1. TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ CỦA ĐẠI SƯ THIỆN DAO

Nguyên tác: Vương Công Vĩ
Liên Mãn dịch

         Tóm tắt nội dung
Đại sư Thiện Đạo là một danh tăng của đời

Đường, có vị trí quan trọng trong lịch sử Phật

giáo Trung Quốc, ngài đích thực là người sáng lập

tông Tịnh Độ. Tư tưởng Tịnh độ của Đại sư Thiện

Đạo được cấu thành trên ba quan điểm: Thuyết bản

nguyện tha lực, luận về vãng sanh, luận về niệm

Phật. Thuyết bản nguyện tha lực là nền tảng lý

luận của Đại sư Thiện Đạo về tông Tịnh Độ, luận

về vãng sanh là tiêu chí và mục đích để trình bày

tín ngưỡng Tịnh độ, luận về niệm Phật là trọng

điểm và phương tiện nối liền hai vấn đề trên, nó

cũng là bộ phận cốt yếu của lý luận về tông Tịnh

Độ.
       1. Thuyết bản nguyện tha lực
Vào thời của Đại sư Thiện Đạo (613- 681)

đang nảy sinh và lưu hành tư tưởng mạt pháp, vì

Đại sư hết sức lo lắng cho tình trạng chung của đại

đa số quần chúng trong xã hội

* Trang 297 *

nên đã đề xuất học thuyết bản nguyện tha lực.

Ngài xét căn cơ của chúng sanh thời mạt pháp, tố

chất bên trong của họ và điều kiện đủ để được

thành Phật quá chênh lệch, nếu dựa vào sức của

tự thân thì không cách nào được giải thoát, chỉ

nhờ nguyện lực của Đức Phật A-di-đà cứu giúp

mới có thể lìa khổ nạn, vượt thoát sanh tử, vãng

sanh về Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà được hạnh

phúc trọn vẹn.
      1.1. Thiết lập tư tưởng tha lực
Tư tưởng tha lực của Đại sư Thiện Đạo chủ

yếu được thiết lập thông qua lý luận phán giáo.

Phán giáo là xét theo một trình tự nhất định, đem

kinh điển Phật giáo sắp xếp theo tổ hợp, từ đó đưa

ra kinh điển chính yếu mà kinh này y cứ.
Đại sư Thiện Đạo căn cứ trên lý luận phán

giáo về Tịnh độ của các vị Đàm Loan, Đạo Xước

, từ đó chia ra hai đường khó và dễ để tu hành

thành Phật. Ngài cổ xúy đạo dễ hành, phủ định

đạo khó hành, tìm pháp môn đơn giản cho chúng

sanh thời mạt pháp dễ dàng tu tập theo. Lý luận

chủ yếu của đạo khó hành và đạo dễ hành xuất

phát từ tác phẩm Thập trụ tì-bà-sa luận của Long

Thọ. Luận này nói: “Nói đến địa vị A-duy-việt trí

là pháp rất khó, trải qua thời gian lâu dài mới đạt

được. Nếu có đạo dễ hành, có thể nhanh chóng

chứng đắc địa vị A-duy-việt trí, thì đó là lời của kẻ

yếu ớt kém cỏi, không phải là lời nói của bậc

thượng căn thượng trí. Nếu ông nhất định muốn

được nghe pháp phương tiện này, ta sẽ nói cho

ông biết. Phật pháp có vô lượng pháp môn, giống

như những con đường trong thế gian có đường dễ

đi, có đường khó đi; người đi đường bộ thì phải

nhọc nhằn tự mình lội bộ, kẻ đi đường thủy thì

bước xuống thuyền,

* Trang 298 *

thuyền đưa đi rất khỏe khoắn. Con đường của Bồ-

tát cũng giống như vậy, hoặc có khi phải tự mình

siêng năng tinh tấn, hoặc có khi dùng tín phương

tiện, dễ thực hành mà lại nhanh chứng đắc địa vị

A-duy-việt trí. (…) Các Đức Như Lai như vậy,

nếu người muốn nhanh đạt được địa vị bất thoái

chuyển, nên dùng tâm cung kính, chấp trì xưng

niệm danh hiệu”[1]. A-duy-việt là dịch âm từ

Phạn văn, có nghĩa là không thoái chuyển, chỉ cho

hàng phàm phu một khi đã chứng đắc giai vị Bồ

-tát thì không còn quay lại thân phận phàm

, thương xót những người tâm địa kém cỏi nên mới

đưa ra pháp môn phương tiện là đạo dễ hành. Đại

sư Thiện Đạo nhận định rằng, ngài Long Thọ

không chủ trương đạo dễ hành vì thời đại của

ngài chưa phải là thời mạt pháp, chúng sanh phần nhiều là lợi căn, nên đạo khó hành thích hợp với họ. Còn hiện tại, thời Đại sư Thiện Đạo đang sống là thời mạt

pháp, chúng sanh đều là hạng độn căn, không thể

thực hành được pháp môn của bậc thượng căn, họ

không đi nổi con đường nhọc nhằn. Chúng sanh

trong thời mạt pháp, chỉ có một con đường họ có

thể đi được, đó là đạo dễ hành. Bằng không thì

chúng sanh sẽ vĩnh viễn chìm trong dầu sôi lửa

bỏng, không thể giải thoát. Đại sư Thiện Đạo cho

rằng đặc trưng của tông Tịnh Độ là chấp trì danh

hiệu Đức Phật A-di-đà, đây là con đường duy nhất

để chúng sanh thời mạt pháp cầu giải thoát. Long

Thọ tuy cũng đề cập

 

[1] Đại chánh tạng, quyển 26, tr. 41.

 

* Trang 299 *

đạo dễ hành, nhưng không xác định là hạng người

có tâm tánh kém cỏi như thế nào mới nên áp dụng

đạo dễ hành để được cứu thoát. Đại sư Thiện Đạo

thì nhận thức minh bạch quan điểm này, ngài trình

bày và phát huy triệt để tư tưởng bản nguyện tha

lực, dùng đạo dễ hành để giải quyết vấn đề là làm

cách nào để cứu giúp chúng sanh khổ nạn.
     1.2. Tư tưởng bản nguyện
Tư tưởng bản nguyện là đặc trưng chủ yếu

của Phật giáo Đại thừa. Bản nguyện là chỉ cho Bồ-

tát khi đang tu hành, tương lai sẽ thành Phật, ngài

lập thệ nguyện trước khi kiến thiết quốc độ của

mình. Bản nguyện có hai loại là Tổng nguyện và

Biệt nguyện. Tổng nguyện là tất cả Bồ-tát đều có

chung thệ nguyện, đó là “Trên cầu Phật đạo, dưới

độ chúng sanh”. Biệt nguyện là cách riêng mà mỗi

vị Bồ-tát dùng để độ sanh. Kinh điển Tịnh độ

tuyên dương rằng, nói về tư tưởng bản nguyện thì

bản nguyện của Đức Phật A-di-đà là nổi tiếng hơn

hết. Đại sư Thiện Đạo đã căn cứ theo tư tưởng này

để thành lập lý luận về đạo dễ hành. Theo kinh Vô

Lượng Thọ nói: Trước khi thành Phật, tiền thân

của Đức Phật A-di-đà là Bồ-tát Pháp Tạng, khi

đang tu hành trong pháp hội của Đức Phật Thế Tự

Tại Vương, Ngài từng phát ra 48 thệ nguyện vĩ đại

để cứu độ tất cả chúng sanh. Sau đó, trải qua thời

gian tu hành lâu dài, Bồ-tát Pháp Tạng đầy đủ

công đức, được thành Phật. Căn cứ theo lời Thế

Tôn nói trong kinh này thì 48 nguyện của Phật A-

di-đà cũng đã hình thành nên sinh mạng của Ngài,

chúng sanh tu hành chỉ cần ở trong phạm vi 48

nguyện thì nhất định được đầy đủ, từ đây trở thành

một thành viên trong cõi nước của Đức Phật A-di-

đà. Trong

* Trang 300 *

bốn mươi tám nguyện của Đức Phật, xưng danh là

trọng tâm, nguyện thứ 34 đến nguyện thứ 37; 42

đến 45, cùng các nguyện 47, 48 đều xác định rõ

chỉ cần chúng sanh xưng niệm danh hiệu Đức Phật

A-di-đà, liền được vãng sanh. Tư tưởng này đặc

biệt thích hợp với quan điểm cơ bản tha lực thành

Phật của tông Tịnh Độ, đây cũng chính là điểm

được Đại sư Thiện Đạo xem trọng. Theo Đại sư

Thiện Đạo, do chúng sanh thời mạt pháp căn cơ

hạ liệt, hơn nữa, sống trong thời ngũ trược[1] ác

thế Phật pháp hỗn loạn, chúng sanh không cách

nào có thể giải thoát. May mắn gặp được Đức Thế

Tôn với lòng từ bi vô lượng đã mở ra pháp môn

chấp trì danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Chúng sanh

nương vào nguyện lực của Đức Phật A-di-đà, đột

phá sự hạn chế của bản thân, liền được vãng sanh

về quốc độ của Ngài.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng, nguyện lực của

Đức Phật A-di-đà hiện hữu mọi nơi, tồn tại mọi lúc; bất cứ nơi đâu cũng đều khởi tác dụng, bất cứ thời nào cũng đều hiển nhiên tồn tại. Đây là nói đến sức ảnh

hưởng của ngài, có thể tùy thời mà hiển hiện kỳ

tích, can dự vào đời sống của người thế tục. Trong

Quán kinh có nói: “Chư Phật Như Lai là thân pháp

giới vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh,

do đó, khi tâm các ngươi nghĩ tưởng đến Phật, tức

là 32 tướng, 80 tùy hình hảo thì tâm này làm Phật,

tâm này là Phật”[2], đối với đoạn kinh này, Đại sư

Thiện Đạo trình bày như sau: “Nói pháp giới là

cảnh được hóa

 

[1] 五濁: Tức mạng trược, chúng sanh trược, phiền

não trược, kiến trược, kiếp trược.

