiệm nhất niệm của tín tâm, mà mạt sát công năng thù thắng, dễ hành, mau đến Cực Lạc của pháp môn Tịnh Độ, thì cũng là làm mai một đi nguyên tắc cơ bản đại bi của Phật A-di-đà vì hàng phàm phu, lại đem giáo pháp phù hợp với mọi căn cơ, trở thành pháp chỉ phù hợp với một căn cơ.

Vì lẽ đó, đã hiểu lệch lạc đi và tự đặt ra điều kiện cho mình, cho nên người được cứu rất ít, còn người vãng sanh thì rất hiếm, đến nỗi Đức Thế Tôn phải than: ‘Vãng sanh Tịnh độ dễ mà chẳng có người’!

Pháp môn Tịnh Độ gọi là ‘Dị hành đạo’, vì ‘dễ hành mà khó tin’, bởi ‘Dị’ cho nên bỏ khó lấy dễ, đây chính là Dị hành đạo. Do đó, chỉ cần ‘nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ thì đã bao gồm cả Tín ở trong đó. Thế nên, trong Quán Kinh tuy nói Định thiện và Tán thiện, tam phước, cửu phẩm, tín cơ, tín pháp, nhưng sau cùng Đức Phật cũng chỉ lấy ‘nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ để phó chúc lưu thông.

Chính vì xưng danh dễ, cho nên ai ai cũng làm được, công đức lại thù thắng tiến thẳng đến Phật quả, thâu nhiếp hết công đức của Định thiện,Tán thiện, công năng của tín cơ, tín pháp cũng nằm trọn trong đó.

Đại sư Từ Mẫn nói:

Phật A-di-đà lập đại nguyện
Niệm danh hiệu, Phật đến rước liền
Không luận nghèo hèn hay giàu có
Không luận người trí cùng kẻ ngu
Không luận đa văn, trì giới tịnh
Không luận phá giới, gốc  tội  sâu
Chỉ cần hồi tâm siêng niệm Phật
Khiến cho ngói đá biến thành vàng.

Chỉ có niệm Phật là bản nguyện siêu thế

Chư Phật đều có Tổng nguyệnBiệt nguyện, Tổng nguyện là bốn hoằng thệ nguyện, còn biệt nguyện như: Đức Phật Thích-ca có năm trăm đại nguyện, Đức Phật Dược Sư có mười hai đại nguyện, Đức Phật A-di-đà có bốn mươi tám đại nguyện thù thắng.

Nhưng nay, biệt nguyện của Đức Phật A-di-đà vượt hơn tất cả biệt nguyện của các Đức Phật; cho nên, trong Đại kinh nói: “Ta lập ra nguyện siêu thế”, cũng lại nói: “Nguyện của Đức Phật A-di-đà vượt hơn tất cả nguyện của chư Phật”.

Vì thế, biệt nguyện của Đức Phật A-di-đà gọi là ‘siêu thế biệt nguyện’, còn gọi là ‘biệt ý hoằng nguyện ’.

Biệt nguyện của Đức Phật A-di-đà chỉ chung cho bốn mươi tám nguyện, riêng điều nguyện thứ mười tám là căn bản; cho nên, Đức Thế Tôn gọi nguyện thứ mười tám là ‘bản nguyện’, chư vị Tổ sư thì khen ‘bản nguyện vua’, ‘vua bản nguyện’.

Bản nguyện có hai nghĩa:

  1. Nhân bản là đối lại với quả mạt, là thệ nguyện của Bồ-tát Pháp Tạng lúc ở nhân vị, tức bốn mươi tám nguyện, mỗi nguyện đều là bản nguyện.
  2. Căn bản là đối với chi mạt, là thệ nguyện căn bản trong nhiều thệ nguyện. Trong bốn mươi tám nguyện, chỉ có điều nguyện thứ mười tám là căn bản quan trọng nhất.
    Đức Phật A-di-đà tuy có bốn mươi tám nguyện, nhưng chỉ lấy nguyện thứ mười tám làm vua trong các nguyện, vua bản nguyện này ‘chỉ nói niệm Phật’.

Điều nguyện thứ mười tám nói:

Mười phương chúng sanh, niệm danh hiệu Tôi, cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh, thì Tôi không ở ngôi Chánh giác.

­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­Cho nên, điều nguyện thứ mười tám được làm thành kệ:

Sức bản nguyện Phật ấy
 Nghe danh, cầu vãng sanh
Đều được đến nước kia
Tự được bất thoái chuyển.

Trong Vãng sanh luận, Bồ-tát Thiên Thân giải thích ý của lời kệ này:

Quán sức bản nguyện Phật
Không phải là vô ích
Mà mau chóng  đầy đủ
Báu công đức như biển.

Trong Dị hành phẩm, Bồ-tát Long Thọ y cứ vào ý của điều nguyện thứ mười tám mà làm thành kệ:

Phật A-di-đà, phát lời thệ nguyện:
Nếu người nhớ Phật, xưng danh muốn về, nhất định vãng sanh, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Cho nên, thường nên nhớ niệm.

Nên biết, ‘cho đến mười niệm’ tức là ‘xưng danh muốn về’, ‘thường nên nhớ niệm’, cũng tức là trên thì niệm Phật suốt một đời, dưới thì niệm Phật mười tiếng, cho đến một tiếng, một niệm.

Người khi lâm chung mới gặp pháp môn này, thì chỉ niệm mười tiếng, cho đến một tiếng, một niệm cũng được vãng sanh; còn những người khác thì nên suốt đời mà niệm Phật.

Nên biết, ‘niệm Phật’ chính là lời kêu gọi và thúc giục cứu độ của Đức Phật A-di-đà đối với chúng sanh ở mười phương.

Hình dung lời kêu gọi của Đức Phật A-di-đà cứu độ ở dụ ‘Nhị hà bạch đạo’ trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện Đạo nói:

Ông nên một lòng chánh niệm đi thẳng qua đây, Ta sẽ bảo vệ cho ông.

Lại nữa, ở Chân thân quán trong Ân định thiện nghĩa ghi:

Bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, chỉ nói chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà liền được vãng sanh.

  Lại nữa, ở trong Pháp sự tán ghi:

Hoằng thệ nhiều môn, bốn mươi tám
Đặc biệt niệm Phật rất là thân
Phật thường niệm người hay niệm Phật
Phật biết người tưởng Phật chuyên tâm.

Lại nói:

Cực Lạc là vô vi, Niết-bàn
Tùy duyên tạp thiện, khó vãng sanh
Bởi thế Như Lai chọn pháp yếu
Dạy niệm Di-đà chuyên lại chuyên.
    

 Phần kết luận trong Quán kinh sớ ghi:

Nhưng căn cứ vào bản nguyện của Phật thì ý của kinh này là ở chỗ: Chúng sanh phải Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.

Cho nên, người muốn sanh về Cực Lạc phải “nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà”, đây là hạnh bản nguyện của Đức Phật Di-đà.

‘Niệm Phật’ là bản nguyện độc nhất vô nhị của Đức Phật A-di-đà, là hạnh tối cao vô thượng, Đại sư Thiện Đạo gọi là ‘Chánh định nghiệp’, cũng tức là ‘vãng sanh đã định’, ‘bình sanh nghiệp thành’.

Ngài Pháp Nhiên thượng nhân nương theo lời khai thị của Đại sư Thiện Đạo mà trước tác Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, phần kết luận ghi:

Chánh định nghiệp là
Chuyên xưng danh hiệu Phật
Nhất định được vãng sanh
Nương vào Bản Nguyện Phật

Quán kinh sớTuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, quyển đầu khai tông nói rõ nghĩa niệm Phật:

Hạnh vãng sanh lấy niệm Phật làm gốc.
Trước sau đều phù hợp và hiển thị tông chỉ nhất quán. Vì sao chỉ lấy hạnh xưng danh hiệu Phật A-di-đà làm bản nguyện, mà không lấy các hạnh khác? ‘Chương bản nguyện’ thứ ba trong Tuyển trạch tập, Pháp Nhiên thượng nhân giải thích đơn giản:

Đức Phật A-di-đà khi còn là tỳ-kheo Pháp Tạng, Ngài có lòng từ bi bình đẳng, vì muốn độ thoát tất cả chúng sanh, nên không lấy các hạnh khác, mà chỉ lấy một hạnh xưng danh niệm Phật làm bản nguyện vãng sanh.