[2] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 343.

 

* Trang 301 *

hiện, tức là cảnh giới của chúng sanh; nói thân là

thân được hóa hiện, tức là thân chư Phật. Nói vào

trong tâm tưởng của chúng sanh, do vì chúng sanh

khởi niệm mong được thấy Phật, Phật nhờ trí thấy

biết vô ngại, liền hiển hiện trong tâm tưởng của

họ”[1]. Theo Đại sư Thiện Đạo, sở dĩ chúng sanh

có thể thành Phật, kết quả đều là từ nguyện lực

của Đức Phật.
Học thuyết bản nguyện tha lực của Đại sư

Thiện Đạo khác với tự lực tu hành để thành Phật,

học thuyết này của Đại sư đã mang đến một nếp

sống trong lành, phù hợp với giới Phật giáo đương

thời. Đại sư Thiện Đạo nhấn mạnh đến tác dụng

giành cho mọi người nhờ vào sức mạnh từ bên

ngoài của Đức Phật A-di-đà, khiến cho nhân tố tin

tưởng và ngưỡng mộ Phật giáo càng nổi bật, ngài

đã vạch ra lối tu cho giới bình dân đối với Phật pháp.
       2. Luận điểm về vãng sanh
Phật giáo cho rằng chúng sanh ở trong thế

giới này rất đau khổ, không được tự do, muốn

thoát khỏi tình trạng này thì cảnh giới lý tưởng họ

phải đạt đến là niết-bàn, Niết-bàn có hai loại là

Niết-bàn Hữu dư và niết-bàn Vô dư. Niết-bàn Hữu

dư là đã đoạn trừ tham dục, đoạn dứt phiền não,

tiêu diệt nguyên nhân sanh tử, chỉ vì quả báo được

tạo thành do hoặc nghiệp đã tạo tác từ đời trước,

nên còn tồn tại nhục thân. Niết-bàn Vô dư là cảnh

giới cao hơn so với Niết-bàn Hữu dư, trong cảnh

giới này không những đã không tồn tại nhục thân

trước kia, mà tư tưởng cũng dừng lặng, chìm

 

[1] Quán kinh sớ quyển 3, Đại chánh tạng quyển 37, tr. 267.

 

* Trang 302 *

vào trạng thái thân tâm tịch tĩnh, tiêu mất nhân quả

sanh tử, không còn trở lại thọ sanh trong luân hồi.

Theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo, lý luận về

niết-bàn không phù hợp cho nhu cầu thiết yếu của

chúng sanh thời mạt pháp. Niết-bàn Hữu dư dựa

vào tự lực, còn niết-bàn Vô dư không những phải

dựa vào tự lực, mà cảnh giới lại quá cao, đối với

dân chúng thông thường trong hạ tầng xã hội thì

không có ý nghĩa bao nhiêu, do đó ngài đề xuất lý

luận vãng sanh. Vãng sanh chính là xa lìa thế giới

Ta-bà, tức là xa lìa thế giới thế tục, đến cõi Tịnh độ

Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà, hóa sanh trong hoa sen. Đại sư Thiện Đạo cho rằng thế giới mà chúng sanh đang cư ngụ là Uế độ, thế giới Tây phương Cực

Lạc là Tịnh độ, trong cõi Tịnh độ chỉ có hạnh phúc

, không có đau khổ; chỉ có niềm vui, không có buồn phiền. Do nguyện lực vĩ đại của Đức Phật A-di-đà nên tất cả chúng sanh, dù là chúng sanh tạo trọng tội

cực ác, chỉ cần thành tâm xưng danh hiệu của Ngài

thì đều được tiếp dẫn đến thế giới Tịnh độ.
Nội dung học thuyết vãng sanh của Đại sư

Thiện Đạo chủ yếu bao hàm trong hai phương diện

phàm phu luận và Báo độ luận.
         2.1. Luận điểm về phàm phu là chủ thể

vãng sanh
Quan điểm về tông Tịnh Độ của Đại sư Thiện

Đạo là kết quả từ ý thức về mạt pháp, Tịnh tông

cho rằng chúng sanh đều là phàm phu căn cơ thấp

kém. Tư tưởng về phàm phu của Đại sư Thiện Đạo

chủ yếu thể hiện qua cách ngài giải thích về ba bậc

chín phẩm và tư cách của bà Vi-đề-hi trong kinh

Quán Vô Lượng Thọ. Vi-đề-hi là nhân vật trong

Quán kinh, chính bà là nguyên nhân để Đức Phật

tuyên nói kinh này.

* Trang 303 *

Quán kinh đề cập việc người đời khi vãng sanh về

cõi nước Cực Lạc bao gồm trong ba bậc chín phẩm,

tức là ba bậc thượng, trung, hạ; trong đó mỗi bậc lại

chia làm ba phẩm thượng, trung, hạ. Đối với giai vị

của ba bậc chín phẩm này, cách nhìn của các tông

phái Phật giáo Trung Quốc không giống nhau,

trong đó, cách nhận định của ngài Tịnh Ảnh Huệ

Viễn mang tính đại biểu nhất. Đại sư Huệ Viễn cho

rằng ba phẩm bậc thượng là Bồ-tát Đại thừa, ba

phẩm bậc trung là thánh nhân Tiểu thừa, ba phẩm

bậc hạ là phàm phu mới học Đại thừa. Theo ngài

Huệ Viễn, vì căn cơ của chúng sanh không đồng,

sự nỗ lực của mỗi người cũng không đồng, vì vậy

giai vị đạt được ở cõi Tịnh độ cũng không như

nhau. Mặc dù ngài Huệ Viễn không hề hoài nghi

về khả năng vãng sanh của chúng sanh, nhưng Đại

sư Thiện Đạo không đồng ý với quan điểm này.

Đại sư Thiện Đạo đứng trên lập trường tư tưởng

tha lực của tông Tịnh Độ, tuyệt đối phủ định khả

năng chúng sanh có thể dựa vào tự lực để vãng sanh. Theo

quan điểm của Đại sư Thiện Đạo, nhầm lẫn của

ngài Huệ Viễn chính là từ trên quả mà phán định

giai vị của chúng sanh, cho rằng giai vị vãng sanh

mà chúng sanh đạt được là kết quả từ sự nỗ lực của

tự thân họ, quan điểm này vô tình phủ định tác dụng

của tha lực. Đại sư Thiện Đạo cho rằng chúng sanh có thể vãng sanh được đến cõi Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà hoàn toàn là nhờ lòng từ bi của Đức Phật.

Vì chúng sanh trong thời mạt pháp căn cơ chênh

lệch, phải nương theo nguyện lực, phải nương theo

lòng từ bi của Đức Phật A-di-đà thì mới có thể

được cứu giúp, bằng không thì bất luận là họ có

cố gắng đến đâu đi nữa cũng không thể vãng sanh.
Tiếp theo, chúng ta sẽ xét xem Đại sư Thiện

Đạo tiến

* Trang 304 *

hành phân tích và nhận định cụ thể như thế nào đối

với học thuyết ba bậc chín phẩm của Đại sư Huệ

Viễn.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng nếu thừa nhận

theo cách nói ngài Huệ Viễn rằng ba phẩm bậc

thượng chỉ dành cho hàng thánh nhân Đại thừa thì

sẽ có sự mâu thuẫn, vì xét theo kinh Phật thì Đại

thừa thánh nhân là bậc phải có đủ thần thông, đã

thoát khỏi sanh tử luân hồi, là người đã đạt đến

giai đoạn tu hành cao. Nhưng trong Quán kinh lại

nói vì bà Vi-đề-hi thưa thỉnh Đức Thế Tôn, cầu xin

được  vãng sanh về cõi An Lạc nên có ba phẩm bậc

thượng, vậy thì ba phẩm bậc thượng là dành cho

hạng người nào? Đại sư Thiện Đạo cho rằng là thuộc về phàm phu Đại thừa. Quán kinh nói: “Có ba hạng chúng sanh được vãng sanh, một là tâm từ bi

không giết hại, giữ đầy đủ các giới hạnh; hai là

đọc tụng kinh điển Đại thừa; ba là niệm Phật A-di-

đà, hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh về cõi

nước của Ngài, đầy đủ các công đức thì một ngày

cho đến bảy ngày liền được vãng sanh”[1]. Đại sư

Thiện Đạo cho rằng đoạn kinh văn này minh

chứng rằng ba hạng chúng sanh đều là chúng sanh

nguyện được vãng sanh nên được Đức Phật A-di-

đà đến tiếp dẫn, chứng tỏ họ nhờ vào nguyện lực

của Đức Phật A-di-đà nên mới được vãng sanh.

Hơn nữa, đoạn kinh trên còn chứng minh rằng ba

hạng chúng sanh tin tưởng và phụng hành theo là

Phật giáo Đại thừa, cho nên nói là phàm phu Đại

thừa, chỉ vì tình trạng vãng sanh không giống nhau nên mới chia thành ba phẩm. Thượng phẩm thượng sanh được Đức Phật cùng vô số hóa Phật đến tiếp

dẫn, Thượng phẩm trung sanh thì được Đức Phật

cùng một nghìn vị hóa Phật đến tiếp dẫn,

 

[1] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 344.

 

* Trang 305 *

Thượng phẩm hạ sanh thì được Đức Phật cùng năm

trăm vị hóa Phật đến tiếp dẫn. Xuất hiện những sai

khác này là do thuở sanh tiền chúng sanh tạo tác

nghiệp không giống nhau, cho nên sự tương ưng

với nguyện lực của Đức Phật A-di-đà cũng không

như nhau. Tương tự như vậy, Đại sư Thiện Đạo cho

rằng nếu như theo quan niệm của Đại sư Huệ Viễn

mà cho ba phẩm bậc trung thuộc thánh nhân Tiểu

thừa, ba phẩm bậc hạ là phàm phu mới học Đại thừa thì

cũng không thể thành lập được. Từ sự quan sát nhân

duyên được vãng sanh của ba bậc chín phẩm, Đại

sư Thiện Đạo xét thấy điều kiện tiếp xúc bên ngoài

bất đồng nên phán định người được vãng sanh là

phàm phu; còn ngài Huệ Viễn thì từ sự quan sát

nghiệp quả ba bậc chín phẩm mà phán định họ là

thánh nhân. Thông qua sự phê bình đối với ngài

Huệ Viễn, Đại sư Thiện Đạo xác định tính chất

phàm phu của ba bậc chín phẩm, từ đó nâng Quán

kinh lên vị trí cao nhất trong thời mạt pháp.
Lý luận về phàm phu của Đại sư Thiện Đạo

đồng thời cũng phán định tư cách của bà Vi-đề-hi.

Vi-đề-hi là phu nhân của vua Tần-bà-sa-la và là mẹ

của vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà, thuộc trung Ấn Độ. Theo Quán kinh ghi lại, vua A-xà-thế đã cho cầm

tù phụ vương của ông trong bảy lớp ngục thất, có ý

đồ bỏ đói cha mình cho đến chết. Khi phu nhân Vi

-đề-hi đến thăm nom chăm sóc phụ hoàng, vua A-

xà-thế hay tin liền nổi cơn thịnh nộ cũng đem mẹ

mình giam vào cung cấm. Vi-đề-hi và vua Tần-bà-

sa-la chán nản thế thái nhân tình, nên ở trong ngục

họ thầm niệm Đức Phật Thích-ca, thỉnh cầu Đức

Thế Tôn dạy cho họ con đường thoát ly. Đức Phật

liền hiển thị thần thông, tuyên nói Quán kinh, dạy

họ xưng danh niệm Phật là con đường

* Trang 306 *

thoát ly sanh tử cho chúng sanh thời mạt pháp. Căn

cứ theo ý này, ngài Tịnh Ảnh Huệ Viễn và Đại sư

Thiên Thai Trí Giả đều cho rằng Vi-đề-hi là đại Bồ-

tát, vì thương chúng sanh đau khổ nên thị hiện thân

phàm phu để thỉnh cầu Đức Thế Tôn thuyết pháp

cho chúng sanh. Trong Quán kinh sớ, ngài Huệ

Viễn nói: “Phu nhân Vi-đề-hi thật sự là một Bồ-tát

lớn, do đó liền đắc Vô sanh pháp nhẫn”[1]. Cũng

trong Quán kinh sớ, Đại sư Trí Khải nói: “Vi-đề-hi

là một Bồ-tát lớn, do đó liền đắc Vô sanh nhẫn”[2]. Vô sanh nhẫn là chỉ cho bậc đã ngộ được đạo lý các pháp vốn bất sanh bất diệt, tiến lên giai vị Bồ-tát.

Kết luận của các ngài chủ yếu căn cứ theo câu: “

Tâm sanh hoan hỉ, khen chưa từng có, hoát nhiên

đại ngộ, đắc Vô sanh nhẫn”[3] được nói trong

Quán kinh. Đại sư Thiện Đạo không đồng ý với

quan điểm trên, mà cho rằng Vi-đề-hi là phàm phu.

Trong Quán kinh sớ, ngài nói: “Phu nhân là phàm chứ không phải thánh, vì bà không phải là thánh nên

mới một lòng cầu xin Thánh lực gia hộ; do nương

theo Phật lực, nên bà có thể thấy được Cực Lạc

của Đức Phật A-di-đà dù cõi này ở rất xa. Ý đoạn

kinh trên muốn nói là Đức Như Lai vì e chúng sanh

ngu si, nếu cho rằng phu nhân Vi-đề-hi là thánh nhân chứ không phải phàm phu thì họ nổi lên nghi ngờ rồi đâm ra hèn nhát. Họ cho rằng nếu Vi-đề-hi là Bồ-tát thị hiện thân phàm, thì bọn tội nhân chúng ta làm

sao mà sánh được với bà. Vì muốn cắt đứt sự nghi

ngờ này cho chúng sanh nên Đức Thế Tôn bảo

rằng: Ngươi là phàm phu, tâm tưởng yếu ớt. Vì là

phàm phu nên chưa từng có

 

[1] Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 179.

[2] Sđd., tr. 191.

[3] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 346.

 

* Trang 307 *

chí lớn”[1]. Đại sư Thiện Đạo đã làm sáng tỏ vấn

đề, Vi-đề-hi sở dĩ có thể thấy được cảnh tượng

trong quốc độ của Đức Phật A-di-đà là nhờ vào

nguyện lực của Phật, chứ không phải vì phu nhân

là Bồ-tát. Nếu nói Vi-đề-hi là Bồ-tát thì hàng phàm

phu thế tục sẽ e ngại mà chùn bước, vì vậy Đức Phật

nói: “Ngươi là phàm phu, tâm tưởng hạ liệt”[2].

Định tánh phàm phu của Vi-đề-hi và tư tưởng tha

lực trong Quán kinh thống nhất với nhau. Do Vi-

đề-hi là phàm phu, nên bà không thể dựa vào sức

của mình để được vãng sanh, mà hiện thực thì Vi-

đề-hi đã được vãng sanh, đó là tác dụng từ nguyện

lực của Đức Phật A-di-đà. Vi-đề-hi có thể vãng

sanh, vậy thì phàm phu thế tục cũng có phần, họ

cũng có thể nương vào nguyện lực của Đức Phật

A-di-đà mà vãng sanh về Tịnh độ. Cách nói này

của Đại sư Thiện Đạo có tác dụng rất lớn, thu hút

mọi người tin tưởng không nghi ngờ về cõi nước

của Đức Phật.
Từ những điều nêu trên, có thể nhận thấy lý

luận về phàm phu của Đại sư Thiện Đạo chủ yếu

là muốn giải quyết vấn đề vãng sanh. Ngài áp dụng

một phương thức rất đặc biệt, trước hết phủ định

khả năng tự lực của chúng sanh, sau đó nêu lên nguyện

lực của Đức Phật A-di-đà, giúp chúng sanh nương

theo sức bên ngoài để được vãng sanh, vì vậy cách

nhìn của Đại sư Thiện Đạo đối với chúng sanh thời

mạt pháp và phương thức mà ngài chọn để áp dụng

có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy trên mặt lý luận,

Đại sư Thiện Đạo cũng đặt ra giả thuyết chúng

sanh có khả năng tự vãng sanh nhưng ngài không

thể không lưu ý

 

[1] Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 260.

[2] Kinh Quán Vô Lượng Thọ; Đại chánh tạng,

quyển 12, tr. 341.

 

* Trang 308 *

đến tình trạng hiện thực của chúng sanh, không

phải bất cứ người nào trong xã hội cũng đều có

cảm tình với Phật giáo, thậm chí họ còn tỏ thái độ

chống đối quyết liệt. Nếu như ngài không tiến

hành phân tích làm sáng tỏ vấn đề, mà chỉ một

mực chú trọng đề cập đến việc vãng sanh thì sẽ

làm giảm đi sức thu hút của tông Tịnh Độ đối với

mọi người. Đại sư Thiện Đạo nhấn mạnh rằng tất

cả chúng sanh đều có thể vãng sanh, ngài cũng chỉ

 

ra sự bất đồng khi vãng sanh. Như đã nói ở trước,

Thượng phẩm thượng sanh thì được Tây phương

tam Thánh (Đức Phật A-di-đà, Bồ-tát Đại Thế Chí,

Bồ-tát Quán Thế Âm) cùng vô số hóa Phật và đại

chúng đến nghênh đón, hoa sen cũng liền nở ra. Hạ

phẩm hạ sanh thì không có người đến nghênh đón,

hoa sen cũng phải trải qua thời gian mười hai kiếp

dài đằng đẵng mới nở, sau đó Bồ-tát Đại Thế Chí,

Bồ-tát Quán Thế Âm mới thuyết pháp cho họ. Đại

sư Thiện Đạo rất tin tưởng về việc vãng sanh của

chúng sanh, đối với việc vãng sanh khác nhau của

họ, ngài tiến hành phân tích chia chẻ rõ ràng,

nhằm thu hút mọi người trong mọi giai tầng xã hội

đều tin tưởng và ngưỡng mộ về Tịnh độ của Đức

Phật A-di-đà.
       2.2. Luận về đối tượng được vãng sanh Báo

 độ
Đại sư Thiện Đạo khẳng định rằng chúng sanh nhờ tác dụng từ nguyện lực của Đức Phật A-di-đà mới có thể vãng sanh về quốc độ của Ngài.
Nói về cõi nước của Đức Phật A-di-đà là chỉ

cho thế giới Báo độ của Ngài. Để lý giải trọn vẹn

tư tưởng của Đại sư Thiện Đạo về Báo độ, không

thể thiếu việc giới thiệu tóm tắt quan điểm của giới

Phật giáo đối với Tịnh độ. Giới

* Trang 309 *

học giả Phật giáo Trung Quốc có ba quan niệm

tiêu biểu về Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà.
Thứ nhất, cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-

di-đà là ‘sự Tịnh độ’, đó là Tịnh độ mà phàm phu

tu hành đạt được, quan điểm này thừa nhận phàm

phu có thể vãng sanh về Tịnh độ. Các ngài Tịnh

Ảnh Huệ Viễn, Đại sư Trí Giả của tông Thiên

Thai và ngài Cát Tạng thuộc Tam Luận tông đều

chủ trương quan điểm này.
Thứ hai, cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-

di-đà là Báo độ, đó là cõi nước mà Đức Phật A-di

đà tu hành đạt được, chỉ có các Đức Phật và hàng

Bồ-tát mới có thể vãng sanh, phàm phu không có

phần. Đây là quan điểm của Nhiếp Luận sư.
Thứ ba, cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-di-

đà vừa là Báo độ, vừa là Hóa độ. Hóa độ là cõi nước được Đức Phật biến hóa ra để độ khắp chúng sanh, đây là chỗ chúng sanh vãng sanh về, còn Đức Phật

thì ở tại thế giới Báo độ. Các ngài Ca Tài, Nguyên

Hiểu chủ trương quan điểm này.
Cả ba quan điểm kể trên đều có một điểm

chung là không thừa nhận phàm phu có thể vãng

sanh về Báo độ.
Đại sư Thiện Đạo có cách nhìn riêng, không

giống những quan điểm nêu trên, không những

ngài cho rằng Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà là

Báo độ, mà còn thừa nhận hàng phàm phu cũng

được vãng sanh về cõi này.
Nói Báo độ, Hóa độ là căn cứ theo thuyết tam

thân của Đức Phật, tam thân Phật là Pháp thân,

Báo thân và Hóa thân. Pháp thân là thân chân thật

của Đức Phật, đó là sự tồn tại không thể nghĩ bàn;

Báo thân là Đức Phật

* Trang 310 *

hiện hữu trong thế giới thanh tịnh, chứng đắc bồ-

đề vô thượng; Hóa thân là Đức Phật hiện hữu trong

thế giới uế trược mà chứng đắc bồ-đề vô thượng.