 Từ bi bình đẳng’, ‘nhiếp khắp tất cả’ nghĩa là: Bất luận người xuất gia hay kẻ tại gia, người trí hay kẻ ngu, người thiện hay kẻ ác, người trì giới hay người phá giới, người nam hay nữ, người già hay trẻ, người giàu có hay kẻ nghèo nàn, người cao sang hay kẻ thấp hèn; bất luận hạng người nào, chỉ cần ‘nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ thì đều được bình đẳng vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đồng chứng Vô lượng thọ, Vô lượng quang. Trong Pháp sự tán, Đại sư Thiện Đạo nói:

Thiện, ác, trời, người
Đều được vãng sanh
Về cõi nước kia
Được bất thoái chuyển.

Lại nữa, chương thứ sáu trong Tuyển trạch tập ghi:

Bốn mươi tám nguyện đều là bản nguyện, đặc biệt dùng niệm Phật làm quy định cho việc vãng sanh.
Lại nói:
Trong bốn mươi tám nguyện, bản nguyện niệm Phật vãng sanh là vua trong các bản nguyện. Cho nên, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni vì lòng từ bi, đặc biệt lưu lại kinh Vô Lượng Thọ tồn tại ở thế gian thêm một trăm năm.

Trong Lục yếu sao, Tồn Giác thượng nhân giải thích nghĩa của ‘bản nguyện xưng danh’ một cách tóm tắt, dễ hiểu:

Xưng danh hiệu Phật, được sự lợi ích của việc vãng sanh, đây là bản nguyện của Đức Phật A-di-đà.

Tin biết như vậy, gọi là chí tâm, tin ưa, muốn sanh về Cực Lạc.

Có người hỏi Pháp Nhiên thượng nhân:

– Thượng nhân niệm Phật, mỗi niệm đều tương ưng với tâm Phật, bởi bậc trí đã biết rõ công đức danh hiệu và nội dung sâu xa của bản nguyện.

Thượng nhân đáp:

– Ông tin bản nguyện thì cũng được như thế.

Bản nguyện danh hiệu của Đức Phật A-di-đà nghĩa là: Dẫu cho đó là kẻ tiều phu hay người săn bắn, người ngu si hay kẻ thấp hèn một chữ không biết, chỉ cần tin tưởng, xưng niệm thì nhất định vãng sanh, người chân thật cầu sanh Cực Lạc mà thường niệm Phật, thì người đó là bậc thượng căn.

Nếu lấy trí huệ để xa lìa sanh tử, thì Pháp Nhiên tôi đâu cần phải bỏ Thánh đạo môn mà chọn Tịnh độ môn.

Người tu theo Thánh đạo môn phải là người cực trí huệ mới lìa được sanh tử.

Người tu theo Tịnh độ môn phải trở lại thành người ngu si để vãng sanh Cực Lạc.

Ngài Tăng đô Minh Biến hỏi Pháp Nhiên thượng nhân:

– Tuy niệm Phật mà tâm tán loạn, việc này như thế nào?

Thượng nhân đáp:

– Nên biết, người xưng danh hiệu Phật, tâm tuy tán loạn, nhưng nhờ nguyện lực của Phật nên nhất định vãng sanh.

 Người đã sanh ở Dục giới thì tâm đều tán loạn, cũng giống như người thọ sanh trong loài người thì có mắt, mũi v.v., nếu phải bỏ tán tâm mới vãng sanh thì không thể có đạo lý này; người tán tâm niệm Phật mà vãng sanh, đó mới là bản nguyện thù thắng.

Tâm phàm phu, làm sao có thể không tán loạn! Tuy tán loạn mà được vãng sanh, đây mới gọi là ‘Dị hành đạo’.

Bản nguyện niệm Phật là chọn lựa của Đức Phật A-di-đà, đồng thời rất ‘thù thắng’, có khả năng khiến cho tất cả chúng sanh dễ dàng, bình đẳng vãng sanh về Báo độ; bất luận là người ngu si hay thấp hèn, một chữ cũng không biết, ai ai cũng đều làm được. Cho nên, bản nguyện niệm Phật rất thù thắng và giản dị.