Đại sư Thiện Đạo cho rằng quốc độ của Đức Phật

A-di-đà là Báo độ, là Tịnh độ được thành tựu nhờ

quá trình tu tập từ nhân địa quá khứ của Đức Phật,

đó là Tịnh độ mà Báo thân Phật cư trú. Lý do đầu

tiên là vì Đức Phật A-di-đà không có thân bát

tướng, thân bát tướng này là tiêu chí hóa thân của

các Đức Như Lai. Nghĩa là chư Phật vì muốn độ

khắp chúng sanh, trước sau sẽ thị hiện qua tám giai

đoạn: Bồ-tát từ cung trời Đâu-suất giáng hạ đến thế giới Ta-bà, nhập thai, trụ thai, xuất thai, thành đạo, chuyển pháp luân (truyền pháp), nhập niết-bàn. Vì

Đức Phật A-di-đà không có tám tướng này nên

thân Ngài là Báo thân chứ không phải Hóa thân.
Tiếp theo, Đại sư Thiện Đạo cho rằng thân

của Đức Phật A-di-đà là thân đáp ứng với nhân,

cho nên là Báo thân. Kinh Vô Lượng Thọ có nói

về việc Bồ-tát Pháp Tạng phát nguyện: “Nếu Tôi

thành Phật, chúng sanh ở mười phương xưng danh

hiệu của Tôi, chuyên nhớ nước Tôi, trồng những

cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về

nước Tôi mà chẳng được toại nguyện thì Tôi không thành Chánh giác”[1]. Đại sư Thiện Đạo nói: “Hiện tại, Bồ-tát Pháp Tạng đã thành Phật, tức là thân đáp

ứng với nhân”[2]. Nhưng thân đáp ứng với nhân

cũng có hai loại là Báo thân và Hóa thân: Báo thân là sự tồn tại nhờ sự tu nhân mà cảm được quả làm thể, Hóa thân là sự tồn tại tùy duyên thị hiện. Đức Phật

A-di-đà không phải là tùy duyên thị hiện, cho nên

Đại sư

 

[1] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 268.

[2] Quán kinh sớ, quyển 1; Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 250.

 

* Trang 311 *

Thiện Đạo cho rằng thân đáp ứng với nhân địa tu

hành của Ngài là Báo thân.
Kế đến, Đại sư Thiện Đạo lại dẫn chứng

Quán kinh. Trong Quán kinh, đề cập việc khi lâm

chung, hạng người đắc ba phẩm bậc thượng sẽ

được: “Đức Phật A-di-đà cùng những vị hóa Phật

đến tiếp đón”. Đại sư Thiện Đạo cho rằng, kinh

văn đã xác định rõ rằng Đức Phật A-di-đà là Báo

thân mà chẳng phải là Hóa thân, vì: “Thân của

Phật Vô Lượng Thọ (Phật A-di-đà) vô biên, hạng

phàm phu tâm lượng nhỏ hẹp không thể nào biết

được”[1]. Theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo,

vì chúng sanh căn cơ kém cỏi, nên chỉ có thể thấy

được Hóa thân của Đức Phật A-di-đà thị hiện để

nghinh tiếp, chứ không thể nào thấy được Báo thân

cao diệu của Ngài.
Khi Đại sư Thiện Đạo khẳng định rằng thân

của Đức Phật A-di-đà là Báo thân, thì ngài cũng

gặp phải mâu thuẫn, đó là trong kinh Quán Âm thọ

 kí có đề cập đến việc Đức Phật A-di-đà cũng sẽ

nhập Niết-bàn, như vậy, nếu nói rằng thân Phật Di-

đà là Báo thân thì không khớp với báo thân Phật

thường trụ bất diệt. Về việc này, Đại sư Thiện Đạo

giải thích như sau: Vấn đề Đức Phật A-di-đà nhập

Niết-bàn hay không nhập Niết-bàn, đó là cảnh giới

mà chỉ có Phật cùng Phật mới biết được. Vì khuyến

khích chúng sanh tu hành nên Đức Phật mới nói Niết

-bàn là bất diệt. Trên căn bản, Niết-bàn cũng là

không, nó không phải là mục tiêu để chúng sanh

hướng đến[2]. Đại sư Thiện Đạo đặt trọng điểm tư

tưởng của ngài ở chỗ phải giải quyết tốt nhất cho

tầng

 

[1] Kinh Quán Vô Lượng Thọ; Đại chánh tạng,

quyển 12, tr. 344.

[2] Quán kinh sớ, quyển 2; Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 250-251.

 

* Trang 312 *

lớp bình dân về vấn đề lý tưởng tốt đẹp mà họ nên

truy cầu. Theo ngài, Đức Phật A-di-đà có nhập

Niết-bàn hay không nhập Niết-bàn, với tông Tịnh

Độ thật sự không phải là vấn đề quan trọng, mà

quan trọng là chúng sanh nên vãng sanh về thế giới

Báo độ của Đức Phật để thọ hưởng hạnh phúc, vứt

bỏ những khổ đau nơi trần thế.
Xét theo lý luận thông thường của Phật giáo,

Báo độ là thế giới vô cùng tốt đẹp, chỉ có thánh

nhân Đại thừa mới có thể cư ngụ, hạng phàm phu

tầm thường không đủ tư cách để đặt chân vào cõi

này. Nhưng Đại sư Thiện Đạo lại khẳng định

chúng sanh cũng đến được thế giới Báo độ, cách

giải quyết của ngài đặt căn bản trên nguyện lực

của Đức Phật A-di-đà. Theo Đại sư Thiện Đạo,

thế giới Báo độ của Đức Phật A-di-đà là kết quả

từ sự tu hành của Bồ-tát Pháp Tạng trải qua thời

gian rất dài lâu, đó là kết quả báo đáp lại hạnh

nguyện của Ngài từ quá khứ. Hạng phàm phu bình

thường cũng có thể nương theo nguyện lực của

Đức Phật A-di-đà, đột phá những hạn chế của bản

thân, trực tiếp tiến vào thế giới Báo độ. Nếu phàm

phu không thể vãng sanh về Báo độ của Đức Phật

A-di-đà thì thệ nguyện của Bồ-tát Pháp Tạng cũng

bằng không, và Ngài không thể thành Phật. Trên

thực tế thì Bồ-tát Pháp Tạng đã thành Phật, thệ

nguyện của Ngài đã có kết quả, vậy thì phàm phu

có thể vãng sanh về Báo độ.
Quan điểm bản nguyện tha lực của Đại sư

Thiện Đạo đã chứng minh rằng chúng sanh thời

mạt pháp cũng có khả năng được vãng sanh về Báo

độ cao tột của Đức Phật A-di-đà, khả năng này

muốn biến thành hiện thực, phải có một phương

pháp nhất định, đó chính là học thuyết niệm Phật

của Đại sư Thiện Đạo.

* Trang 313 *

  1. Tư tưởng niệm Phật
    Từ niên hiệu Quang Hòa thứ 2 (179 TL), đời

vua Linh Đế, thời Đông Hán, ngài Chi-lâu-ca-sấm

dịch kinh Bát-chu tam-muội, thì tư tưởng niệm

Phật mới bắt đầu truyền vào Trung Quốc. Sau đó,

thời Ngô, ngài Chi Khiêm; thời Tây Tấn, ngài

Trúc Pháp Hộ dịch các kinh: Kinh Đại A-di-đà

(tức kinh Vô Lượng Thọ), kinh Bình đẳng viên

 giác. Thời Diêu Tần, ngài Cưu-ma-la-thập; thời

Lưu Tống, ngài Bảo Vân dịch các kinh: Kinh A-di-

đà, Thập trụ tỳ-bà-sa luận, kinh Vô Lượng Thọ,

 kinh Quán Vô Lượng Thọ lưu hành đi các nơi.
Sau khi tư tưởng niệm Phật được truyền vào

Trung Quốc, trải qua quá trình từ quán tưởng niệm

Phật, rồi sau đó mới thịnh hành chủ trương trì danh

niệm Phật. Quán tưởng niệm Phật là chỉ cho một loại thiền định, tức là thông qua tịnh tọa nhập định,

hành giả quán tưởng những tướng hảo và công đức

oai thần của Đức Phật cùng sự trang nghiêm thù

thắng trên cõi Tịnh độ của Ngài. Trì danh niệm

Phật tức là miệng xưng niệm danh hiệu Đức Phật,

như nói: Người niệm danh hiệu Đức Phật được bảy

vạn, mười vạn câu sẽ được thành Phật.
Ở Trung Quốc, tư tưởng niệm Phật vào thời

kỳ đầu thông thường là quán tưởng niệm Phật,

nhân vật tiêu biểu trong giai đoạn này là ngài Lô

Sơn Huệ Viễn, một vị danh tăng thời Đông Tấn.

Quan điểm niệm Phật của ngài Huệ Viễn xuất phát

từ nhân quả báo ứng, tín ngưỡng Tịnh độ Di-đà, hy

vọng vãng sanh Tịnh độ Tây phương, thoát khỏi sự

thống khổ của kiếp người. Trong Niệm Phật tam-muội thi tập tự, hàm ý của ngài khi trình bày và phân tích quan điểm niệm Phật là nhằm làm sáng tỏ tính chất

và tác dụng

* Trang 314 *

của niệm Phật tam-muội. Ngài cho rằng tam-muội

chính là chuyên tư tịch tưởng, là một loại công phu

thiền định: “Cho nên nay người nhập định này,

vắng bặt thấy biết, khi đối duyên xúc cảnh, tâm

thức chiếu soi tựa như gương”[1]. Trong kinh Tọa

thiền tam-muội, ngài đem niệm Phật tam-muội

chia làm ba bước:
Thứ nhất, trước tiên quán nhìn tượng Phật,

khiến toàn bộ tư duy của mình đều tập trung lên

tượng Phật.
Thứ hai, trên nền tảng đó, quán tưởng những

hình sắc tốt đẹp của Đức Phật.
Thứ ba, quán tưởng vô lượng trí huệ, công đức pháp thân của Đức Phật, đạt đến mức “chỉ chuyên quán tưởng hai việc: Thân Phật như hư không và

công đức của Ngài, không xen tạp niệm nào khác,

tâm được tự tại”[2].
Ngài Huệ Viễn cũng từng thỉnh vấn với ngài

Cưu-ma-la-thập vấn đề niệm Phật tam-muội thế

nào để thấy được trọn vẹn sắc tượng của Đức Phật,

ngài đặt vấn đề: “Các kinh điển nói về thân tướng

của Đức Phật đều mô tả rằng thân tướng của Phật

có đầy đủ ánh sáng chiếu suốt mọi nơi, đoan nghiêm không gì bằng,…Pháp thân chân thật ấy có đúng như vậy chăng?”[3]; ‘Phật sở duyên chính là pháp thân

 

chân thật của Đức Phật, hay đó là thân biến hóa?’[4].
Có thể thấy, quan điểm niệm Phật của ngài

Huệ Viễn

 

[1] Cao tăng truyện, quyển 2; Đại chánh tạng,

quyển 50, tr. 359.

[2] Đại chánh tạng, quyển 15, tr. 281.

[3] Viễn Thập Đại thừa yếu nghĩa vấn đáp, Tục tạng kinh, quyển 2, tập 1, cuốn 1, tr. 4.

[4] Sđd., tr. 5.

 

* Trang 315 *

là quán tưởng niệm Phật chứ không phải là xưng

danh niệm Phật.
Trong Lược luận an lạc Tịnh độ nghĩa, ngài

Đàm Loan nói:
“Hoặc niệm danh tự Phật, hoặc niệm tướng

hảo của Phật, hoặc niệm quang minh của Phật,

hoặc niệm thần lực của Phật, hoặc niệm công đức

của Phật, hoặc niệm trí huệ của Phật, hoặc niệm

bản nguyện của Phật; không có niệm khác xen vào

làm gián đoạn, tâm tâm nối tiếp nhau cho đến mười

niệm gọi là thập niệm… khi lâm chung, vì xưng danh hiệu Đức Phật A-di-đà, nguyện sanh cõi An Lạc,

từng câu từng câu nối tiếp nhau, liền thành thập

niệm… người này khi mạng chung liền được sanh

 

về cõi An Lạc”[1].
Trong đoạn văn này, Đại sư Đàm Loan nêu ra

hai phương pháp niệm Phật, đó là quán tưởng niệm Phật và xưng danh niệm Phật. Điều này cho thấy, dù quán tưởng niệm Phật vẫn chiếm vị trí chủ đạo

\nhưng Đại sư Đàm Loan đã bắt đầu hướng về xưng

danh niệm Phật.
Đại sư Đạo Xước nắm bắt tình hình rất nhạy

bén, đúng lúc tư tưởng mạt pháp hưng khởi, ngài

căn cứ theo kinh Đại tập nguyệt tạng, đưa ra quan

điểm: “Chư Phật Như Lai có vô lượng, hoặc Tổng

hoặc Biệt, nếu chúng sanh nào nhiếp tâm xưng

niệm thì không ai chẳng được trừ tội tăng phước,

đều sanh ra ở trước Phật, đó là danh hiệu độ chúng

sanh. Tính ra chúng sanh thời nay, cách thời Đức

Phật Thích-ca diệt độ

 

[1] Đại chánh tạng, quyển 47, tr. 3.

 

* Trang 316 *

đã là 500 năm thứ tư[1], chính là thời tu phước sám

hối, xưng danh hiệu Phật. Vì một lần xưng niệm

danh hiệu Phật A-di-đà thì có thể diệt trừ tội sanh

tử trong 80 ức kiếp”[2].
Trong Đạo Xước truyện, có nói ngài Đạo

Xước khuyên người niệm danh hiệu Đức Phật A-di

đà, dùng hạt đậu nhỏ để đếm số lần niệm. Ngài còn

dạy người niệm Phật xâu hạt mộc làm thành chuỗi

để tính số. Tư tưởng xưng danh niệm Phật của Đại

sư Đạo Xước có tác dụng mở đường để phát sanh

ra pháp môn xưng danh niệm Phật của Đại sư

Thiện Đạo sau này.
Đại sư Thiện Đạo kế thừa tư tưởng niệm Phật

của Đại sư Đàm Loan, ngài đem nó hệ thống hóa,

sắp xếp thành lý luận niệm Phật hoàn chỉnh. Nhìn

chung, tư tưởng niệm Phật của Đại sư Thiện Đạo

chủ yếu thể hiện trên những quan điểm sau.
      3.1. Thuyết tam tâm
Như đã đề cập ở trước, cho dù Đức Phật A-

 

di-đà có nguyện lực rộng lớn, có thể độ khắp chúng sanh, nhưng nguyện lực này của Ngài cũng không thể tự phát khởi tác dụng lên chúng sanh được, nó đòi

hỏi chúng sanh trước tiên phải có mong muốn

được vãng sanh. Thuyết tam tâm mà Đại sư Thiện

Đạo đề cập, chính là vị trí của chủ thể niệm Phật.

 

[1] Sau Phật diệt độ có 5 cái 500 năm, pháp tu học

đều khác nhau: 500 năm thứ nhất, học huệ được

kiên cố; 500 năm thứ hai, học định được kiên cố,

500 năm thứ ba, đa văn, đọc tụng kiên cố; 500 năm

thứ tư, chuyên tạo lập chùa tháp, tu phước, sám

hối kiên cố; 500 năm thứ năm bạch pháp ẩn tàng,

chỉ có chút thiện pháp được kiên cố (Theo kinh

Đại tập nguyệt tạng-Kinh đại phương đẳng đại tập

quyển 55).

[2] An lạc tập, quyển thượng; Đại chánh tạng,

quyển 47, tr. 4.

 

* Trang 317 *

      3.1.1. Tâm chí thành
Tâm chí thành tức là tâm chân thật, Đại sư

Thiện Đạo nói: “Chí là chân, thành là thật”[1].

Ngài cho rằng, chúng sanh phải lấy chân thật làm

nền tảng để phát khởi tu hành trên cả ba phương

diện: Thân, khẩu, ý; không thể “bên ngoài hiện

tướng hiền thiện tinh tấn, bên trong ôm lòng giả

dối”[2], cần phải tâm khẩu nhất như, nếu tu hành

không chân thật thì không thể vãng sanh Tịnh độ.

Đức Phật A-di-đà khi còn là Bồ-tát, nhất cử nhất

động, cho đến 48 nguyện của Ngài đều đặt nền

tảng trên sự chân thật. Nay chúng sanh muốn

nương vào Đức Phật A-di-đà để được vãng sanh

thì nhất định phải lấy Phật A-di-đà làm gương để

tu hành, nếu không thì không thể phù hợp với thệ

nguyện của Ngài, hẳn nhiên sẽ không thể giải thoát.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng ‘chân thật’ hàm

ý trên hai phương diện, tức là chân thật tự lợi và

chân thật lợi tha. Người chân thật tự lợi là trong

mỗi niệm đều xả bỏ các việc ác, xả ly uế độ và

niệm niệm siêng tu các điều thiện. Nói về vấn đề

siêng tu, tông Tịnh Độ lại lý giải trên hai phương

diện: Tu thiện tức là dừng ác, mà dừng ác cũng

chính là tu thiện, nên tu thiện và dừng ác đều quan

trọng như nhau, không thể thiếu một trong hai.
Chân thật lợi tha, tức là chúng ta lấy việc bỏ

ác song song với siêng năng hành thiện để gây ảnh

hưởng đến cộng đồng, khiến cho họ bỏ ác làm lành, cũng siêng tu Tịnh độ giống như chúng ta. Cũng có nghĩa là: “Ta muốn làm nên

 

[1] Quán kinh sớ, quyển 4, Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 270.

[2] Sđd., tr. 271.