  1. Quang  minh của Đức Phật A-di-đà chỉ nhiếp thọ hành giả niệm Phật

Một câu danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ đã có đầy đủ nghĩa quang minh, trong kinh A-di-đà, Đức Thế Tôn giải thích danh hiệu Phật A-đi-đà:

Đức Phật A-di-đà có vô lượng quang minh, chiếu khắp mười phương thế giới không có chướng ngại, cho nên gọi là Phật A-di-đà.

Quang minh này của Đức Phật A-di-đà có công năng như thế nào? Quang minh này tự nhiên có năng lực chiếu khắp nhiếp thủ (cứu độ) người niệm Phật. Ở Chân thân quán trong Quán kinh, Đức Thế Tôn giải thích quang minh của Đức Phật A-di-đà:

Quang minh của Đức Phật A-di-đà chiếu khắp mười

phương thế giới, nhiếp thủ tất cả chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ.

Trong Vãng sanh lễ tán, Đại sư Thiện Đạo đã tổng hợp hai đoạn văn trên để giải thích:

Đức Phật A-di-đà có vô lượng quang minh, chiếu khắp mười phương thế giới, không có chướng ngại;
Chỉ quán sát nhiếp thủ tất cả chúng sanh niệm Phật mãi không bỏ, cho nên gọi là Phật A-di-đà.

Lại nữa, trong Quán niệm pháp môn ghi:

Chỉ có chúng sanh chuyên niệm Đức Phật A-di-đà, tâm quang của Đức Phật mới thường chiếu đến người này, nhiếp thủ không bỏ. Nói chung không soi chiếu nhiếp thủ những hành giả tu tạp hạnh khác.

Đoạn văn ‘biến chiếu’ trong Quán kinh sớ, giải thích:

Quang minh của Đức Phật A-di-đà chiếu khắp, nhưng chỉ nhiếp thủ hành giả niệm Phật.

Quang minh của Đức Phật A-di-đà chiếu khắp, nhưng tại sao chỉ nhiếp thủ hành giả niệm Phật, mà không nhiếp thủ những hành giả tu tạp hạnh khác? Đại sư Thiện Đạo dùng ‘tam duyên’ để giải thích, trong đó ‘thân duyên’ thứ nhất nói:

Chúng sanh thường khởi tâm tu hành:
Miệng thường niệm Phật, Phật ắt nghe thấy
Thân thường lạy Phật, Phật ắt nhìn thấy
Tâm thường nhớ Phật, Phật ắt biết rõ
Chúng sanh nhớ Phật, Phật cũng  nhớ chúng sanh.
Tam nghiệp của đôi bên thường không xa lìa nhau,
cho nên gọi là thân duyên (duyên thân thiết).

Thế nên biết, người nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà, thì tự nhiên tâm tương ưng với tâm Phật A-di-đà, căn cơ và giáo pháp đồng một thể, không có sai khác, nên đây gọi là ‘thân’, mà việc vãng sanh Cực Lạc hiện đời đã quyết định, không cần đợi đến lâm chung. Đạo lý này bất luận là người biết hay không biết, người tin hay không tin, bởi pháp này vốn như vậy.

Lại nữa, quang minh của Đức Phật A-di-đà chiếu khắp, sao chỉ nhiếp thủ hành giả niệm Phật, mà không nhiếp thủ những hành giả tu tạp hạnh khác? Bởi vì, các hạnh khác không phải là hạnh bản nguyện, nên Đức Phật A-di-đà không soi chiếu nhiếp thủ; còn niệm Phật là hạnh bản nguyện, cho nên, Đức Phật soi chiếu nhiếp thủ.

Niệm Phật cũng chính là yêu cầu và mệnh lệnh của bản nguyện Phật A-di-đà, đó là lời kêu gọi và thúc giục cứu độ của Đức Phật A-di-đà, nên nói ‘cho đến mười niệm’. Bởi vì bản thân danh hiệu Phật A-di-đà chính là quang minh của Phật A-di-đà, còn gọi là ‘quang minh danh hiệu’; cũng là sinh mạng của Đức Phật A-di-đà, cho nên nói ‘danh tức là thể’. Cho nên, trong Vãng sanh lễ tán, Đại sư Thiện Đạo dùng kệ khen ngợi:

Sắc thân Di-đà như núi vàng
Tướng hảo quang minh chiếu mười phương
Chỉ người niệm Phật được nhiếp thọ
Nên biết bản nguyện mạnh vô cùng.