 

* Trang 318 *

thì giúp người làm nên, ta muốn thành đạt thì giúp

người thành đạt”[1]. Đại sư Thiện Đạo cho rằng,

trong toàn bộ việc tu hành thì tâm chân thật rất

quan trọng. Người tu hành mà không có tâm chân

thật là một thứ thiện tạp độc, là hành vi lừa gạt,

một là lừa mình, hai là lừa người. Đức Phật A-di-

đà là bậc toàn tri toàn năng, bất luận chúng sanh có

hành vi giả dối ra sao đều không qua được pháp

nhãn của Ngài. Nếu chúng sanh dùng thiện tạp độc

để cầu sanh Tịnh độ, sẽ vĩnh viễn không đạt được

mục đích. Người muốn vãng sanh Tịnh độ là

người đã thật sự cảm nhận được một cách sâu sắc

cuộc sống nhân sanh đau khổ, là vì muốn giải thoát

triệt để, là muốn thành toàn việc lớn của một đời

người. Nếu ai tự lừa dối mình, mới chỉ xét trên mặt

tự lợi, kết quả đã phải vĩnh viễn bị đọa trong biển khổ của kiếp người.
Nguy hại của việc tự lừa dối mình không chỉ

giới hạn nơi tự thân kẻ đó, mà còn làm liên lụy đến

người khác. Bởi vì trong lòng họ giả dối, nhưng

bên ngoài lại hiện tướng siêng năng, mọi người

nhìn thấy người nọ siêng năng như vậy mà còn

không được vãng sanh, liền đâm ra nghi ngờ khả

năng vãng sanh của mình. Vô hình trung, người

mà “bên ngoài hiện tướng hiền thiện tinh tấn, bên

trong ôm lòng giả dối” kia đã làm ảnh hưởng tín

tâm của mọi người đối với tín ngưỡng Tịnh độ, rốt

cuộc làm trở ngại bước chân của chúng sanh tiến

lên con đường giải thoát, tội này chẳng phải nhỏ!

Ngược lại, nếu tất cả đều xuất phát từ tâm chân

thật của chúng ta, thì ngay đó đã đem đến cho

người khác tấm gương vãng sanh, gián tiếp dẫn dắt

mọi người quay về nương tựa vào Tịnh độ.

 

[1]己欲立而立人,己欲達而達人 (Luận ngữ,

Khổng Tử).

 

* Trang 319 *

Theo một số sách ghi lại hành trạng của Đại

sư Thiện Đạo, thì ngài đúng là một bậc mô phạm:

[“Hơn ba mươi năm ngài chưa từng đặt lưng xuống

chiếu, rất ít ngủ nghỉ, trừ tắm rửa ra thì thân không

rời ca sa; tu hạnh bát-chu tam-muội, lấy việc tụng

[ kinh lễ Phật làm hạnh nghiệp, giữ gìn giới hạnh

một mảy may cũng không phạm. Ngài chưa từng

liếc mắt nhìn nữ nhân, không móng tâm danh lợi,

cũng không từng có một lời nói đùa”[1]. Tinh thần

của Đại sư Thiện Đạo ảnh hưởng rộng đến mọi

tầng lớp trong xã hội thời bấy giờ, đến nỗi: “Tăng

tục trong kinh thành và các châu, có người tự gieo

mình từ núi cao xuống vực, hoặc có người tự trầm

mình vào dòng suối sâu, hoặc có người tự gieo

mình từ trên cành cây cao xuống, hay là thiêu thân

[cúng dường, xa gần cũng khoảng hơn trăm người.

 

Họ tu các phạm hạnh, xả bỏ vợ con, đọc tụng kinh

 A-di-đà từ mười vạn đến ba mươi vạn lần, niệm

danh hiệu Phật một ngày được một vạn năm nghìn

câu đến mười vạn câu, đắc niệm Phật tam-muội,

những người được vãng sanh Tịnh độ nhiều không

kể xiết”[2]. Xem đây thì đủ biết, Đại sư Thiện Đạo

[có sức ảnh hưởng vô cùng lớn lao đối với quần

chúng thời bấy giờ.
     3.1.2. Tâm tin tưởng sâu sắc
Trong Quán kinh sớ, Đại sư Thiện Đạo nói:

“Nói thâm tâm, tức là tâm tin tưởng sâu sắc”[3].

Thâm tâm còn gọi là thâm tín, tức là tâm tin tưởng

sâu sắc, là có tín tâm sâu dày đối với Phật pháp.

 

Đại sư Thiện Đạo rất xem trọng thâm

 

[1] Tân tu vãng sanh truyện, Hắc cốc thượng nhân

ngữ đăng lục, quyển 9, Đại chánh tạng, quyển 83,

  1. 158.

[2] Sđd., tr. 158.

[3] Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 271.

 

* Trang 320 *

tâm, ngài triển khai trình bày và phân tích trên hai

phương diện chủ thể và khách thể.
Phương diện thứ nhất, Đại sư Thiện Đạo cho

rằng chủ thể cần phải xác định tâm tin tưởng sâu sắc

thế nào, tức là phải tin tưởng rằng chính ta đang là

một phàm phu sống trong thời mạt pháp, cần phải

phủ định hoàn toàn khả năng của tự thân, không thể

nương vào sức của mình để được vãng sanh thành

Phật.
Phương diện thứ hai, Đại sư Thiện Đạo lại từ

phương diện khách quan xác lập tâm tin tưởng sâu

sắc, nội dung có ba điểm:
– Phải tin tưởng tuyệt đối vào 48 nguyện nhiếp

thọ chúng sanh của Đức Phật A-di-đà, chúng sanh

nương vào nguyện lực của Phật, chắc chắn được

vãng sanh.
– Phải tin tưởng nhị thiện định tán, cửu phẩm,

tam phước mà Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã nói

trong Quán kinh.
– Tin tưởng sâu sắc kinh A-di-đà, chư Phật đến

chứng tín cho việc xưng danh được vãng sanh.
Thông qua việc trình bày và phân tích chặt chẽ,

Đại sư Thiện Đạo đã xác định tầm quan trọng của

kinh điển Tịnh độ trong thời mạt pháp, ngài mong

mỏi mọi người có niềm tin thật vững chắc đối với

Tịnh độ.
Xét trên bề mặt, hai phương diện chủ thể và

khách thể của thâm tâm có chút mâu thuẫn, Đại sư

Thiện Đạo nhấn mạnh rằng trên thực tế hai phương

diện này hoàn toàn thống nhất với nhau. Theo Đại

sư Thiện Đạo, chúng sanh tội ác sâu nặng khó có

thể được cứu, bởi vì nhận thức trọn vẹn được trình

độ của tự thân là vô cùng yếu ớt, dựa vào tự

* Trang 321 *

lực thì không có cách nào được giải thoát, nên họ có

thể buông bỏ tất cả những thấy biết lệch lạc, một

lòng trông mong vào nguyện lực từ bi của Đức Phật

A-di-đà. Nhìn theo góc độ này thì chúng ta cách cõi

nước Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà không xa.

Ngược lại, nếu tự thị trình độ của mình là giỏi, không tin tưởng rằng ta là chúng sanh cần nương vào nguyện lực của Đức Phật A-di-đà thì giữa Ngài và

chúng ta có khoảng cách rất xa.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng một khi đã có được

tâm thâm tín thì chúng ta sẽ chỉ một lòng tin tưởng

vào lời Phật, trong kinh Đức Phật dạy như thế nào

thì chúng ta vâng làm như thế ấy. Hẳn nhiên, sẽ xuất hiện những người lợi dụng kinh điển của Đức Phật để phê bình tình hình tín ngưỡng Tịnh độ. Đại sư Thiện

Đạo cho rằng trước tiên chúng ta phải có tín tâm

kiên cố không dao động; tiếp theo cần nhận thức

rằng Đức Thế Tôn thuyết pháp luôn phù hợp trình

độ thính chúng, kinh điển Tịnh độ là Như Lai nói

cho chúng sanh thời mạt pháp, không nên dùng

những kinh điển khác của Ngài để phê bình kinh

điển Tịnh độ.
Tóm lại, chỉ cần chúng sanh khắc cốt ghi tâm

rằng: Thân ta là phàm phu tội ác không có cơ hội

giải thoát, chỉ nương vào nguyện lực của Đức Phật

A-di-đà mới có thể được vãng sanh. Giữ được tín

tâm không dao động thì đây chính là tiến trình để

chúng sanh tu hành tiến vào Tịnh độ của Đức Phật

A-di-đà.
      3.1.3. Tâm hồi hướng phát nguyện
Hồi hướng phát nguyện là một điểm rất đặc

sắc của Phật giáo; hồi là hồi chuyển, hướng là thú

hướng. Bất cứ ai

* Trang 322 *

thuộc tín đồ Phật giáo, khi tạo tác điều gì hữu ích

cho Phật pháp đều nên hồi hướng phát nguyện, tức

là hồi chuyển công đức mà ta đã tu hành được,

hướng đến kỳ vọng vào bản thân. Trong tông Tịnh

Độ có hai loại hồi hướng:
Một là vãng tướng hồi hướng, tức là đem công

đức mà ta đã tạo tác chuyển tặng cho tất cả chúng

sanh, hi vọng tất cả cùng đồng được vãng sanh về

quốc độ của Đức Phật A-di-đà.
Hai là hoàn tướng hồi hướng, là sau khi vãng

sanh về Tịnh độ, thành tựu tất cả công đức, vị Bồ-

tát này sẵn lòng quay lại thế giới giới Ta-bà để giáo

hóa chúng sanh, giúp họ quay về Tịnh độ.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng thiện hạnh của

vãng tướng hồi hướng có hai phương diện:
Một là thiện hạnh mà bản thân người đó đã tu

tập được, bao quát tất cả công đức thiện hạnh đã

được tạo tác từ quá khứ, hiện tại và tất cả công đức

thiện hạnh đã được tạo tác từ thân, khẩu, ý của họ.

Thiện hạnh thế tục tức là giới phước và hạnh phước.

Giới phước là giữ đủ các giới đã thọ, không phạm

oai nghi. Hạnh phước là phát tâm bồ-đề, tin nhân

quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người tu

tập.
Một phương diện khác của vãng tướng hồi

hướng là tùy hỉ thiện hạnh. Tùy hỉ hàm nghĩa trên

hai mặt: Một là thấy người khác có điều vui, ta cũng

tùy hỉ với niềm vui của người. Hai là vui theo việc

xả thí trong mọi hoàn cảnh. Ví dụ cũng là việc bố thí, nếu người giàu có thí xả tiền của, vải vóc; thì kẻ nghèo khó bố thí ngụm nước, bó rau… Tất cả đều

xuất phát từ sự vui vẻ trong nội tâm.

* Trang 323 *

Phát nguyện là chỉ cho việc chúng sanh nên phát

khởi thệ nguyện vãng sanh Tịnh độ. Trong tín

ngưỡng Tịnh độ, sự phát nguyện có vị trí rất quan

trọng, trong bộ kinh A-di-đà, Đức Phật trước sau ba

lần khuyên chúng sanh nên phát nguyện.
Lần thứ nhất là sau khi mô tả sự trang nghiêm

trên thế giới Tịnh độ Tây phương, Đức Thế Tôn

khuyên: “Chúng sanh nghe như vậy, cần nên phát

nguyện, nguyện sanh về nước kia”[1].
Lần thứ hai, khi khai thị: “Nghe nói về chấp trì

danh hiệu Đức Phật A-di-đà”, Thế Tôn nói: “Chúng

sanh nghe lời này, phải nên phát nguyện sanh về

nước kia”.
Lần thứ ba, khi khai thị chúng sanh nên phát

nguyện vãng sanh, Ngài nói:
“Nếu có niềm tin, phải nên phát nguyện sanh về

nước kia”[2].
Vì vậy, Đại sư Thiện Đạo nói: “Tâm thâm tín

này cứng chắc như kim cang, một dạ nhất tâm, một

lòng chính trực, không bị những kiến giải, những

môn học khác, hay những người tu theo hạnh khác… làm lay động hay phá hoại được”[3].
Tóm lại, tâm chí thành mà Đại sư Thiện Đạo nói đến chính là tâm chân thật, là tâm mong mỏi được vãng sanh không chút giả dối; tâm tin tưởng sâu sắc

là tâm tin tưởng trọn vẹn vào nguyện lực của Đức

Phật; tâm hồi hướng phát

 

[1] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 347.

[2] Sđd., tr. 348.

[3] Quán kinh sớ, quyển 4; Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 272.

 

* Trang 324 *

nguyện là tâm hồi hướng tất cả những điều đã tu tập

được, để cầu nguyện vãng sanh. Ba tâm này gọi

chung la tam tâm, tức là đem tâm đặt vào nơi ba

việc: Sở cầu Tịnh độ, sở quy Đức Phật A-di-đà và

sở hành niệm Phật. Trọng điểm của ba tâm là an

tâm, do đó, Đại sư Thiện Đạo nói: “Ba tâm đầy đủ

thì hạnh nào cũng được thành tựu, nếu người có đủ

ba tâm này mà không được vãng sanh là chuyện

không thể xảy ra”[1].
      3.2. Thuyết xưng danh
Đại sư Thiện Đạo cho rằng chúng sanh là phàm phu, không thể dựa vào tự lực để đến được thế giới Báo độ cao diệu của Đức Phật A-di-đà, chỉ nhờ vào

nguyện lực của Đức Phật mới có thể vào, và ngài cổ xúy rằng xưng danh chính là nguyện lực vĩ đại nhất. “Nam mô A-di-đà Phật” giống như chiếc cầu nối,

xưa nay giữa chúng sanh và nguyện lực của Đức

Phật bị ngăn cách, nhờ vào sáu chữ danh hiệu, hai

bên được nối liền thông suốt với nhau.
Sau đây, chúng ta sẽ phân tích cụ thể đôi chút

về tư tưởng xưng danh của Đại sư Thiện Đạo.
Trước hết, Đại sư Thiện Đạo thông qua xác

định tông chỉ của Quán kinh, từ đó ngài đặt ra vị trí

của xưng danh niệm Phật. Các vị Tịnh Ảnh Huệ

Viễn và Cát Tạng cho rằng trọn bộ Quán kinh là nói

về quán Phật tam-muội, Đại sư Thiện Đạo thì cho

rằng Quán kinh là nói về niệm Phật tam-muội, trong

đó mười ba đề mục quán phía trước là quán Phật

tam-muội, là do Vi-đề-hi thỉnh Đức Thế Tôn nói cho hạng lợi căn; ba đề mục quán tiếp sau là pháp môn Thế Tôn tự thuyết để cứu độ chúng sanh. Do mục

đích của Quán

 

[1] Sđd., tr. 273.

 

* Trang 325 *

kinh là Đức Phật tuyên nói cho chúng sanh thời mạt

pháp, vì vậy, quán Phật tam-muội chính là Đức

Phật kiến lập một loại giả thuyết về niệm Phật. Khi

Đức Thế Tôn truyền trao Quán kinh cho tôn giả A

-nan, Ngài chưa phó chúc quán Phật tam-muội, mà

dặn dò rằng: “Ông nên ghi nhớ kỹ lời này, vâng giữ

lời này cũng chính là thọ trì danh hiệu của Đức Phật Vô Lượng Thọ”[1]. Căn cứ theo đoạn văn kinh này, Đại sư Thiện Đạo cho rằng quán Phật tam-muội là

thuyết phế, niệm Phật tam-muội là thuyết lập; vừa

phế vừa lập, đó chính là tông chỉ niệm Phật của

Quán kinh.
Kế đến, tư tưởng xưng danh của Đại sư Thiện

Đạo còn được thể hiện qua cách ngài giải thích vấn

đề mười niệm trước khi lâm chung. Văn Hạ phẩm

hạ sanh trong Quán kinh có đoạn: “Người này bị

khổ bức bách, không rảnh để niệm Phật, thiện hữu

bảo: Nếu anh không thể niệm Phật được, thì nên

xưng danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật. Chí tâm xưng

niệm âm thanh không dứt, đủ mười niệm xưng

Nam mô A-di-đà Phật, do xưng danh hiệu Phật, nên

trong mỗi một niệm tiêu trừ được tám mươi ức kiếp

tội sanh tử. Trong một niệm cũng được vãng sanh

về nước An Lạc”[2]. Đại sư Thiện Đạo cho rằng

lâm chung thập niệm chính là xưng mười câu Phật.

Trong tác phẩm Vãng sanh lễ tán, ngài cũng có

nói: “Nếu Tôi thành Phật, chúng sanh ở mười

phương xưng danh hiệu của Tôi, dù chỉ mười tiếng

mà nếu họ không được vãng sanh thì Tôi không

thành Chánh giác”[3]. Trong Quán kinh sớ, khi giải

thích văn kinh “đủ mười niệm”,

 

[1] Kinh Quán Vô Lượng Thọ; Đại chánh tạng,

quyển 12, tr. 346.

[2] Đại chánh tạng, quyển 12, tr. 346.

[3] Đại chánh tạng, quyển 47, tr. 448.

 

* Trang 326 *

Đại sư Thiện Đạo lại nói: “Trong mười tiếng xưng

danh hiệu Đức Phật, có đầy đủ thập nguyện, thập

hạnh”[1]. Có thể thấy, Đại sư Thiện Đạo lấy việc

xưng danh để giải thích về mười niệm.
Lại nữa, Đại sư Thiện Đạo còn thông qua quá[

trình phân biệt việc tu chánh hạnh hay tạp hạnh của[

chúng sanh để xác lập vị trí của việc xưng danh niệm Phật. Đại sư Thiện Đạo cho rằng tất cả hành vi của chúng sanh, một loại là ‘chánh hạnh’, là chuyên y cứ vào kinh điển Tịnh độ để tu hành; loại thứ hai, ngoài những hạnh vừa nêu trên thì đều là ‘tạp hạnh’. Đại sư Thiện Đạo y cứ theo Ngũ niệm môn của Đàm Loan, đem chánh hạnh phân thành năm loại:
1. Chánh hạnh đọc tụng: Nhất tâm chuyên đọc

tụng kinh điển Tịnh độ.
2. Chánh hạnh quán sát: Nhất tâm chuyên chú

quán tưởng, ức niệm về cõi nước của Đức Phật A-di

-đà.
3. Chánh hạnh lễ bái: Nhất tâm chuyên lễ bái Đức

Phật A-di-đà.
4. Chánh hạnh tán thán: Nhất tâm chuyên cúng

dường, tán thán Đức Phật A-di-đà.
5. Chánh hạnh xưng danh: Nhất tâm chuyên dùng

miệng xưng danh Đức Phật A-di-đà.
Trong năm loại chánh hạnh, Đại sư Thiện Đạo

lại đem chánh hạnh xưng danh làm chánh định

nghiệp. Ngài cho rằng xưng danh là bản nguyện của

Đức Phật, hơn nữa mọi người đều có thể tu hành, vì

vậy chúng ta nên bỏ tạp hạnh,

 

[1] Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 250.