Lại nữa, trong Bát-chu tán ghi:

Tướng hảo Di-đà tám vạn tư
Mỗi một quang minh chiếu mười phương
Quang minh không chiếu người tạp hạnh
Chỉ tìm người niệm Phật vãng sanh.

Nếu nói về quang minh thì tất cả chư Phật đều có, nhưng quang minh của Đức Phật A-di-đà là tối tôn đệ nhất, quang minh của các Đức Phật không thể sánh bằng, cho nên gọi là tối tôn đệ nhất. Đức Thế Tôn dùng đức của mười hai Phật quang đã nói ở trước, để tán thán một cách tóm tắt rằng:

Quang minh, oai thần cao tột bậc nhất
Quang minh chư Phật không thể sánh bằng.

Lại nữa, Đức Thế Tôn nói công đức, oai thần độc nhất vô nhị, tối cao vô thượng của Đức Phật A-di-đà và đã được tán thán trong kinh Đại A-di-đà:

Đức Phật A-di-đà là vua trong các Đức Phật
Quang minh của Đức Phật A-di-đà là tột cùng trong các quang minh.

Đức Phật A-di-đà là ‘Vua của các Đức Phật’, ‘tột cùng trong các quang minh’. ‘Tột cùng trong các quang minh’, không chỉ một mình Đức Thế Tôn hết lời khen ngợi, mà tất cả mười phương chư Phật đều dị khẩu đồng âm tán thán là ‘bất khả tư nghị’, kinh Vô Lượng Thọ nói:

Hằng hà sa chư Phật Như Lai trong mười phương đều cùng tán thán, công đức, oai thần của Đức Phật Vô Lượng Thọ là bất khả tư nghị.

 Chư Phật, Bồ-tát hộ niệm hành giả niệm Phật

  1. ‘Nhất hướng chuyên xưng’ chính là bản nguyện độc nhất vô nhị của Đức Phật A-di-đà, là hạnh tối cao vô thượng, mình với Đức Phật A-di-đà, căn cơ và giáo pháp là một thể, thường được quang minh của Đức Phật A-di-đà chiếu soi chưa từng xa lìa. Có thể nói, đồng ở một chỗ với Phật, đồng hạnh với Phật, cho nên, được ‘tất cả chư Phật hộ niệm’ (kinh A-di-đà).

Cho nên, trong Vãng sanh lễ tán, Đại sư Thiện Đạo nói:

Nếu có người nào xưng niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà, cầu vãng sanh Cực Lạc, thì thường được Hằng hà sa chư Phật trong sáu phương hộ niệm.

Lại nữa, trong Quán niệm pháp môn ghi:

Người nhất tâm chuyên niệm Phật A-di-đà nguyện vãng sanh Cực Lạc, thì người này thường được Hằng hà sa chư Phật trong sáu phương cùng đến hộ niệm, cho nên gọi là ‘kinh Hộ niệm’.

Ý của ‘kinh Hộ niệm’ là cũng không khiến cho các ác quỷ, ác thần đến hại, cũng không bị bệnh bất ngờ, chết oan, tai nạn khốn cùng, tất cả những tai chướng tự nhiên tiêu mất, trừ người không chí tâm.

Lại nữa, trong Quán kinh, Đức Thế Tôn khen ngợi người niệm Phật:

Nếu người niệm Phật, nên biết người này là hoa Phân-đà-lợi trong loài người. Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí làm bạn tốt của người niệm Phật, cho nên người ấy ngồi nơi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật.

‘Hoa Phân-đà-lợi’ tức là hoa sen trắng nghìn cánh, rất hiếm có ở thế gian, là hoa tôn quý vượt hơn tất cả các loài hoa. Vì hiếm có, tôn quý nên lấy ‘hoa Phân-đà-lợi’ để ví dụ cho người niệm Phật, là người vượt hơn tất cả loài người, biểu thị người niệm Phật đúng là đệ tử của Đức Phật. Người niệm Phật thân tuy ở nhân gian, nhưng đã vượt ra ngoài lục đạo; tuy chưa sanh Cực Lạc, nhưng đã là người của Tịnh độ

rồi.

(Còn tiếp)

Trích Bản Nguyện Niệm Phật

Thích Minh Tuệ

 

 

 

 

 

t

Viết một bình luận