 

* Trang 327 *

tu chánh định nghiệp. Đại sư Thiện Đạo nói: “

Chúng sanh chướng trọng, cảnh tế, tâm thô, thức tâm

loạn động, tu tập quán niệm rất khó thành tựu, vì vậy Đức Thế Tôn mới thương xót khuyên nên chuyên

xưng danh hiệu”[1].
Đoạn trước đã đề cập đến kinh điển Tịnh độ cho rằng chúng sanh đang trong thời đại mạt pháp, căn cơ hạ liệt, có hiện hữu thì cũng chỉ là một sự tồn tại rất

hữu hạn, còn sự tồn tại của Đức Phật A-di-đà là vô

hạn. Danh hiệu của Đức Phật là nhịp cầu nối giữa

hai bên, cung cấp cho chúng sanh khả năng vãng

sanh về Tịnh độ. Vì sao danh hiệu lại có tác dụng

lớn lao như thế? Đại sư Thiện Đạo cho rằng điều

này nhất định phải lý giải dựa trên lòng từ bi của

Đức Phật. Phật thương xót chúng sanh đau khổ, nên

Ngài đem công đức của chính mình kết tinh thành

danh hiệu ‘A-di-đà Phật’. Đức Phật hoàn toàn buông

bỏ tự kỷ, danh hiệu chính là hình thức tồn tại của

Ngài. Như vậy, trong danh hiệu đã bao hàm toàn bộ

công năng của Đức Phật, trong đó tập trung thể hiện

nguyện lực của Ngài. Tất cả hạnh, tất cả nguyện,

toàn thể vũ trụ đều bao hàm trong câu ‘A-di-đà Phật’

. Vì vậy, Đại sư Thiện Đạo nói: “Trên thì suốt một

đời, dưới thì dù một câu hay mười câu, nhờ nguyện

lực của Đức Phật nên rất dễ được vãng sanh”[2]. Sự

tồn tại của Đức Phật chỉ có hóa thành danh hiệu mới

dễ dàng cứu vớt tất cả chúng sanh, và chúng sanh

cũng chỉ dựa vào danh hiệu của Đức Phật mới có

thể đến được cảnh giới của Ngài.

 

[1] Pháp sự tán, quyển hạ; Đại chánh tạng, quyển 47, tr. 439.

[2] Vãng sanh lễ tán; Đại chánh tạng, quyển 47, tr.

439.

 

* Trang 328 *

Đại sư Thiện Đạo còn trình bày và phân tích tác

dụng cụ thể khi chúng sanh niệm Phật, ngài nêu lên

ba tác dụng:
1. Tác dụng thân duyên, tức là: “Chúng sanh khởi hạnh, miệng thường xưng danh hiệu Phật, Đức Phật liền nghe; thân thường lễ Phật, Đức Phật liền thấy;

tâm thường niệm Phật, Đức Phật liền biết. Chúng

sanh nhớ nghĩ đến Phật, Phật cũng nhớ nghĩ đến

chúng sanh, hai bên không hề xa cách nhau, cho nên

gọi là thân duyên”[1]. Niệm Phật là đang ở trong

bản nguyện của Phật, vì vậy người niệm Phật cùng

với Đức Phật kết thành nhân duyên sâu sắc.
2. Tác dụng cận duyên: “Chúng sanh nguyện

muốn thấy Phật, Đức Phật liền ứng hiện, nên gọi là

cận duyên”. Chúng sanh niệm Phật, nếu như phát

nguyện muốn thấy Phật, Phật sẽ liền xuất hiện trước

mắt.
3. Tác dụng tăng thượng duyên: “Chúng sanh

 

 

 

 

 

 

xưng niệm danh hiệu, liền trừ được nghiệp tội trong

nhiều kiếp. Khi lâm chung, được Đức Phật cùng

thánh chúng đến nghinh tiếp, tà nghiệp không thể

ngăn trở được, cho nên gọi là tăng thượng duyên”.

Do chúng sanh chuyên tâm xưng danh hiệu Phật,

liền tiêu trừ được những lỗi lầm trước đó, loại bỏ

những thứ tạp tưởng trong ý thức, tiến vào một

trạng thái thuần túy thanh tịnh không thiện, không ác. Trạng thái này siêu vượt tất cả tâm thiện ác, những

sự tạo tác hữu vi cũng ngưng nghỉ, chúng sanh nhờ

đó mà đạt được giải thoát. Vì vậy nói: Niệm Phật có

tác dụng làm tăng thượng duyên giúp chúng sanh

giải thoát.
Đại sư Thiện Đạo cho rằng, bên cạnh việc kiên

trì xưng

 

[1] Quán kinh sớ, quyển 3; Đại chánh tạng, quyển 37, tr. 268.

 

* Trang 329 *

danh, còn phải có phương thức tu hành chính xác.

Đại sư Thiện Đạo nêu lên bốn phương thức:
1. Cung kính tu: Khi chúng sanh lễ bái Đức Phật

A-di-đà, nên có thái độ ân cần cung kính.
2. Vô dư tu: Tức là khi ba nghiệp thân, khẩu, ý

khởi lên, hành vi của chúng ta không được xen tạp,

miệng chỉ chuyên xưng danh hiệu Đức Phật A-di-

đà, chuyên nhớ, quán tưởng, lễ bái, tán thán Đức

Phật A-di-đà và Thánh chúng ở Tịnh độ.
3. Vô gián tu: Tâm đặt vào nơi khởi hạnh không

gián đoạn, đây là pháp tu không tạo nghiệp khác,

không khởi vọng niệm phiền não. Nhưng chúng sanh là hạng phàm phu sanh tử, thường thì chánh hạnh sẽ bị gián đoạn, Đại sư Thiện Đạo cho rằng đây là việc

không thể nào tránh khỏi, chỉ nên tùy lúc sám hối là

được.
4. Trường thời tu: Từ khi phát tâm cho đến lúc

lâm chung, đều tin tưởng và hành trì liên tục, không

dừng giữa chừng.
Tóm lại, xét theo quan điểm của Đại sư Thiện Đạo,

chỉ cần chúng sanh phát khởi ba tâm, chuyên tu

chánh định nghiệp là trì danh, không xen lẫn những

hạnh khác, tu hành không gián đoạn, không lười

biếng, thì nhất định nương vào nguyện lực của Đức

Phật A-di-đà, vãng sanh về thế giới Báo độ của Ngài.
     4. Ảnh hưởng của Đại sư Thiện Đạo đối với

hậu thế và vị trí của ngài trong lịch sử
Đại sư Thiện Đạo kế thừa tư tưởng Tịnh độ của

Đàm Loan, Đạo Xước, ngài đem tư tưởng “xưng

danh niệm Phật”

* Trang 330 *

nâng lên một tầm cao mà trước đó chưa từng có,

hơn nữa chính ngài cũng nỗ lực thực hành, nêu lên

một tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Từ đó

về sau, xưng danh niệm Phật trong tông Tịnh Độ

nhanh chóng phát triển, đến độ mà “nhà nhà đều

A-di-đà Phật”. Về sau, khi Đường Vũ Tông diệt

Phật, hầu hết các tông phái đều bị ảnh hưởng và suy

vi trầm trọng không thể cứu vãn, chỉ có tông Tịnh

Độ và Thiền tông vẫn thịnh hành như cũ. Do xưng

danh niệm Phật rất đơn giản, dễ thực hành, thấm

sâu vào lòng người, nên sau này các tông phái khác

cũng đều chú ý hấp thu tư tưởng Tịnh độ, dần dần

có cùng xu hướng với tông Tịnh Độ và trở thành

tông chung của các tông phái.
Tuy Đại sư Thiện Đạo có tầm ảnh hưởng rất lớn

trong lịch sử, nhưng tính từ dạo ấy đến nay, trải qua

khoảng thời gian quá dài, nên hình ảnh Đại sư trở

nên khá mờ nhạt. Chúng ta đã vô tình xem nhẹ việc

nghiên cứu về tư tưởng xưng danh niệm Phật của

ngài, nên đánh giá chưa đúng tầm vóc của ngài

trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Chúng tôi cho

rằng muốn lý giải vị trí của Đại sư Thiện Đạo, không

chỉ đơn thuần dựa theo tư tưởng lý luận để nhận định. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, nhìn chung đã trải qua hai giai đoạn phát triển. Một là \

Phật giáo trước thời đại nhà Đường, với đặc trưng

dùng hình thức lý luận; hai là Phật giáo sau thời đại

nha Đường, với hình thức đặc trưng tín ngưỡng. Có

thể gọi Phật giáo giai đoạn trước là Phật giáo kinh điển

, giai đoạn sau là Phật giáo dân gian. Cột mốc quan

trọng để Đại sư Thiện Đạo sáng lập tông Tịnh Độ là

Phật giáo kinh điển chuyển hướng sang Phật giáo

dân gian.

* Trang 331 *

Tông Tịnh Độ xuất hiện, đã giải quyết được hai vấn

đề mà Phật giáo phát triển phải đối mặt:
Một là, Phật giáo phát triển đã tinh vi hoá,

chuyên môn hóa lý luận Phật giáo lên rất cao, làm

cho người chưa trải qua quá trình huấn luyện

chuyên môn thì không thể nắm bắt được. Như vậy,

Phật giáo dần biến thành tôn giáo của hình thức học

viện, xa rời nhu cầu cần thiết của đại đa số quần

chúng và có nguy cơ sẽ bị suy vi.
Hai là, các loại chú sớ, trứ tác của các vị cao

tăng đại đức trong Phật giáo phần nhiều đều muốn

luận chứng tín ngưỡng từ trên lý luận, trong đó

tiềm tàng sự phá vỡ tín ngưỡng, có nguy cơ tách rời

sự

tu hành thực tiễn.
Đại sư Thiện Đạo nêu lên pháp môn xưng danh

niệm Phật đơn giản, dễ hành, cũng phù hợp với chủ

trương đơn giản, dễ hành của Thiền tông, đả phá sự

độc quyền của tầng lớp quý tộc đối với Phật giáo.

Ngài đã giúp một tín đồ tầm thường cũng trở thành

chủ thể của tín ngưỡng Phật giáo. Sau này, Phật giáo Trung Quốc tiến đến một giai đoạn phát triển mới, Phật giáo thâm nhập vào mọi tầng lớp, mọi ngõ

ngách trong xã hội, thật sự cắm rễ trên lãnh thổ

Trung Quốc. Có thể nói, Đại sư Thiện Đạo là một

nhân vật quan trọng đánh dấu một bước ngoặt trên

lộ trình phát triển của lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Cần phải xác định đúng vị trí của Đại sư Thiện Đạo bằng cách chú trọng tư tưởng của ngài. Ngài là một

vị Đại sư Phật học mà chúng ta cần phải nỗ lực

nghiên cứu.

* Trang 332 *

Viết một bình luận